Saturday, January 5, 2013

Hàng trăm học sinh bất ngờ bị... lấy máu - HƯƠNG NHÀN

Thứ bảy, 05/01/2013 08:46

Hàng trăm em học sinh THCS của hai xã Châu Hồng và Châu Tiến, huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) được nhà trường thực hiện theo “lệnh” của chủ tịch UBND xã và trạm y tế cho một tổ chức lấy máu, đã làm xôn xao dư luận người dân ở miền núi hẻo lánh suốt thời gian qua.

“RÚT” MÁU ĐỘT NGỘT

Vượt đường dài dưới trời mưa phùn và cái rét cắt da cắt thịt, chúng tôi tìm về xã Châu Tiến và Châu Hồng, cách xa trung tâm huyện lỵ của thị trấn Quỳ Hợp hơn 30km để được mắt thấy tai nghe về việc con em họ bị một tổ chức không rõ ở đâu lấy máu cách đây hơn 10 ngày (20-12-2012).

Bà Lê Thị Loan (thường trú xóm 6, xã Châu Tiến) có con là Lê Thị Khánh Linh, học sinh lớp 6B Trường PTDT bán trú, THCS Hồng Tiến bức xúc: “Con tôi kể, cô giáo bắt các em phải cho “bác sĩ” dùng xi lanh lấy máu, nếu em nào không cho phải nộp 50 ngàn đồng và hạ loại hạnh kiểm”. Cùng chung nỗi khổ với bà Loan, bà Trương Thị Hà (xóm 3, xã Châu Tiến) có con là Hoàng Thị Ngọc, lớp 9C và Hoàng Văn Hiếu, lớp 6 cùng trường cho biết: “Ban đầu các bác sĩ dùng kim rút máu các em đều cân trọng lượng, em nào khỏe thì rút hai cánh tay, em nào yếu thì rút một cánh tay. Chúng không biết lấy bao nhiêu, nhưng có em đến con số 4, có em đến con số 5 thì bác sĩ dừng rút”. Khổ hơn là bà Quang Thị Hồng (xóm 3, Châu Tiến): “Con tôi là cháu Quang Bách, lớp 6B, cho biết nhà trường tập trung các em lại và yêu cầu tất cả phải cho bác sĩ lấy máu mà không hề giải thích lý do. Nhiều em bị ngất ngay khi lấy máu được chuyển đến trạm y tế xã cấp cứu, lúc đó những người lấy máu bồi dưỡng cho một hộp sữa tươi”. Em Lê Thị Mỹ Hoa (học sinh lớp 6B) cho biết: “Cháu bị họ rút máu cả hai tay, lúc đầu mỗi kim dùng cho bốn bạn, nhưng sau đó hết kim nên cả nhóm hàng chục em đều dùng chung một kim. Họ lấy máu sau đó bơm vào cái bao như bàn tay, rồi nhiều bàn tay góp lại đầy xô, đầy xô này, họ mang lên xe cất, tiếp tục lấy xô khác”. Đặc biệt theo các cháu thì chỉ có một cô giáo chống lại lệnh của nhà trường, cương quyết không cho họ lấy máu học sinh và chỉ duy nhất lớp 9 đó không bị lấy máu. Ngoài ra còn có năm em khác chạy trốn không cho lấy máu. Khi chúng tôi có mặt tại bản, nhiều người dân căm phẫn lên án việc bác sĩ Đôn, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Châu Hồng, còn đe: “Nếu con anh chết, tôi sẽ đền cho 10 triệu đồng”.



Học sinh bị lấy máu bực tức - hoang mang

CHÍNH QUYỀN NÓI GÌ?
Sau hàng trăm phản ánh, kêu cứu của các em và phụ huynh, chúng tôi tìm đến anh Vi Văn Hà, Phó trưởng công an xã Châu Tiến, nơi có gần 100 con em trên địa bàn xã đang học, ở nội trú tại trường bị lấy máu. Theo anh Hà: “Sau sự việc lấy máu của các em, nhiều phụ huynh không dám cho con tới trường, chính quyền UBND xã và công an huyện đã khuyến khích , vận động, đến nay không còn em nào bỏ học, nhưng nhân dân vẫn vô cùng bực tức”. Tìm về UBND xã Châu Hồng, thật đáng tiếc, ông Kim Văn Hường, Chủ tịch UBND xã, lại không có mặt tại nhiệm sở. Qua điện thoại, chúng tôi hỏi việc lấy máu của các em học sinh thì ông cho biết: “Lấy hợp pháp theo chỉ đạo của UBND tỉnh Nghệ An và UBND huyện Quỳ Hợp theo đề án kiểm tra bệnh tại quyết định của Trường Đại học Y khoa Vinh...”. Thế nhưng khi chúng tôi đề nghị cho xem số hiệu quyết định, đề án để ghi hình và làm sáng tỏ cho nhân dân thì ông chủ tịch lại nói: “Đề án là theo quyết định, họ cầm đến, chúng tôi ký chứ chúng tôi không có bất cứ một thứ giấy tờ gì lưu lại”. Trớ trêu hơn, ông lại giới thiệu chúng tôi tới Trường PTDT bán trú, THCS Hồng Tiến để gặp thầy Hiệu trưởng Lữ Xuân Khầm. Thầy Khầm cũng “sao” lại y chang lời ông chủ tịch UBND xã mà không có bất cứ một văn bản, công văn nào của cấp trên tổ chức lấy máu các em xét nghiệm. Tuy nhiên, thầy Khầm khẳng định người trực tiếp lấy máu các em là bác sĩ tên Hiệp, trưởng đoàn, cùng với chín người khác của Trường Đại học Y khoa Vinh. Số học sinh lấy máu tại trường là 213 em, việc có một lớp trốn được cùng năm em khác thì thầy Khầm phủ nhận thông tin này. Ông còn cho biết trước đó đoàn này đến đặt vấn đề trước với nhà trường, họ cũng hứa sẽ mang kết quả lại cho nhà trường nhưng đến nay vẫn không thấy.

Sau khi nhận những thông tin trên, chúng tôi tìm đến bác sĩ Đôn, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Châu Hồng, người trực tiếp dẫn đoàn đến trường lấy máu các em nhưng ông không có mặt và cũng không nghe điện thoại. Quay lại ông Hoàng Quang Tiệp, Chủ tịch UBND xã Châu Tiến, để tìm hiểu thêm thì ông cũng không có mặt tại văn phòng ủy ban. Gọi điện thoại đề nghị xin gặp thì ông Tiệp nói: “Tôi đang bận việc gia đình” rồi cúp máy luôn... Rất mong cơ quan có thẩm quyền , chức năng sớm làm rõ vụ việc này để dân làng và học sinh yên tâm.

HƯƠNG NHÀN 


MGP

Nhu Cầu Dân Chủ Chân Chính Tại Việt Nam - Lưu Nguyễn Đạt, TS, LS

December 29, 20120 Bình Luận
KHÁI NIỆM DÂN CHỦ  
Căn cứ vào các từ ngữ Democracy (Anh), Démocratie (Pháp) và Hy Lạp δημοκρατία (demokratia), Dân Chủ có nghĩa là “dân” (δημος demos) + (κρατειν kratein) “cai trị”.  Vậy Dân Chủ là một hình thức chấp chính mà người dân có chủ quyền trong việc cai trị đất nước, một cách trực tiếp[1] hoặc gián tiếp, qua hình thức ủy nhiệm,[2] bằng những cuộc bầu cử tự do, sáng suốt của người dân.  
Theo hình thức chấp chính này, toàn dân sử dụng quyền lực chính trị và quyền lợi xã hội để bầu cử và kiểm soát chính phủ.  Do đó, chính phủ dân chủ có khuynh hướng và bổn phận thi hành việc nước theo ý dân, phục vụ qua sự ủy thác của dân: nhà cầm quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp được dân chúng chọn để ủy thác quyền chấp chính, để gián tiếp đôn đốc, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của người dân. 
Thông thường thì một xã hội dân chủ chọn lựa một chính phủ dân chủ.  Ngược lại một chính phủ dân chủ (được hình thành qua các cuộc bầu cử) chưa chắc đã đôn đốc và tổ chức đất nước thành một xã hội dân chủ, chưa chắc đã thực sự thực hiện những chương trình, những biện pháp dân chủ, thuận lợi cho người dân, thực sự tôn trọng quyền lực và quyền lợi của người dân.  Bầu bán, ủy nhiệm chủ quyền là hình thức, là thể cách chọn lựa một chính phủ dân chủ.  Nhưng bảo trọng quyền lực và quyền lợi của người dân mới là nội dung cốt tủy, là cứu cánh và mục đích chính yếu của nền dân chủ.
Về hình thức, dân chủ khác với các chế độ quân chủ,[3] quý tộc thống trị[4] và chế độ quyền phiệt phát xít[5] vì quyền thế trực tiếp trong tay vua chúa, quân đội, nhóm đảng thống trị.  Nhưng về nội dung cốt tủy, dân chủ chân chính cũng khác với các tập đoàn chuyên chính,[6] độc đoán, tài phiệt,[7] khác với chế độ cộng sản[8] theo xã hội chủ nghĩa chuyên chính,[9] vì những chế độ dân chủ giả mạo này, tuy về hình thức có mang danh hiệu “dân chủ”, nhưng khi ứng dụng những thành tố và mục đích căn bản dân chủ (bảo trọng quyền lực và quyền lợi của người dân) lại có tính cách “phản dân chủ”, vì dùng bạo lực chuyên chính để đàn áp dân chúng, đi ngược lại ý dân và quyền lợi của họ. 
Trong những chế độ dân chủ chuyên chính,[10] dân chủ giả mạo, người dân, quá nhỏ bé, xa lạ với cái hư danh “làm chủ” của họ, đã hoàn toàn bị tước đoạt chủ quyền, tước đoạt quyền lực, tước đoạt quyền lợi.   

VIỆT NAM VÀ KHÁI NIỆM DÂN CHỦ
Theo định nghĩa trên, chúng ta có thể xác nhận rằng dưới Thời Pháp Thuộc,Việt Nam không hề có dân chủ, khi đất nước đã bị tước đoạt, xâm chiếm, dưới hình thức Thuộc Địa Pháp[11] tại Miền Nam và Chế độ Bảo Hộ[12] tại Miền Bắc và Miền Trung.  Nhà Vua và triều đình đã mất hết chủ quyền quốc gia trước áp lực của lực lượng quân phiệt, hành chính viễn chinh Đế Quốc Pháp, dùng để khai thác Việt Nam, dưới hình thức thị trường cung cấp nhu yều phẩm (lúa gạo, cao-xu, quặng, mỏ) và nguồn nhân lực rẻ mạt như nhân công thợ thuyền không chuyên môn.  Đương nhiên dân Việt Nam lúc đó không thể có quyền lợi, quyền lực gì đáng kể trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, xã hội.  Với tư cách người dân bị thống trị, họ phải chấp nhận thân phận tiêu cực và bổn phận cưỡng ép, hoàn toàn lệ thuộc vào chính sách cai trị độc đoán và nhu cầu lẫn hạch sách của Đế Quốc Pháp lúc bấy giờ.  Dân chủ từ hình thức tới nội dung đã vắng mặt trên lãnh thổ Việt Nam, trong lòng và các sinh hoạt người dân bản xứ hơn 80 năm, cho tới khi Viện Cơ Mật Triều Đình Huế tuyên bố hủy bỏ (11.03.1945) Hiệp Ước Bảo Hộ năm Nhâm Tuất 1884 với Pháp, để khôi phục chủ quyền cho Việt Nam. 
Sau thời gian Cựu Hoàng Bảo Đại chính thức lập Chính Quyền Quốc Gia Việt Nam (1949-54) và sau Hiệp Định Genève (1954) chấm dứt sự hiện diện của Quân Đội Viễn Chinh Pháp[13] tại Việt Nam, trong suốt giai đoạn hai nền Cộng Hoà (1955-1975) của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, chủ quyền quốc gia thu gọn phía Nam vĩ tuyến 17, nên hình thức dân chủ cũng bị hạn hẹp theo vận mệnh đất nước.  Dưới nguy cơ nội chiến Nam-Bắc và nhất là dưới áp lực của cuộc chiến ý thức hệ Quốc-Cộng, người dân tại Miền Nam tạm thời trì hoãn thực hành quyền lợi và quyền lực của mình để thi hành nghĩa vụ công dân của một nước lâm chiến, bất ổn, bất an.  Chiến tranh cho phép nhà cầm quyền hạn chế quyền tự do dân chủ.  Trong những giai đoạn này, cơ cấu dân chủ được thực hiện, nhưng về thực chất, chỉ mang tính cách nguyên tắc và tượng trưng.  Những chính sách lập ấp chiến lược, bình định, xây dựng nông thôn, bắt lính quân dịch, nhân dân tự vệ, thiết quân luật, bế môn toả cảng dưới nhiều hình thức, đều là những ưu tiên cấp bách, có hiệu lực hạn chế quyền tự do dân chủ.
Như vậy, về mặt hiến định và pháp chế, người quốc gia đã biết tới một số quyền lợi và quyền lực căn bản, có đi bầu bán, hội họp, biểu tình, có thủ tục tố tụng, có tổ chức pháp đình phân minh.  Nhưng vì thời cuộc không cho phép, nên mức độ và phạm vi ứng dụng các nguyên tắc dân chủ không mấy vẹn toàn, nếu không muốn nói là hời hợt và phiếm diện.
Đương nhiên với chế độ chuyên chính vô sản theo xã hội chủ nghĩa, áp đặt tại Miền Bắc từ sau tháng bảy năm 1954, rồi trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ cuối tháng 4 năm 1975 tới bây giờ, Cộng Sản Việt Nam [CSVN] một mặt dùng bạo lực để trấn át mọi ý nguyện, lựa chọn, mọi quyền lợi của dân, mặt khác bao che, biệt đãi đồng chí, đảng viên của họ, thì làm sao có dân chủ thực sự, có tự do, hạnh phúc cho người dân bị phế thải, bị tước quyền?  Khẩu hiệu dân chủ chuyên chính vô sản theo xã hội chủ nghĩa trên toàn cõi lãnh thổ Việt Nam ngày hôm nay chỉ có giá trị lộng ngôn lừa bịp dân ngu, cán dốt, lừa bịp chính bản thân kẻ lừa lọc, khôn vặt.  Họ xảo quyệt bẻ cong chữ nghĩa bằng tà thuật ma giáo vụn vặt, mà không biết lúc nào chữ nghĩa sẽ phản lại họ. 

NHU CẦU DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH TẠI VIỆT NAM
Dưới chế độ cộng sản, độc tài chuyên chính, đa số người dân đã bị uốn nắn, nhồi xọ bằng những khẩu hiệu rỗng tuếch, vô nghĩa, xảo trá.  Người dân còn bị đe doạ, khủng bố, cưỡng ép, nên họ nhịn đắng nuốt cay, rồi căn cứ vào linh tính phòng thân thuộc nền “văn hoá chìm”, họ đã bịt mắt, che tai, đã lẩn trốn để bớt tai hoạ, đã hoá trang tinh thần để tự vệ, để sinh tồn. 
Chả lẽ cái đức tính khiêm nhường “chín bỏ làm mười”, cái thuật ẩn núp sử dụng cả hơn nửa thế kỷ trên mảnh Đất Bắc, gần ba mươi tám năm trên toàn cõi lãnh thổ Việt Nam, lại trở thành một “nhân cách thứ hai”, vĩnh viễn ngược lại nhân bản gốc?  Chả lẽ người dân mãi mãi dấn thân vào một cuộc mất trí nhớ tập thể, quên nói đúng, làm hay, quên những đức tính cao thượng, hùng tráng, cương trực của ông cha, của các thế hệ tiền bối?
Người dân Việt ngày hôm nay cần thức tỉnh, cần đứng thẳng dậy, tận tay dành lại quyền lợi kinh tế và quyền lực chính đáng của người công dân sáng suốt, đã quá lâu bị lấn át bởi chế độ bạo quyền chuyên chính.  Nhưng sự thật vẫn là sự thật, và hiện tượng dân chủ chân chính vẫn là một yêu sách bất diệt, bất biến, vì nó có tính cách nhân từ, tự nhiên, như một nhu yếu bẩm sinh đã có sẵn trong lòng người Việt chúng ta, từ lúc lập quốc quân bình Bách Việt, cộng sinh, cộng hưởng, từ cách thức cai trị nhân đạo Thời Lý-Trần, từ những phương thức “Phép Vua thua lệ làng”, “ý dân là ý trời”.
Bản chất thông minh, tự trọng của người dân Việt, già cũng như trẻ, quyết liệt sinh tồn theo đà cải tiến tư tưởng và kiến thức trên khắp thế giới, chắc sẽ không cho phép nhà cầm quyền cộng sản mãi mãi duy trì áp lực tăm tối, bất công của một chế độ độc tài, ngu dân, lật lọng.  Khi cơ hội tới, toàn dân sẽ giành lại tự do chọn lựa, và chắc chắn họ sẽ mạnh dạn khước từ chế độ cộng sản như trút bỏ một gánh nặng quá đáng, lỗi thời, vô giá trị. 
Nhưng, với kích thước nhỏ bé, non nớt của nước Việt Nam hậu cộng sản, đang cố gắng đầu tư vào dòng thịnh vượng toàn cầu, một hình thức dân chủ tài phiệt tập trung quyền lợi kinh tế vào thiểu số giầu có ưu đãi, vẫn không phải là cách tổ chức lý tưởng cho một xã hội cần toàn năng, cần sinh sống hài hoà.  Chỉ có chế độ dân chủ chân chính, kết sinh, cởi mở mới là giải pháp ưu việt nhằm xây dựng lại quốc gia trong thể hội nhập toàn diện, bằng cách trả lại giá trị nhân bản, quyền lợi và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.

DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH BAO GỒM:
1. một chế độ dân chủ tự do, cởi mở,[15] theo đó người dân hưởng quyền tự do cá nhân, quyền tư hữu, đồng thời tôn trọng trách nhiệm công dân, ôn hoà, thượng tôn luật pháp;
2. một quốc tịch hay “tư cách thành viên” của từng cá nhân đối với quốc gia của họ. Liên hệ “hội nhập” quốc tịch với quốc gia/nhà nước có tính cách trực tiếp giữa cá nhân và tập thể, không cần có điều kiện, “đặc ân” nào khác.
3. Sự thuận tình, hoà hợp giữa quốc dân và chính phủ, vốn là cơ quan đại nhiệm chủ quyền quốc gia, thay thế quốc dân để thi hành việc nước.
4. Ý dân được thi hành, qua các quyết định của dân, trực tiếp như trưng cầu dân ý[16] hoặc gián tiếp, qua phiếu chống hay thuận của các đại diện dân cử, do dân bầu ra.
5. Một chính sách được coi là chính thống[17] khi đó là những quyết định của chính phủ thi hành sứ mạng giao phó một cách vô tư, công bằng, trong tinh thần thượng tọn luật pháp, nhằm thực hiện quyền lợi của dân và triện vọng đật nước.
6. Dân tộc, quốc gia, nhà nước là một hiện tượng liên tục, thống nhất trong mọi quyết định trực tiếp hay gián tiếp, theo đa số.  Thiểu số đối lập một cách hài hoà, xây dựng, không đưa tới cảnh huống chia rẽ, ly khai.
7. Quốc gia phải có chủ quyền tự quyết đối nội lẫn đối ngoại, không bị nội xâm bởi đảng phiệt và cũng không chịu áp lực thống trị của ngoại bang.

MUỐN HỮU HIỆU, MỘT CHÍNH THỂ DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH PHẢI HỘI ĐỦ CÁC THÀNH TỐ SAU: 
1. THỂ CHẾ PHÁP ĐỊNH
Thể chế pháp định[18] đặt căn bản trên cam kết xã hội[19] của người dân thương tôn luật pháp, không những theo quyết định của đa số, mà còn căn cứ vào lẽ phải, trật tự và công lý, quy tụ trong Hiến Pháp, là luật tối cao trong Nước.
Thể chế pháp định dân chủ tự do gồm những quy tắc tổ chức chính quyền qua sự ủy nhiệm quyền lực bảo vệ lẽ phải, trật tự xã hội, đồng thời duy trì tự do và các quyền lợi căn bản, bất khả xâm phạm của toàn dân, như quyền sinh sống, quyền tư hữu, quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do hội họp, thờ phụng v.v.
Hệ thống pháp định phục vụ lẽ phải, trật tự và công lý phải có uy lực với toàn dân, kể cả với giới chấp chính.  Một chính phủ dân chủ chân chính, được ủy nhiệm thi hành và bảo vệ luật pháp, phải tôn trọng căn bản luật pháp, vì quyền lợi chung, chứ không nhân danh luật pháp – lợi dụng và lạm dụng luật pháp – để bảo vệ quyền lực cá nhân hoặc nhóm, đảng cầm quyền, lạm quyền.

2. CHỦ QUYỀN CAI TRỊ ĐẤT NƯỚC THUỘC TOÀN DÂN
Hiến Pháp, sau khi được soạn thảo, muốn trở thành luật tối cao trong Nước, cần được đa số toàn dân chuẩn chấp.  Việc này cho thấy chủ quyền cai trị không nằm trong tay chính phủ hoặc cá nhân, nhóm, đảng phiệt, mà thuộc toàn dân, khi họ sử dụng lá phiếu để cam kết và chấp nhận đạo luật tối cao này. 
Dù sau này người dân có uỷ nhiệm quyền hành của họ cho các giới chấp chính thay mặt họ thi hành và bảo vệ luật pháp, họ vẫn giữ quyền kiểm soát tối hậu bằng quyết định tái cử người đương nhiệm, hoặc chọn lựa người đại diện khác.  Như vậy, người dân vẫn gián tiếp giữ chủ quyền cai trị đất nước qua hình thức dân chủ ủy nhiệm.

3. TỰ DO ĐẦU PHIẾU
Sự chính thống của nhà cầm quyền tùy thuộc vào quyết định sáng suốt, minh bạch của người dân sử dụng lá phiếu.  Quyền đầu phiếu phải được thi hành tự do mới có gia trị. Mọi hình thức cưỡng ép đầu phiếu, bầu cử gian lận đều phải coi là bất hợp pháp, tức vô hiệu. 
Đồng thời, quyền đầu phiếu, có tính cách hiến định, bất khả xâm phạm, bất khả tước đoạt, nên phải được mở rộng cho mọi công dân thành niên, không kỳ thị, không phân biệt nam, nữ, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.  Mọi vi phạm, hạn hẹp, chế ngự quyền đầu phiếu của dân chúng sẽ giảm bớt tình trạng hợp lệ và sự chính thống của nhà cầm quyền. 

4. TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN DÂN CHỦ CHÂN CHÍNH
Chính quyền dân chủ chân chính về mặt cơ cấu cần được chia thành ba ngành, Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp, để (a) phân quyền, phân nhiệm rõ rệt, tránh nạn chuyên chính, độc đoán; tuần tự (b) kiềm chế mọi dự tính lạm quyền, vi hiến của các ngành; đồng thời (c) kiểm nhận và bổ sung quyền hành lẫn nhau, căn cứ vào quyền lợi chung, vào lẽ phải, trật tự và công lý như sau:
(a) Nhà Lập Pháp có nhiệm vụ làm luật theo quyền lợi và nhu cầu của cử tri, của người dân ủy nhiệm quyền hành này qua lá phiếu.  Nếu không thi hành đúng sứ mạng giao phó, người đại diện dân cử có thể bị giải nhiệm (thất cử) trong cuộc bầu cử kế tiếp.
Ý nghĩa dân chủ chân chính trong ngành “lập pháp” không hẳn tùy thuộc vào môi trường lẫn kỹ thuật làm luật, mà thực sự có liên hệ mật thiết với trách nhiệm của người làm luật theo đúng ý muốn cuả dân.  
(b) Một hệ thống tư pháp độc lập sẽ duy trì được nền tảng dân chủ tự do, công minh, hữu hiệu, khi thẩm phán được dân bầu, song song với thành phần Tối Cao Pháp Viện, có nhiệm kỳ vĩnh viễn, bất khả truất, do nguyên thủ quốc gia/Tổng Thống/ đề cử và được Nhà Lập Pháp chuẩn chấp.
Thẩm phán điạ hạt có thẩm quyền và bổn phận xét xử theo luật lệ hiện hành. Tối Cao Pháp Viện xét xử chung thẩm những bản án phúc thẩm và những tranh chấp quyền lực giữa các ngành chấp chính, căn cứ vào điều lệ căn bản của Hiến Pháp Quốc Gia, mà không bị áp lực của hai ngành Lập Pháp vá Hành Pháp.
(c) Quyền Hành Pháp trong tay nguyên thủ quốc gia/Tổng Thống/nhằm thi hành luật lệ trong nước để duy tri trật tự công cộng, bảo toàn đời sống của người dân, phát triển đất nước theo đà thịnh vượng nhân loại, nâng cao văn hoá, văn minh dân tộc. 
Quyền hành cai tri trị đất nước (được dân ủy nhiệm qua lá phiếu) rất rộng rãi.  Nhưng quyền Hành Pháp vẫn có thể bị kiềm chế, kiểm soát bởi thế lực đối tác của hai ngành Lập Pháp vá Tư Pháp, đồng thời bởi “đệ tứ quyền” bởi các cơ quan ngôn luận, hành động nhân danh hoặc vì quyền lợi của quần chúng.
Như vậy, chính phủ của nền dân chủ chân chính phải thượng tôn và ứng dụng luật pháp một cách quang minh, công bằng và thích đáng, để bảo vệ quyền lợi của toàn dân.  Họ là những công bộc, những ủy nhiệm viên đáng quý trọng của dân, chứ không phải là những bạo chủ, bạo chúa đáng ghê sợ.

5. TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
Việt Nam từ khi lập quốc tới thời hiện đại đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm, lên non, xuống biển, khai khẩn sông ngòi, mở rộng đất nước.  Căn cứ vào địa lý nhân văn và nhu cầu địa phương, lãnh thổ Việt Nam có thể chia thành nhiều Đặc Khu Hành Chính, Phát Triển và Chiến Thuật:  
(a) được địa phương hoá, song song với kiến thức, khả năng chuyên môn và kinh nghiệm công vụ, nhất là tại cấp lãnh đạo chỉ huy, để hội đủ điều kiện dung hoà nhu cầu thống nhất phát triển quốc gia và quyền lợi khu vực địa phương.  Các cán sự, chuyên viên thừa hành có thể ở nơi khác tới, nhưng phải trú ngụ thường xuyên tại địa hạt công vụ.
(b) Các Đặc Khu có quyền quyết định, hoặc ứng dụng theo nhu cầu và khả năng của từng địa hạt liên quan tới giáo dục cấp tiểu học và trung học, y tế, xã hội, kinh tế và mậu dịch quản hạt. 
(c) Về mặt an ninh trật tự địa phương, các Đặc Khu phải phối hợp với Chính Phủ Trung Ương (CPTU) để tổ chức cảnh sát và an ninh quản hạt, bảo an đoàn và quân dịch.
(d) Dân chúng địa phương, ngoài quyền ứng cử và nhiệm vụ bầu các chức vụ công quyền địa hạt, còn trực tiếp đầu phiếu chọn lưa nguyên thủ quốc gia/Tổng Thống, Phó Tổng Thống/ ngày bầu cử trên toàn quốc, dưới sự đôn đốc của chính quyền địa phương.

6. BẢO TRỌNG QUYỀN LỢI VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN
Bản Hiến Pháp Quốc Gia phải hoàn tất căn bản bảo trọng quyền lợi toàn dân theo hình thể dân chủ tự do.  Những nguyên tắc căn bản bảo trọng quyền lợi bất khả xâm phạm của người dân gồm có: quyền bình đẳng trước luật pháp (trong việc thi hành tuân theo thủ tục hợp lệ, hợp hiến); được bảo vệ nhân phẩm, giáo dục, an ninh và an sinh xã hội; được bảo đảm các tự do chính trị, kinh tế, nghề nghiệp, tín ngưỡng, hội họp, sáng tạo; được bảo đảm quyền lợi công dân và các tự do cá nhân chính đáng trước áp lực của chính phủ và các đoàn thể quyền phiệt, tài phiệt.
Nhà hữu trách phải căn cứ vào lẽ phải, trật tự và công lý tối cao để bảo trọng quyền lợi và nhân phẩm của toàn dân trong mọi hình thức và chương trình ứng dụng pháp luật, kể cả khi thi hành các thủ tục hành chính, tư pháp, chính trị, xã hội, giáo dục, tư tưởng và nghề nghiệp.

7. QUYỀN LÃNH HỘI, HIỂU BIẾT
Một chính thể dân chủ thực sự luôn luôn minh bạch, sinh hoạt công khai, không giấu giếm.  Dù nhiều quyết định Chính phủ không phải thông báo ngay, vì an ninh quốc phòng, bí mật quốc sự (chiến tranh, ngoại giao), nhưng bất cứ lúc nào, người dân vẫn có quyền tìm hiểu, chất vấn, nhất là khi quyết định của Chính phủ liên quan tới thủ tục tài chính, xử dụng công quỹ; quốc nạn tham nhũng, lạm dụng quyền hành và vi phạm luật pháp.
Quyền hạn lãnh hội, hiểu biết của người dân đặt căn bản trên nguyên tắc tự do thông tin và trách nhiệm quản trị minh bạch,[20] ứng dụng cho chính quyền và các tổ chức công cũng như tư, khi phục vụ quần chúng.

8. TỰ DO NGÔN LUẬN, THÔNG TIN, BÁO CHÍ
Chính Phủ có thể dùng các phương tiện thông tin, đài phát thanh, đài truyền hình công cộng để thông báo và bạch hoá một số tin tức mà dân chúng muốn biết.  Ngoài ra các cơ quan ngôn luận tư nhân (báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình, các mạng lưới) cũng có thể tiếp tay với dân chúng, với các hiệp hội, để tìm hiểu, chất vấn những quyết định của Chính Phủ, những sinh hoạt của giới chức có thẩm quyền, kể cả những sinh hoạt của các tổ chức, hội đoàn cung cấp dịch vụ công cộng.  
Như vậy, tự do ngôn luận có tính cách công khai, minh bạch đối với những nhân vận thi hành công vụ, có thế vị công cộng, có trách nhiệm với dân chúng. 
Tuy nhiên tự do ngôn luận phải được thi hành một cách trung thực, hợp pháp, đúng mức. Tự do ngôn luận cũng phải tôn trọng một số hạn chế có tính cách khẩn trương, đặc biệt (an ninh quốc phòng, bí mật quốc sự) hoặc có tính cách đối xứng, không vi phạm quyền lợi của người khác (ngôn luận khi lạm dụng, có tính cách vu khống, phỉ báng, vi phạm tiết hạnh, vô luân, vô nhân đạo không được Hiến Pháp bảo vệ).
Cấm đoán tự do ngôn luận, kiểm duyệt thông tin, sáng tác; gây khó khăn cho các công trình biên khảo, chất vấn đúng đắn, là những dấu hiểu của một chế độ chuyên chính, độc tài, đi ngược lại với chủ trương dân chủ tự do chính đáng.

9. BẢO VỆ QUYỀN LỢI NHÂN DÂN QUA TỔ CHỨC HIỆP HÔI
Ngày nay quyền lợi của người dân quá phức tạp, quá trừu tượng, nên xa lạ với chính họ.  Người dân lẻ loi, thất thế, thiếu kiến thức, dễ bị lợi dụng, rồi quên lãng và quyền lợi của họ cũng bị gạt bỏ ra ngoài các sinh hoạt chính thống.  Cần giúp họ học hỏi, hiểu biết thêm, giúp họ tổ chức tương trợ để bảo vệ quyền lợi chính đáng, một cách hữu hiệu.
Do đó, các tổ chức hiệp hội bất vụ lợi [21] trong nước và các tổ chức phi chính phủ [22] toàn cầu thường có nhiều khả năng chuyên môn và thế lực hỗ trợ nên rất hữu hiệu khi can thiệp hướng dẫn và đòi hỏi quyền lợi cho người dân thất thế, thiệt thòi.

10. BÁC BỎ KỲ THỊ TRONG MỌI LÃNH VỰC
Một nền dân chủ chân chính, dù tôn trọng quyết định chung của đa số, vẫn tìm cách bảo vệ thiểu số; xây dựng quốc gia trong thể hội nhập toàn diện; trả lại giá trị nhân bản, quyền lợi và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.
Giới thiểu số hay nhóm người thất thế vì chủng tộc, giới tính, tuổi tác, giáo dục, chính trị hay kém cỏi về mặt kinh tế, xã hội, cần được bảo vệ chính đáng để có đủ điều kiện hội nhập vào đời sống công bằng, nhân bản.

11. QUÂN ĐỘI, CẢNH SÁT DƯỚI QUYỀN LÃNH ĐẠO DÂN SỰ, PHỤC VỤ NHÂN DÂN
Dân chủ chân chính phải là một chế độ dân chủ dân sự, vì phản ảnh thể cách, thế lực và quyền lợi của toàn dân, cốt cách là dân sự.
Quân đội phải thừa lệnh nhà cầm quyền dân sự phục vụ quyền lợi của toàn dân.  Sứ mạng của quân đội, cảnh sát là để bảo vệ người dân, chứ không để thống trị họ.
Nếu làm sai sứ mạng này, hoặc lạm quyền giao phó, quân đội, cảnh sát sẽ hoặc đổi nền dân chũ tự do thành chế độ quân phiệt, chế độ công an, hoặc dùng vũ lực bất chính để củng cố một chế độ dân chủ chuyên chính, phản dân, hại nước.

12. HỆ THỐNG HOÁ QUYỀN LỰC NHÂN DÂN
Trên căn bản thuần lý, chính phủ dân chủ phải coi trọng người dân, duy trì thế lực và quyền lợi tối hậu của dân chúng.  Nhưng thực tế đã cho thấy nhà cầm quyền, dù đườc bầu lên bằng lá phiếu, vẫn:
  1. hoặc phản bội sứ mạng ủy nhiệm để đổi thành thể chế chuyên chính, độc đoán, phản dân chủ, như trường hợp các chế độ dân chủ theo xã hội chủ nghĩa, theo cộng sản;
  2. hoặc vì nghiêng theo thế lực của tập đoàn đại tư bản tài phiệt, nên cũng phương hại tới đa số dân chúng, nhất là giới trung lưu, nhiều bổn phận, ít quyền lợi.       
Vậy, hệ thống hoá quyền lực nhân dân là một thực tế cần thiết, do chính người dân phải ý thức và thực hiện qua một số dự án và chương trình điển hình như sau:
(a)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế bằng cách tăng cơ hội bảo trì tự do, khả năng chọn lưa, tiêu thụ, sinh sống theo nhu cầu và ý muốn của người dân v.v;
(b)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách cởi mở, rộng rãi, không kỳ thị, không ưu đãi phe nhóm;
(c)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách thực tế, gần gũi với hoàn cảnh địa phương, khả năng và nhu cầu khu vực của người dân;
(d)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách nhân bản, tôn trọng cá nhân, cá thể;
(e)  kết hợp thực lực chính trị và kinh tế một cách ôn hoà, cân nhắc quyền lợi cá nhân và bổn phận công dân của các đương sự.
Nên ghi nhớ, những dự án trên, ngoài hành động dấn thân của chính người dân, kết quả vẫn mau chóng, hữu hiệu và toàn năng hơn, nếu:
(f) có sự hưởng ứng, phối hợp sáng kiến cụ thể của chính quyền, của cộng đồng;
(g) dưới sự hướng dẫn của các cơ quan chuyên nghiệp;
(h) và nhất là những dự án, chương trình trên có tính cách công ích, rộng rãi, mẫu mực cho đa số, chứ không hoàn toàn có tính cách cá nhân, hạn hẹp, nhất thời.

13. GIẢI QUYẾT NẠN THAM NHŨNG
Muốn giải quyết nạn tham nhũng, cần tuần tự phối hợp một số biện pháp:
  • Hội Đồng Giám Sát định thời gian ân xá trong một thời kỳ hạn định [khoảng một năm], để các đương sự tự giác, hoàn trả công quỹ, tư quỹ; được phép giữ lại một số lợi tức tương xứng, sau khi chịu thuế phạt, giải chức,  giải nghiệp, hoàn lương;
  • Sau thời gian ân xá, Chính Quyền áp dụng luật lệ, trừng phạt nghiêm chỉnh;
  • Áp dụng thủ tục hành chính và quản trị minh bạch;
  • Hội Đồng Giám Sát thi hành các chương trình khảo sát, đặc nhiệm khởi tố;
  • Cổ võ cơ quan ngôn luận, thông tin tư thi hành nghiệp vụ điều tra và thông tri những sai quấy, tham nhũng trong các ngành công và tư;
  • Đồng thời duy trì thăng bằng lợi tức lương bổng, quyền lợi tương xứng với chức vụ đảm nhận để tránh cảnh bất công, thiếu thốn, nghèo túng làm bậy.
Trong một xã hội cân bằng và công bằng, đầy đủ tiện nghi, có văn hoá nhân bản thượng tôn luật pháp, thì nạn tham nhũng sẽ giảm thiểu tối đa.

14. XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Nhiều thống kê đã cho thấy, mức độ tăng trưởng về dân chủ chân chính đưa tới tình trạng gia tăng lợi tức quốc gia và tức nhiên gia giảm cảnh nghèo khó trong xã hội đó.  Tuyệt nhiên, Xoá đói Giảm nghèo không thể thực hiện bằng chính sách a tòng tài phiệt ngoại bang bóc lột nhân công, xuất khẩu lao động, bán dâu ngoại quốc. 
Ngoài các yếu tố tư bản và kỹ thuật tân trang, phương thức đầu tư nhận sự một cách thiết thực, lâu bền, cùng thể thức tôn trọng pháp luật, bảo trọng quyền tư hữu và tự do mậu dịch vẫn là những thành tố của một môi trường hữu hiệu trong việc Xoá đói Giảm nghèo, với sự phối hợp viễn kiến, lòng bác ái nhân từ của thế lực đa phương phục vụ quyền lợi và nhu cầu nhân dân.
ĐỂ TẠM KẾT, 
Chúng ta có thể khẳng định rằng chỉ có chế độ dân chủ chân chính, kết sinh, cởi mở mới là giải pháp ưu việt nhằm xây dựng lại quốc gia, dân tộc, trong thể hội nhập toàn diện, bằng cách trả lại giá trị nhân bản, quyền lợi và thế lực tương xứng cho mọi người dân, không phân biệt nam, nữ, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, tư tưởng, khuynh hướng chính trị.
Và chỉ trong thế hội nhập của toàn dân thực thi dân chủ, Việt Nam mới có chính nghĩa và đủ nội lực bảo vệ đất nước khỏi bị ngoại bang xâm chiến, uy hiếp, tước đoạt quyền lợi và chủ quyền.  
Và chỉ có nền dân chủ chân thực, tự do, nhân bản mới dựng được dân, mới cứu được nước.
TS, LS LƯU NGUYỄN ĐẠT
[1] Direct Democracy
[2] Representative Democracy
[3] Monarchy
[4] Aristocracy
[5] Fascism
[6] Oligarchy
[7] Plutocracy
[8] Communism
[9] Autocratic Socialism
[10] Illiberal Democracy
[11] Colonie française
[12] Protectorat
[13] Corps expéditionnaire français
[14] non-accountable governing power
[15] Liberal Democracy
[16] Referandum
[17] Legitimate
[18] Rule of law (thượng tôn luật pháp; cai trị theo mẫu mực pháp định, hiến định)
[19] Contrat Social
[20] Administrative transparency
[21] non-profit organizations
[22] non-governmental organizations

Mỹ và Trung Quốc - TS. Nguyễn Hưng Quốc

January 1, 20130 Bình Luận
Hầu như ai cũng biết rõ điều này: Số phận của nhân loại, trong vài thập niên tới, tùy thuộc chủ yếu vào mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Đó sẽ là một mâu thuẫn chính trong nền chính trị thế giới. Các mâu thuẫn khác, đang và sẽ xuất hiện, đây đó, như ở Afghanistan, Iran hay Syria, đều có tính chất cục bộ. Chỉ có mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc là thực sự có tính chất toàn cầu. Như mối quan hệ giữa Mỹ và Liên Xô thời Chiến tranh lạnh.
Cũng như mọi mâu thuẫn khác, mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc có hai khả năng phát triển: một, hòa giải hoặc kiềm chế trong hòa bình; và hai, bùng nổ thành xung đột hoặc trong lãnh vực kinh tế và chính trị, hoặc trong lãnh vực quân sự. Trong lãnh vực quân sự, có hai mức độ: một cách toàn diện, thành chiến tranh giữa hai nước và cùng với họ, các đồng minh của mỗi bên; hoặc, một cách cục bộ, ở một số điểm nóng nào đó. Cũng giống thời Chiến tranh lạnh.
 
Xin lưu ý, ngay từ đầu nhiệm kỳ thứ nhất, vào năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chọn giải quyết mâu thuẫn một cách hoà bình bằng cách đề nghị thành lập “Nhóm 2” (G-2, Group of Two), chỉ bao gồm Mỹ và Trung Quốc, như một hình thức song song với “Nhóm 8” (G-8) (vốn bao gồm tám quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới: Mỹ, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Canada và Nga) và “Nhóm 20” (G-20) mới hình thành (ngoài tám nước trên, thêm: Nam Phi, Mexico, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Úc và Cộng đồng Âu châu). So với hai nhóm (G-8 và G-20) trong hiện tại, nhóm G-2, dù muốn hay không, cũng có vị thế cao hơn hẳn.
 
Bằng đề nghị ấy, Tổng thống Obama thừa nhận vai trò siêu cường đặc biệt của Trung Quốc, muốn có những cuộc đối thoại bình đẳng với Trung Quốc, hình thành một thế giới lưỡng cực và hy vọng các cuộc đối thoại ấy sẽ hóa giải các tranh chấp giữa hai quốc gia có hai nền kinh tế và hai nền quốc phòng lớn nhất thế giới.
 
Tuy nhiên, lúc ấy, Trung Quốc có thể vì đang bận tâm với việc chuyển giao quyền lực, chuẩn bị cho kỳ đại hội đảng lần thứ 18 (được tổ chức vào tháng 11, 2012), và cũng có thể vì nghi kỵ Mỹ, nên hờ hững với lời đề nghị ấy. Thiện chí hòa giải của Obama coi như thất bại. Hơn nữa, dường như ông xem đó là một tín hiệu về quyết tâm tranh chấp của Trung Quốc, nên ở năm cuối của nhiệm kỳ thứ nhất, ông chọn một chính sách khác hẳn: Trở lại châu Á để kiềm chế Trung Quốc, chủ yếu về phương diện chính trị và quân sự.
 
Ở đây, có hai điểm cần nhấn mạnh:
 
Thứ nhất, một cách chính thức, chính phủ Mỹ không bao giờ nói như vậy cả. Họ không dùng chữ “kiềm chế” (contain). Không những không dùng, họ còn phủ nhận điều đó khi bị Trung Quốc phản đối. Tuy nhiên, ở đây, ai cũng biết có những khác biệt rất lớn và vô cùng sâu sắc giữa ngôn ngữ ngoại giao và thực tế.
 
Thứ hai, đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa mâu thuẫn hiện nay và các mâu thuẫn thời Chiến tranh lạnh. Trước, thời Chiến tranh lạnh, Mỹ kiềm chế Liên Xô trên cả ba lãnh vực, ngoài chính trị và quân sự, còn có cả kinh tế: giữa hai nước, cũng như giữa hai khối tư bản và cộng sản, không có quan hệ gì về kinh tế đáng kể. Nay thì khác. Quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn hoạt động bình thường, thậm chí, trên cả mức bình thường với hiện tượng các công ty của Mỹ vẫn ào ào chạy đến Trung Quốc và hàng hóa cũng như tiền bạc của Trung Quốc vẫn cứ ào ào đổ ngược vào Mỹ. Chính mối quan hệ chặt chẽ về kinh tế này sẽ giới hạn cũng như sẽ làm biến dạng các xung đột về chính trị và quân sự nếu có.
 
Trước mắt, Mỹ tiến hành biện pháp kiềm chế Trung Quốc trong hai lãnh vực chính trị và quân sự bằng hai biện pháp chính:
 
Thứ nhất, họ thay đổi cấu trúc quân sự ở tầm vĩ mô: Trước, các chiến hạm của Mỹ được phân bố đồng đều 50/50 trên hai vùng Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Nay, họ chuẩn bị để đến năm 2020, tỉ lệ ấy sẽ là 60/40, nghiêng về phía Thái Bình Dương. Song song với việc tái phối trí các chiến hạm ấy, Mỹ cũng tìm cách thiết lập các căn cứ quân sự ở một số nước thuộc châu Á – Thái Bình Dương để sẵn sàng cho một trận chiến quyết liệt với Trung Quốc.
 
Thứ hai, Mỹ cũng ráo riết củng cố và phát triển quan hệ quân sự với các đồng minh cũ cũng như tìm kiếm các đồng minh mới trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kể cả các đảo quốc nhỏ nhoi và xa xôi như Solomon Islands. Nhưng mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ vẫn là các quốc gia gần với Trung Quốc nhất như Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Singapore, Myanmar và Việt Nam.
 
Cả hai biện pháp này vừa mới manh nha, không thể biết được là chúng thành công hay thất bại. Tương lai của vùng châu Á – Thái Bình Dương và từ đó, của cả thế giới, tùy thuộc vào Trung Quốc và tình hình chính trị trong khu vực.
Ở Trung Quốc, có hai yếu tố chính có vai trò quyết định đến chính sách của họ đối với Mỹ:
Một, thái độ của giới cầm quyền, hoặc nhân nhượng hoặc quyết liệt đối đầu; hoặc dừng lại ở vị thế một siêu cường về kinh tế hoặc muốn đóng vai siêu cường về cả kinh tế lẫn quân sự; hoặc muốn duy trì một thế giới song cực hoặc muốn hình thành một trật tự mới ở đó Trung Quốc sẽ là siêu cường số một, thay thế vị trí của Mỹ hiện nay.
Hai, xu hướng dân chủ hóa làm thay đổi thể chế chính trị ở Trung Quốc để biến Trung Quốc thành một quốc gia dân chủ, tôn trọng nhân quyền, biết chia sẻ các bảng giá trị chung của nhân loại, từ đó, có thể chung sống một cách hoà bình với thế giới. Ở khu vực, các tranh chấp giữa Trung Quốc và một số nước khác, từ Nhật Bản đến Philippines và Việt Nam cũng có thể làm thay đổi bàn cờ chính trị của Trung Quốc và Mỹ. Đó là chưa kể đến việc Mỹ có vượt qua khỏi các cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay hay không.
 
Quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến cả thế giới. Nhưng nước chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất có lẽ là Việt Nam.
 
Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Việt Nam rất dễ có nguy cơ trở thành một tiền đồn. Như thời Chiến tranh lạnh. Mảnh đất có hình chữ S, như một người đàn bà gầy guộc oằn người dưới hai gánh nặng ở hai đầu, sẽ có nguy cơ lại đẫm đầy máu và nước mắt. Như thời Chiến tranh lạnh.
 
Trong trường hợp Mỹ và Trung Quốc cố gắng thu xếp các tranh chấp một cách hòa bình, Việt Nam cũng có nguy cơ trở thành một món hàng để hai bên trả giá và đổi chác với nhau. Lại cũng giống thời Chiến tranh lạnh.
 
Ngày xưa, người ta hay nói Việt Nam may mắn có một vị trí thật tuyệt vời để có thể đón nhận được nhiều luồng văn minh trên thế giới. Nay, mới thấy nhận định và niềm tự hào ấy hoàn toàn sai.
 
Từ góc độ địa-chính trị, Việt Nam là một túi thuốc nổ. Với một viễn ảnh rất đáng lo.
TS Nguyễn Hưng Quốc

Phục Hồi Hiệp Định Paris 1973: Hoang Tưởng Hay Hiện Thực? - Nguyễn Quốc Khải

January 5, 20130 Bình Luận
Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS
Hội nghị Paris, 23/1/1973. Ảnh Bettmann/CORBIS

Cách đây hai tuần, tôi có viết bài “Khoảng Cách Chạy Tội: Sự Thực Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973.” Bài này có một tiểu mục về chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris của Ông Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch của Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH, một hình thức chính phủ lưu vong. Tôi đã kết luận rằng đây là một ý kiến hoang tưởng. Nhiều độc giả đặc biệt chú ý tới tiểu mục này và đóng góp khá nhiều ý kiến. Riêng Ông Nguyễn Ngọc Bích vẫn nghiêm chỉnh cho rằng ý kiến phục hồi Hiệp Định Paris là một việc khả thi. Theo ông, sau khi lấy lại miền Nam Việt Nam, ông sẽ tổ chức tổng tuyển cử và những người di cư từ miền Bắc vào Nam sau 30-4-1975 được phép ở lại miền Nam, nhưng họ không có quyền đi bầu. Phần đông ai cũng thấy đây là một chuyện hoang tưởng. Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của một số độc giả, kể cả Ông Nguyễn Ngọc Bích, tôi xin giải thích rõ hơn vì sao phục hồi Hiệp Định Paris không thể là một hiện thực.
Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973
GS Vũ Quốc Thúc (hình bên) cùng với LS Vương Văn Bắc, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao, sáng lập Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 vào cuối năm 1986 tại Paris.
Sáng kiến phục hồi Hiệp Định Paris 1973 đã có từ cuối thập niên 1970. Sau khi GS Vũ Quốc Thúc được chính phủ Pháp can thiệp cho di cư sang Pháp vào 1978, ông đã nhận thấy những nhân vật chủ chốt cũ của VNCH cần thành lập một chính phủ lưu vong để phục hồi Hiệp Định Paris và tiếp tục tranh đấu chống Cộng Sản. Nhưng mãi đến cuối 1986, ý kiến này mới được thảo luận nghiêm chỉnh trong một cuộc hội thảo tại Paris để bàn về vấn đề thuyền nhân. LS Vương Văn Bắc, cựu bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, nhận định rằng Hiệp Định Paris vẫn còn có giá trị và có những điều khoản giúp thiết lập hòa bình ở Việt Nam và như vậy sẽ chấm dứt được thảm cảnh vượt biển và quốc tế sẽ không nhìn những thuyền nhân như những người tị nạn kinh tế.
Các tham dự viên của cuộc hội thảo đã quyết định thành lập Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 (Comité de Juristes Vietnamiens pour la Remise en Vigueur des Accords de Paris de 1973) do GS Vũ Quốc Thúc làm chủ tịch. Ủy Ban Luật Gia Việt Nam (Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 viết tắt) soạn thảo bạch thư Chiến Tranh và Hòa Bình ở Đông Dương (Guèrre et Paix en Indochine) và chính thức kêu gọi Chánh Phủ Pháp đứng ra hòa giải vì Pháp đã tổ chức cuộc hòa đàm đưa đến Hiệp Định Paris 1973.
Tiếp theo sáng kiến của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973, một vài nhân vật và một số tổ chức khác đã theo đuổi việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973.
Trước và sau khi của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được thành lập, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tiếp xúc với tổ chức này thường xuyên, vì ông ủng hộ việc vãn hồi Hiệp Định Paris. Chính cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã gửi thư lên Liên Hiệp Quốc về vấn đề này vào năm 1993.
Đến năm 2008, Ông Nguyễn Bá Cẩn, cựu chủ tích Hạ Viện và cựu thủ tướng VNCH, thành lập Chánh Phủ VNCH lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông Cẩn cũng chủ trương phục hồi Hiệp Định Paris 1973. Sau khi ông đột ngột từ trần vào năm 2009, hai Ông nguyễn Văn Chức và Lý Tòng Bá của Chính Phủ VNCH lưu vong tiếp tục công việc vận động này. Người ta không rõ chính phủ lưu vong này đã đạt những kết quả cụ thể nào.
Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ,  Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức. Hình (VNCH Foundation): Phái đoàn chính phủ lưu vong VNCH vận động Quốc Hội Hoa Kỳ để phục hồi Hiệp Định Paris 1973 gồm các ông (hàng đầu từ trái): Hồ Văn Sinh, Lâm Chấn Thọ, Nguyễn Ngọc Bích, một phụ tá của DB Ed Royce, Lý Tòng Bá, không rõ tên, và Nguyễn Văn Chức.
Gần đây nhất, Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH) của Ông Nguyễn Ngọc Bích mới thành lập vào tháng 10, 2012 cũng gửi thỉnh nguyện thư gồm trên 30,000 chữ ký, kêu gọi Liên Hiệp Quốc tái nhóm một Hội Nghị Quốc Tế khẩn cấp về Việt Nam để “phục hồi Hiệp Định Paris 1973 nhắm trả lại danh dự và công bằng cho 40 triệu quân, dân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa”.
Thỉnh nguyện thư này gián tiếp xác nhận UBLĐLTVNCH là một chánh phủ lưu vong và có một “quốc gia Việt Nam Cộng Hòa ngoài lãnh thổ”. Việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 và thành lập chính phủ lưu vong VNCH chỉ là phương tiện. Mục tiêu của UBLĐLTVNCH là phục hoạt chế độ Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên hầu hết những nhân vật chính của VNCH từ ngày ra nước ngoài sống ẩn dật hoặc ngày nay đã quá lớn tuổi hoặc đã qua đời.
LS Lâm Chấn Thọ, một người chủ trương trở lại Hiệp Định Paris 1973, phân tách rằng “Vì không có một tổ chức nào ở hải ngoại hoặc quốc nội có đủ tầm vóc để được các thành phần không cộng sản tín nhiệm, chính phủ lưu vong là chất keo kết nạp tất cả các tổ chức không cộng sản lại.” Người ta muốn biết tất cả bốn chính phủ Việt Nam lưu vong ở Hoa Kỳ có được người Việt trong và ngoài nước ủng hộ hay không, cho đến nay đã kết nạp được bao nhiêu đoàn thể, có bao nhiêu thành viên, thành lập được bao nhiêu cơ sở.
Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973
Việc làm của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 được một phần chính giới Pháp ủng hộ. Tuy nhiên, quan điểm chính thức của Pháp đã được DB Georges Mesmin trình bầy tại cuộc hội thảo 1986 tại Paris rằng:
“Khi chính phủ Pháp chính thức yểm trợ Việt Nam (Cộng Sản) gia nhập Liên Hiệp Quốc [1977], thì mặc nhiên Pháp đã xí xóa việc Hà Nội vi phạm Hiệp định Paris 1973.”
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam cũng không nhận được sự tiếp tay của Hoa Kỳ. Trước cuộc hội thảo một ngày, Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan, đến gặp GS Vũ Quốc Thúc và cho biết rằng Hoa Kỳ không muốn cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu công khai tham gia hội thảo mà nên đứng sau hội trường. Ông Steinman cũng khuyến cáo rằng:
“Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience). Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.”
Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.
Hình (NQK): LS Nguyễn Hữu Thống, chủ tịch Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền, cựu dân biểu Quốc Hội VNCH.
Vào năm 1989, cựu TNS Phạm Nam Sách và cựu DB Nguyễn Hữu Thống gửi đơn lên Tòa Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) tại The Hague, Hòa Lan để kiện CSVN vi phạm Hiệp Định Paris 1973. Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thụ lý được trường hợp này vì cơ quan này chỉ sử tranh chấp giữa các quốc gia hội viên thuộc Liên Hiệp Quốc mà thôi.
Hoa Kỳ không đưa ra một quan điểm chính thức nào về việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 cho đến năm 1990. Sau khi cuộc vận động tại Tòa Án Công Lý Quốc Tế không thành công, Luật sư Nguyễn Hữu Thống nhân danh Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền (UBLGBVDQ) vận động thẳng với chánh phủ Hoa Kỳ và được Tổng Thống George H. W. Bush phúc đáp rằng Hoa Kỳ không trở lại Hiệp Định Paris 1973 nữa.
UBLGBVDQ được thành lập vào 1990 gồm có LS Nguyễn Hữu Thống, LS Nguyễn Văn Chức, GS Vũ Quốc Thúc, LS Phạm Nam Sách, LS Nghiêm Xuân Hồng, và GS Nguyễn Cao Hách.
Không có quốc tế yểm trợ, kế hoạch vận động vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 chủ xướng từ năm 1986 đã thất bại. GS Vũ Quốc Thúc chia sẻ cảm nghĩ của ông về sự kiện này như sau:
“Dù biết trước những sự khó khăn này, ngay từ năm 1986, chúng tôi đã tìm cách nêu vấn đề trở lại Hiệp định Paris. Mục đích của chúng tôi, lúc bấy giờ, là kích thích tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Việt Nam tại Pháp, phần nào đã suy giảm sau khi thấy CSVN rầm rộ ăn mừng “mười năm tái thống nhất đất nước … Tóm lại, vấn đề trở lại Hiệp định Paris, coi như đã bị các đồng minh cũ của Việt Nam Cộng Hoà gạt bỏ hẳn.”
Sau khi công cuộc phục hồi Hiệp Định Paris bất thành và Hoa Kỳ bình thường hóa ngoại giao với Hà Nội, GS Vũ Quốc Thúc đã hợp tác TS Nguyễn Bá Long, rút kinh nghiệm của những cuộc cách mạng lật đổ chế độ Cộng Sản ở Đông Âu, thiết lập Phong Trào Hiến Chương 2000 để đấu tranh với CSVN và vận động cho một thể chế tự do dân chủ tại Việt Nam. Bản Hiến Chương 2000 được công bố vào ngày 25-11-2000 tại Paris.
Kể từ năm 1977, khi Việt Nam được gia nhập Liên Hiệp Quốc, tức là đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận, ngày càng có thêm trở ngại cho việc vãn hồi Hiệp Định Paris 1973 và đến nay có thể nói không còn một hi vọng nào cả. Đối với quốc gia công nhận và quốc gia được công nhận, Hiệp Định Paris không còn giá trị nữa.
Hoa Kỳ chính thức công nhận Việt Nam khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận với Việt Nam vào năm 1994 và tái lập bang giao với Việt Nam vào năm 1995. Kể từ thời điểm này Hoa Kỳ chính thức không còn tôn trọng Hiệp Định Paris 1973.
Ngay từ đầu Hiệp Định Paris 1973 cũng chỉ là một thỏa hiệp tạm bợ để Hoa Kỳ hi vọng có thêm thời gian tháo chạy ra khỏi Việt Nam mà không bị mất mặt. Do đó, không có một động cơ nào để Hoa Kỳ phục hồi hiệp định này. Trái lại, chính sách của Hoa Kỳ hiện nay là liên kết với chính quyền Hà Nội để ngăn chặn lại sự bành trướng của Trung Quốc.
Tại buổi hội thảo về chính sách ngoại giao vào giữa tháng 12 vừa qua tại Hà Nội, Đại Tá CSVN Trần Đăng Thanh, giảng viên thuộc Học Viện Chính Trị, Bộ Quốc Phòng, nói rằng Hoa Kỳ “đang dùng Việt Nam như một lực lượng tiên phong để chặn Trung Quốc.”
Trong một buổi hội thảo vào cuối năm 1987 cũng tại Paris do do Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 tổ chức, ông Henri Kissinger, cựu Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của cựu Tổng Thống Richard Nixon, giải thích rằng:
“Hoa Kỳ không phản ứng khi Hà Nội vi phạm hiệp định vì Hoa Kỳ đang bị lúng túng với vụ Watergate. Dư luận Hoa Kỳ cho rằng Hoa Kỳ đã rút hết quân rồi, việc Bắc Việt vi phạm Hiệp Định Paris xâm chiếm miền Nam là việc nội bộ của Việt Nam, Hoa Kỳ không thể nào nhân cơ hội này trở lại Việt Nam để bị lôi cuốn một lần nữa vào ‘vũng bùn chiến tranh’ và Quốc hội Mỹ cũng không chấp nhận.”
Trở ngại chính cho việc phục hồi Hiệp Định Paris 1973 là thiếu hỗ trợ quốc tế. Phục hồi nó không dễ dàng và không đem lại quyền lợi thực tiễn nào cho các nước tham dự Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam. Từ lâu hiệp định này đã là một sự kiện quá khứ.
Trong 40 năm vừa qua, theo thiển ý của tôi, mặc dù có những cá nhân xuất sắc nhưng ở hải ngoại chưa thấy xuất hiện một tổ chức nào lớn mạnh, có uy tín và hậu thuẫn của người Việt để có thể đảm đương những việc làm có tầm vóc quốc tế như việc vận động phục hồi Hiệp Định Paris, giả sử nếu đó là một việc hợp lý đáng làm. Chúng ta không có thực lực. Đó là trở ngại không kém quan trọng. Và nếu không có thực lực, không một định chế quốc tế nào ủng hộ chúng ta cả.
Hiệp Định Paris 1973 chỉ còn giá trị lịch sử
Hiệp Định Paris 1973 đã chết ngắc ngoải vào đầu năm 1974, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris 1973 vô giá trị vì CSVN lợi dụng thời gian ngưng bắn để lấn chiếm những vùng hẻo lãnh. Những vi phạm này được xác nhận trong thông cáo báo chí của Bộ Ngoại Giao Hoa kỳ ngày 10-4-1973 và công hàm của Hoa Kỳ gửi 11 nước yểm trợ Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam.
Khi CSBV xua quân vượt qua sông Bến Hải để tiến chiếm Việt Nam vào 8-1-1975, Hiệp Định Paris đã bị khai tử từ ngày đó. Cả thế giới làm ngơ trước sư vi phạm trắng trợn này. Hoa Kỳ cũng không có một phản ứng nào mặc dù Điều 7 (b) của Đạo Luật về Hội Nghị Quốc Tế về Việt Nam (Act of The International Conference of Vietnam) ký ngày 2-3-1973 bởi 12 nước bảo đảm Hiệp Định Paris 1973 qui định rằng trong trường hợp có sự vi phạm Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ và nước Dân Chủ Cộng Hòa Việt Nam có thể triệu tập hội nghị quốc tế thay mặt những nước đã ký kết hoặc trong trường hợp có it nhất sáu nước đồng ý.
Hiệp định Paris 1973 đã chết thì không thể làm sống lại được vì những điều khoản trong hiệp định này. Thật vậy, Hiệp Định Paris 1973 công nhận Việt Nam có hai miền Bắc và Nam. Riêng miền Nam Việt Nam có hai chánh phủ: (1) Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa và (2) Chánh Phủ Cách Mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam.
Điều 9 (b) của Chương IV qui định rằng:
“Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.”
Sau ngày 30-4-1975, chánh phủ VNCH không còn và sau ngày 2-7-1976 Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cũng bị sát nhập vào Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Việt Nam không có hai miền Nam Bắc riêng biệt nữa. Sau 30-4-1975 cả triệu người Bắc di cư vào Nam lập nghiệp, không kể 150,000 quân CSBV được hai Ông Chu Ân Lai và Kissinger cho phép chính thức ở lại miền Nam Việt Nam kể từ ngày Hiệp Định Paris được ký kết vào ngày 27-1-1973. Miền Nam hiện nay không còn là miền Nam trước 30-4-1975 nữa. Phục hồi Hiệp Định Paris 1973 để đòi Chánh Phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trả lại phần đất phía nam vĩ tuyến 17, để miền Nam tổ chức tổng tuyển cử là một chuyện hoàn toàn thiếu thực tế. Ngoài ra, không ai muốn Việt Nam lại bị chia cắt ra làm hai phần một lần nữa.
Kết luận
Sau 40 năm, tình hình thế giới đã thay đổi. Biển Đông nổi sóng vì tham vọng bành trướng của Trung Quốc. Bàn cờ Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Không nên và cũng không thể nào lập lại bàn cờ cũ được. Cách đây một phần tư thế kỷ, những cố gắng của Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Vận Động Vãn Hồi Hiệp Định Paris 1973 và Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền chứng tỏ đã quá trễ rồi. Rút kinh nghiệm của những người đi trước, ngày nay ý tưởng phục hồi một hiệp định đã trở thành vô giá trị, với toan tính dựa dẫm nặng nề một lần nữa vào thế lực ngoại quốc, là một hoang tưởng và một dại dột.
Ông Lê Quế Lâm, một độc giả, sau khi đọc bản thảo của bài viết này đã tóm tắt suy nghĩ của ông như sau:
“Hiệp Định Paris 1973 ra đời đến nay vừa tròn 40 năm, đất nước đã thay đổi quá nhiều, làm sao có thể tái tạo bối cảnh cũ để trình diễn. Chỉ còn cách đóng tuồng để hoài vọng quá khứ.”
Theo thiển ý của tôi, về mặt quốc tế, lội ngược dòng là chết. Tương kế tựu kế là sách lược khôn ngoan cho một quốc gia nhỏ bé và chậm tiến như Việt Nam trong tình trạng hiện nay. Về mặt quốc nội, yểm trợ những nhà dân chủ kiên cường ở trong nước là quốc sách.
Cách đây vài năm, tôi được dịp tham gia một cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam tại Hòa Lan. Trong dịp này tôi được hân hạnh gặp một thuyết trình viên là Bà J. W. E Spies, lúc đó Bà là Chủ Tịch Đảng Christian Democratic Appeal và dân biểu Quốc Hội Hòa Lan, và hiện nay Bà là Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ. Khi được hỏi về vấn đề vận động quốc tế cho tự do dân chủ ở Việt Nam, Bà nói rằng người Việt Nam trước tiên phải hi sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng lời khuyến cáo của Bà Spies thật rất thực tiễn và chí lý đáng cho chúng ta suy ngẫm.
Nguyễn Quốc Khải 31-12-2012
Tài liệu tham khảo:
1. Lam Chan Tho, “Est-il Une Solution Pour Le Vietnam?” 2-10-2012.
2. Lê Quế Lâm, “Những Đóng Góp Cho Đất Nước Sau 1975 Của Một Chứng Nhân Lịch Sử: GS Vũ Quốc Thúc,” Thụ Nhân Âu Châu, 16-7-2011.
3. Lê Quế Lâm, “Đọc Hồi Ký của GS Vũ Quốc Thúc,” Việt Thức, 28-12-2010.
4. Nguyễn Hữu Thống, “Hiệp Định Hòa Bình Paris Dẫn Đến Hòa Bình của Những Nấm Mồ,” Việt Vùng Vịnh, 2-6-2010.
5. Nguyễn Quốc Khải, “Sự Thật Phũ Phàng Về Hiệp Định Paris 1973,” RFA, 17-12-2012.
6. Nguyễn Quốc Khải, “Mạn Đàm về Chính Phủ Lưu Vong,” Đàn Chim Việt, 05-12-2012.
7. Nguyễn Thiếu Nhẫn, “Sự Vong Thân Của Một Vị Tôn Sư,” Tin Paris, 2-10-2011.
8. Paris Peace Accords, “Act of The International Conference of Vietnam”, March 2, 1973.
9. Trần Đăng Thanh, “Đại tá Trần Đăng Thanh giảng về Biển Đông cho lãnh đạo các trường Đại học,” Ba Sàm. 19-12-2012.
10. Trần Thị Diệu Tâm, “Buổi Giới Thiệu Sách của GS Vũ Quốc Thúc tại Paris,” 12-11-2010.
11. Trần Thị Diệu Tâm, “Tang Lễ của LS Vương Văn Bắc,” 28-12-2011.
12. U.S. Department of State, “Complaints of Violations of the Cease-fire: United States Note Verbale transmitted April 10, 1973 for delivery to prticipants in the International Conference in Vietnam,” April 10, 1973.
13. Vũ Quốc Thúc, “Thời Đại của Tôi,” nhà xuất bản Người Việt, 2010.
14. Đào Nương, “Chỉ Một Ngày Là Lập Xong Chính Phủ,” Saigon Nhỏ số 1019, 9-11-2012.