Saturday, August 27, 2011

Những người lính Mỹ sau cuộc chiến

 Nguyễn Duy An là người Á Châu đầu tiên đảm nhận chức vụ Senior Vice President National Geographic tổ chức văn hóa khoa học lớn nhất thế giới.
Bài viết của ông mang theo một thông tin đặc biệt: Truyền hình National Geographic chiếu phim 'Inside the Vietnam War' nhân kỷ niệm 40 năm trận chiến Mậu Thân.

---
 
Tôi rất ngạc nhiên khi bà thư ký dẫn vị sĩ quan an ninh của Sở vào văn phòng với nét mặt hoảng hốt và rụt rè lên tiếng:
- Duy à... Có chuyện rồi! Ðại Úy Morrow cần gặp riêng Duy. Bà ta vội vã quay lưng, với tay đóng cửa và bước nhanh ra ngoài. Tôi vừa bắt tay Đại Úy Morrow vừa hỏi:
- Mời Đại Úy ngồi. Anh tìm tôi có việc gì quan trọng?
- Xin lỗi anh Duy nhé. Ở dưới nhà có 3 người 'homeless' cứ nằng nặc đòi gặp anh cho bằng được. Nhân viên an ninh đã giữ họ lại và báo cáo cho tôi tìm gặp ông để thảo luận. Những nguời này có vẻ không đàng hoàng... nhưng có một nguời tên Norman khai rằng anh là bạn của hắn ta.
- Ồ... Ðó là anh chàng thỉnh thoảng vẫn thổi kèn Saxophone kiếm tiền ở trạm xe điện ngầm Farragut West đó mà. Anh ta đàng hoàng lắm, không sao đâu, để tôi xuống gặp họ.
- Anh chờ chút. Chúng tôi muốn sắp xếp để canh chừng vì hai anh chàng kia trông có vẻ 'ngầu' lắm. Mấy tay này cứ luôn miệng chửi thề và 'càm ràm' với giọng điệu rất hung hăng về cuộc chiến Việt Nam. Tôi đoán chắc họ thuộc nhóm cựu chiến binh Việt Nam mắc bệnh tâm thần... Anh tính sao?
- Tôi nghĩ không cần thiết lắm đâu. Tôi biết tôi không thể dẫn họ lên văn phòng, nhưng có thể mời họ vào 'cafeteria' uống ly nước, chắc không sao chứ?
- Cũng được, nhưng cẩn thận vẫn hơn. Ðể tôi bảo nhân viên để ý trông chừng trong lúc anh gặp họ ở 'cafeteria'. Anh không ngại chứ?
- Cám ơn các anh, nhưng đừng lộ liễu quá, họ tủi thân.
Trong lúc theo với Đại Úy Morrow xuống nhà gặp 'khách', tôi nghĩ về kỷ niệm quen biết Norman từ gần 10 năm trước.
Hồi đó, tôi mới về làm cho National Geographic, vì chưa quen đường xá ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn nên thường đi làm bằng xe 'Metro'. Một buổi sáng thứ sáu, tôi đi trễ hơn bình thường vì phải ghé qua trường học để ký một số giấy tờ cho các con trước ngày tựu trường. Vừa ra khỏi xe điện ngầm ở trạm Farragut West, tôi nghe vọng lại tiếng kèn Saxophone rất điêu luyện đang 'rên rỉ' bài Hạ Trắng:
Gọi nắng... trên vai em gầy đường xa áo bay
Nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say
Lối em đi về... trời không có mây
Đường đi suốt mùa nắng lên thắp dầy...
Lên khỏi cầu thang ở trạm xe điện, tôi sững sờ khi trông thấy một nguời Mỹ 'homeless' đang 'ngất ngưỡng' thả hồn vào một cõi xa xăm vô định, miệt mài thổi Saxophone. Bài hát vừa dứt, đám đông vây quanh vừa vỗ tay tán thưởng, vừa bỏ một vài đồng bạc lẻ vào cái mũ vải bên cạnh... Tôi tiến đến gần hơn, móc ví lấy tờ giấy bạc $10 bỏ vào mũ biếu anh ta, một người Mỹ có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam vì anh ta đang mặc chiếc áo khoác quân nhân, với bảng tên Norman Walker trên túi áo và bên cạnh còn treo lủng lẳng một số huy chương. Tôi chưa kịp bỏ tiền vào mũ, anh ta đã hỏi bằng tiếng Việt:
- Mày Việt Nam hả? Biết bài hát vừa rồi không?
- Ðương nhiên rồi. Ông thổi kèn rất hay và có hồn. Ông nói tiếng Việt cũng giỏi.
- Ðại khái thôi. Kêu mày tao được rồi. Tao đã từng đấm đá gần 8 năm trời trên quê hương của mày, nhung khi trở về bị quê hương tao ruồng bỏ. Nản bỏ mẹ. Tao nhớ Việt Nam nên tập thổi nhạc Trịnh, thỉnh thoảng ra đây biểu diễn kiếm thêm ít đồng mua cơm mua cháo sống qua ngày với đám bạn không nhà không cửa trở về từ cuộc chiến.
- Ông...
- Lại ông nữa. Mày tao cho thân tình. Không phải người Việt tụi mày vẫn nói thế sao?
- Tôi không quen gọi người lạ như thế. Hay gọi nhau là 'anh tôi' được không?
- Tùy mày. Tiếng Việt tụi mày rắc rối lắm. Mày có cần phải đi làm chưa?
Tao phải tiếp tục thổi thêm vài tiếng nữa mới đủ sở hụi. Tao nghỉ lúc 11giờ, mày có thể tới nói chuyện. Nếu bận thì thôi. Thứ Sáu nào tao cũng làm ăn tại đây. Nếu không chê, mày có thể trở lại.
- Tôi sẽ trở lại trước 11 giờ. Văn phòng tôi làm việc cũng chỉ cách đây một quãng đường ngắn.
-Mày không sợ hả?
-Sợ gì?
-Tụi tao là loại nguời bị ruồng bỏ và khinh chê.
- Không có đâu. Tôi sẽ trở lại.
- Ði đi. Hẹn gặp lại.
Tôi đã trở lại gặp Norman và mời anh ta cùng ăn trưa hôm đó. Anh ta rất cảm động, và chúng tôi trở thành 'bạn' từ dạo đó. Tôi thắc mắc tự hỏi không hiểu tại sao hôm nay Norman không gọi điện thoại cho tôi mà lại dẫn theo hai người bạn tới văn phòng tìm tôi, gây xáo trộn cho thêm rắc rối.
Tôi chỉ sợ Norman và bạn của anh ta sẽ buồn và mất cảm tình với National Geographic cũng như cá nhân tôi vì bị những nhân viên an ninh của sở 'hạch hỏi'. Ðã từ lâu lắm rồi, tôi cảm nhận được nội tâm đơn thuần và tính tình chân thật của những cựu chiến binh không nhà không cửa lang thang khắp đường phố thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Có những người đã từ bỏ tất cả để sống kiếp lang thang tại vùng thủ đô để thỉnh thoảng có dịp ghé thăm và tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến được khắc tên trên bức tường cẩm thạch mầu đen ở đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial).
Những cựu chiến binh râu ria xồm xoàm, quần áo rách nát và bẩn thỉu, thân thể xâm đầy những bức hình ngổ ngáo hay những dòng chữ ngang tàng để che dấu một nội tâm lúc nào cũng khắc khoải trong đau thương tủi nhục và nhức nhối từng đêm vì những ám ảnh từ cuộc chiến Việt Nam. Tôi cảm thương với hoàn cảnh của họ và trân quý những hy sinh họ đã dành cho Quê Hương Yêu Dấu Việt Nam của chúng ta.
Vừa gặp mặt, Norman xiết chặt tay tôi cười lớn, rồi lên giọng:
- Gặp mày còn khó hơn gặp sĩ quan cao cấp ngoài mặt trận nữa. Hôm nay nói tiếng Anh nhé. Bạn tao không biết tiếng Việt và tao cũng không muốn đám 'cớm dổm' ở đây nghi ngờ, gây thêm phiền phức cho thằng bạn người Việt rất thân của tao.
Norman đổi giọng, nói tiếng Anh:
- Ðây là thằng Duy rất thân của tao. Nó là nguời Việt tỵ nạn nhưng đang làm lớn ở đây. Chắc nó giúp được tụi mình. Còn đây là Bernie và Bob, hai thằng bạn thân 'homeless' của tao.
Norman vẫn không buông tay nên tôi đành bắt tay trái với Bernie và Bob, rồi lên tiếng mời:
- Mời các bạn xuống 'cafeteria' uống nước và nói chuyện.
- Có tiện không? Hay tụi tao chờ mày ở ngoài kia, lúc nào rảnh ra nói chuyện.
- Không sao đâu. Tuy nhiên, Norman đừng đòi cà phê sữa đá, ở đây không có đâu. Norman cười ha hả trả lời bằng tiếng Việt:
- Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi! Ðúng không? Rất đúng. Nghe giống hệt 'một ông già Bắc kỳ' thứ thiệt.
Chúng tôi vui vẻ bước vào gọi cà phê, cùng tiến về một bàn trống phía trong cùng trước bao nhiêu con mắt kinh ngạc của những người đang có mặt trong 'cafeteria' sáng hôm đó. Vừa ngồi xuống bàn, Norman vội vàng lên tiếng:
- Ðể khỏi mất thì giờ của mày, tao vào đề ngay nhé. Hôm qua Bernie đọc thấy ở đâu đó nói tuần này National Geographic sẽ có 'preview' cuộn phim 'Inside the Vietnam War' trước khi trình chiếu vào dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân. Ðúng không?
-Ðúng rồi. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiếu trên đài National Geographic từ ngày 18 tháng 2 này.
- Ðài của tụi mày chỉ có trên 'Cable' và 'Direct-TV'. Dân 'homeless' tụi tao làm sao xem được. Tao biết họ vẫn mời mày 2 vé 'preview' mỗi khi có phim mới. Mày kiếm thêm vé cho 3 đứa tao đi xem với. Ðược không?
- Chắc được. Mấy lần trước tôi đưa vé cho bạn nhưng có bao giờ xuất hiện đâu!
- Lần này khác... vì họ nói về tụi tao và những bạn bè từng đấm đá trên Quê Hương của mày.

Click this bar to view the original image of 721x478px.

Ðể giữ sĩ diện cho tôi, cả 3 người 'bạn' cựu chiến binh đều ăn mặc quần áo tươm tất, đầu tóc chải gọn gàng đứng chờ ngoài hành lang 'Explorer Hall' cả giờ đồng hồ trước khi tôi xuống dẫn vào xem phim trong hội trường chính của National Geographic. Sau khi cầm trong tay 4 tấm vé 'preview', tôi đã liên lạc nhờ mấy nguời trong nhóm 'Audio & Video' của sở sắp xếp để chúng tôi ngồi trong góc cuối của hội trường, tránh xa những vị 'tai to mặt lớn' trong sở cũng như những vị khách từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, Quốc Hội, và viên chức Chính Phủ Mỹ.
Sau những lời giới thiệu, những bài diễn văn theo thủ tục, cuộn phim bắt đầu chiếu. Mấy người bạn cựu chiến binh Mỹ của tôi chăm chú lắng nghe, mắt người nào cũng long lanh ngấn lệ, cùng xiết chặt tay nhau để nén lại những cảm xúc đang cuồn cuộn trào dâng trong tim của mỗi nguời.
Thỉnh thoảng tôi nghe thoang thoảng đâu đó một vài tiếng sụt sùi nho nhỏ vang lên khắp hội trường. Ba nguời bạn của tôi vẫn 'án binh bất động' dõi mắt đăm chiêu theo từng tấm hình, từng tiếng súng, từng bước đi, từng câu nói, từng tiếng khóc... trên màn ảnh. Tới đoạn phim chiếu lại cảnh những cựu chiến binh trở về từ Việt Nam bị 'dân Mỹ' và có lúc cả gia đình và bạn bè miệt thị, Bob bật tiếng khóc thật lớn, rồi Bernie, rồi Norman và một vài nguời chung quanh cùng khóc theo!
Ai đó đã ra lệnh tạm ngưng. Ðèn hội trường bật sáng. Tôi vội vã xin lỗi những người chung quanh rồi vội vàng 'kéo' ba nguời bạn cựu chiến binh ra khỏi hội trường. Cả ba vừa đi vừa khóc, lững thững lê gót 'khật khưỡng' bước theo tôi như ba cái xác không hồn!
Mấy ngày sau, tôi nhận được một cú điện thoại từ nhóm thực hiện cuộn phim tài liệu 'Inside the VietNam War' nhờ tôi sắp xếp một cuộc gặp gỡ với 3 nguời bạn cựu chiến binh 'homeless' đã cùng tôi đi xem 'preview' hôm đó, và cũng nhờ họ mời thêm những bạn bè khác vì Bộ Quốc Phòng và Bộ Cựu Chiến Binh cùng một vài viên chức trong chính phủ muốn gặp gỡ và giúp đỡ họ.
Có lẽ đã tới lúc nguời Mỹ nhận thức được 'món nợ phải trả' cho sự hy sinh của những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam.
Lòng tôi chợt nhói lên một niềm đau khi nghĩ tới số phận của những cựu quân nhân và công chức của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ai còn? Ai mất?

NGUYỄN DUY-AN.

Chính Lênin mới là người đã làm cho Liên Xô tan rã

Vũ Cao Đàm

Một bức tượng Lenin bị kéo xập tại Nga sau khi chế độ Sô Viết tan rã. Ảnh: cornell.edu
Một bức tượng Lenin bị kéo xập tại Nga sau khi chế độ Sô Viết tan rã. Ảnh: cornell.edu
Đọc bài “Stalin là người đã làm cho Liên Xô tan rã” của Peter Rutland và Philip Pomper do Phạm Nguyên Trường dịch đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi sực nhớ đến một cuốn sách rất thú vị, được xuất bản ngay sau ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười với tiêu đề “Mười ngày rung chuyển thế giới” của John Reed, một nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ, người đã có mặt trong những ngày bão táp của Cách mạng Tháng Mười. Cuốn sách được dịch ra tiếng Việt từ năm 1960 và được tái bản năm 1977.
Điều đặc biệt gây ấn tượng với tôi, là trong cuốn sách đó đã trích dẫn những văn kiện quan trọng cảnh báo Lênin về sự tan rã của Nhà nước Xô-viết, và họ đã dự báo, sự tan rã đó được manh nha ngay từ trong mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin: Ngay từ những ngày đầu tiên ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, hàng loạt nhà lãnh đạo của các đảng cộng sản đã phê phán đường lối của Lênin và dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết. Chẳng hạn, các Ủy viên Hội đồng Dân ủy của Lenin như Noguin, Rưkov, Miliutin, Teodorovitch, Shliavnikov đã ra văn bản tuyên bố:
“Chúng tôi tán thành một chính phủ xã hội gồm mọi đảng phái xã hội. Chúng tôi cho rằng chỉ có một chính phủ như vậy mới có thể củng cố được những thành quả to lớn do giai cấp công nhân và quân đội cách mạng giành được trong những ngày tháng 11 vừa qua. Ngoài chính sách đó ra, chúng tôi chỉ nhìn thấy có một khả năng, là duy trì một chính phủ hoàn toàn bolshevitch bằng chính sách khủng bố chính trị. Hội đồng Dân ủy đã đi theo con đường đó. Chúng tôi không thể và cũng không muốn đi theo họ. Chúng tôi nghĩ rằng con đường đó sẽ dẫn tới sự loại trừ ra khỏi sinh hoạt chính trị những tổ chức vô sản lớn, thiết lập một chế độ vô trách nhiệm và đưa cách mạng và nước nhà tới chỗ bị tiêu diệt. Tự thấy không thể chịu trách nhiệm về một chính sách như vậy, chúng tôi xin từ chức Ủy viên nhân dân trước Ủy ban Xô-viết toàn Nga” [[1]].
Đồng thời, Kameniev, Rưkov, Miliutin, Zinoviev và Noguin đã có thư xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng [[2]]:
“Chúng tôi nghĩ rằng, thành lập một chính phủ như vậy (gồm tất cả các đảng xã hội) là cần thiết để tránh một cuộc đổ máu mới, tránh nạn đói đe doạ… Chúng tôi không thể nào chấp thuận chính sách tai hại của Trung ương, chính sách chống lại ý nguyện của đại đa số giai cấp vô sản và binh lính, là những người mong muốn hòa bình giữa các nhóm khác nhau của nền dân chủ, và không muốn có đổ máu nữa. Bởi vậy, chúng tôi từ bỏ chức vụ Ủy viên Trung ương để được quyền nói ý kiến của chúng tôi với quần chúng công nông và binh lính… Chúng tôi rời Ban chấp hành Trung ương giữa lúc thắng lợi, giữa lúc đảng của chúng tôi lên nắm chính quyền, bởi vì chúng tôi không thể chịu đựng được lâu hơn nữa và đứng nhìn chính sách của những người lãnh đạo trong Ban chấp hành Trung ương dẫn chúng tôi đến chỗ mất những thành quả của cách mạng và dẫn đến chỗ tiêu diệt giai cấp vô sản”.
Sau này (1935), Trosky cũng đã dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết của Stalin. Ông viết: “Những người Leninist đã không thể bảo vệ chế độ Xô-viết khỏi tan rã và rơi vào chế độ quân chủ”. Và “Sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin là điều có thể đoán trước được và nó sẽ là sự trừng phạt đích đáng cho hàng loạt tội ác chống lại giai cấp công nhân thế giới [[3]].
Rosa Luxemburg, một nhà lý luận Marxist, nhà triết học xã hội người Đức gốc Ba Lan-Do Thái cũng có nhiều ý kiến về nền độc tài Xô-viết của Lênin [[4]], trong đó gây tranh luận nhiều nhất là hai tác phẩm “Vấn đề tổ chức của Đảng Xã hội Dân chủ Nga” (1904) và “Bàn về cách mạng Nga” (1918).
Trong bài này, bà mạnh dạn phê phán quan điểm sợ giới trí thức có ảnh hưởng nguy hiểm tới phong trào vô sản và phê phán cách tiến hành “chế độ dân chủ tập trung tàn nhẫn” là “chủ nghĩa tập trung cực đoan”, kết quả “Ủy ban trung ương trở thành hạt nhân tích cực thật sự, còn tất cả các tổ chức khác chẳng qua chỉ là công cụ chấp hành của trung ương mà thôi.”
Năm 1918, khi đang ở trong tù, bà viết bài “Bàn về cách mạng Nga”. Bản thảo chưa hoàn tất này đưa ra những ý kiến mạnh mẽ phê bình Đảng Cộng sản Bolshevich Nga, chủ yếu nói đảng này đã đối lập chuyên chính với dân chủ, nhấn mạnh chuyên chính mà thủ tiêu dân chủ.
Bà viết: chuyên chính vô sản là “chuyên chính của giai cấp chứ không phải là chuyên chính của một đảng hoặc một tập đoàn. Đó là chuyên chính thực hành dân chủ không hạn chế… tiến hành công khai với mức độ tối đa, được quần chúng nhân dân tham gia một cách tích cực nhất và không bị ngăn trở.” Bà luôn cho rằng bản chất của xã hội XHCN là ở chỗ đa số quần chúng lao động không còn là quần chúng bị thống trị mà là người chủ toàn bộ đời sống chính trị kinh tế của mình, làm chủ một cách có ý thức trong sự tự do, tự quyết.
Về dân chủ XHCN, Rosa Luxemburg bao giờ cũng liên hệ nó với khái niệm tự do và dùng khái niệm ấy để giải thích. Trong “Bàn về cách mạng Nga”, bà viết: “Tự do bị hạn chế thì đời sống công cộng của nhà nước sẽ khô khan, nghèo nàn, công thức hóa, không có hiệu quả. Đó là do thủ tiêu dân chủ mà bịt mất nguồn của mọi tài sản tinh thần và sự sôi nổi trong đời sống”.
Bà viết: “Cùng với sự áp chế đời sống chính trị của cả nước, đời sống Xô-viết nhất định sẽ ngày một tê liệt. Không có bầu cử, thiếu vắng ngành xuất bản không bị hạn chế và sự tự do hội họp… thì đời sống của bất cứ tổ chức công cộng nào cũng dần dần bị tiêu diệt, trở thành đời sống không có linh hồn, chỉ có tầng lớp quan liêu vẫn là nhân tố hoạt động duy nhất”.
Bà vạch rõ, phải cảnh giác với việc chuyên chính vô sản diễn biến thành “sự thống trị của một tập đoàn nhỏ”, “chuyên chính của một nhóm nhà chính trị”“chuyên chính trên ý nghĩa thống trị của phái Jacobin”.
Bà cảnh báo: nếu cứ để tình trạng đó phát triển thì nhất định sẽ dẫn đến “sự dã man hóa đời sống công cộng”, gây ra sự cưỡng chế, nỗi sợ hãi và nạn tham nhũng, sự “suy đồi đạo đức”.
Rõ ràng, sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết đã được cảnh báo và dựa trên nền độc tài theo mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin và càng được khoét sâu thêm bởi sự dã man hóa đời sống công cộng của Stalin.
Lời dẫn của bản dịch “Mười ngày rung chuyển thế giới” cũng cho biết, năm 1919 Lênin đã đọc John Reed một cách hứng thú và đã viết thư cổ vũ Nhà xuất bản ở Mỹ và không có ý kiến gì bác bỏ những sự kiện về lời cảnh báo của những nhà cách mạng cùng thời với ông.
V.C.Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.


[1] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 336 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[2] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 337 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[3] Trotsky: Stalin đã đánh bại cánh tả như thế nào? Báo Sự thật, Tháng 11/1935, http://www.marxists.org/vietnamese/trotsky/1935/11/taisao.htm


http://www.boxitvn.net/bai/27934

Mười ngàn người Việt ở Ba Lan sẽ được hưởng luật ân xá nhập cư trái phép

Ba Lan hiện có khoảng 70 ngàn di dân nhập cư bất hợp pháp (DR) Ba Lan hiện có khoảng 70 ngàn di dân nhập cư bất hợp pháp (DR)

Tú Anh RFI
Khoảng 10 ngàn người Việt Nam sinh sống bất hợp pháp tại Ba Lan có cơ may hợp thức hóa tình trạng cư trú. Hôm qua 26/08/2011, Tổng thống Bronislaw Komorowski đã ký sắc lệnh ban hành đạo luật ân xá trong một buổi lễ long trọng. Theo thẩm định, tại Ba Lan, hiện có khoảng 70 ngàn di dân nhập cư bất hợp pháp.

Theo hãng tin AFP, sau khi đặt bút ký ban hành đạo luật ân xá, Tổng thống Ba Lan tuyên bố là Ba Lan mong muốn là « một quốc gia cởi mở, là vùng đất lành đón tiếp những ai muốn tìm một cơ hội cho đời sống tốt đẹp hơn ».
Đạo luật bắt đầu có hiệu lực kể từ đầu năm 2012 và liên quan đến những di dân nhập cư vào Ba Lan ít nhất là từ tháng 12 năm 2007 và những người bị từ chối đơn xin tỵ nạn chính trị trước tháng giêng 2010.
Theo ước định của chính phủ thì hiện nay tại Ba Lan có khoảng 70 ngàn di dân nhập cư bất hợp pháp mà phần lớn là người Ukraina, Gruzia, Tchetnia,Việt Nam và Trung Đông.
Trong số những người góp phần vào việc vận động cho đạo luật này có một người gốc Việt Nam là cô Tôn Vân Anh, thành viên của ban chuyên vấn người nước ngoài trong chính phủ Ba Lan.

Cô Tôn Vân Anh, thành viên ban chuyên vấn chính phủ Ba Lan
 
27/08/2011
 
 

Tháng 2 năm nay, trong lúc bị đe dọa trục xuất về Việt Nam, cô Vân Anh đã được nhập tịch Ba Lan qua một sắc lệnh đặc biệt của Tổng thống. Có mặt trong buổi lễ hôm qua, cô Tôn Vân Anh cho biết thêm về ý nghĩa và nội dung của đạo luật mới này.

Nhân sĩ Việt Nam yêu cầu truyền thông Hà Nội xin lỗi đã xuyên tạc phong trào biểu tình

Giáo sư Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc trong một biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội (DR)
Giáo sư Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc trong một biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội (DR)

Tú Anh RFI
 
Hai sự kiện quan trọng đã diễn ra tại Hà Nội trong 24 giờ qua. Đầu tiên là một bức thư do nhiều nhà trí thức ký tên yêu cầu đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội xin lỗi công dân tham gia biểu tình. Sự kiện thứ hai là toàn bộ cấp lãnh đạo thành phố Hà Nội đã khẩn cấp mời và tiếp xúc với 4 vị nhân sĩ ký tên trong bản kiến nghị đòi làm sáng tỏ thông cáo cấm biểu tình của chính quyền mà không có người ký.

Lá thư gởi tổng giám đốc đài truyền hình Hà Nội đề ngày 26/08/2011 có nhiều nhà văn, trí thức ký tên như ông Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ chi, Nguyễn Quang A, Nguyễn Đăng Quang, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Xuân Nguyên …. phản đối chương trình của đài ngày 22/08/2011 đã có những lời bình luận « xuyên tạc vu khống » gọi những người biểu tình phản đối Trung Quốc xâm chiếm biển đảo Việt Nam là những kẻ « phản động », là « thế lực thù địch » phải trừng trị.
Các tác giả nhấn mạnh các cuộc biểu tình bày tỏ lòng yêu nước đã diễn ra một cách ôn hòa, giám đốc công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh đã công nhận và báo chí quốc tế khen ngợi. Kiến nghị yêu cầu đài Truyền hình Hà Nội phải cải chính và xin lỗi đã xúc phạm đến công dân.
Sự kiện thứ hai là sáng nay toàn bộ lãnh đạo thành phố đã tiếp kiến 4 vị đại diện những người gởi kiến nghị về « thông cáo cấm biểu tình » phản đối Trung Quốc xâm lấn. Bốn nhân vật nhận lời mời là tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, chuyên gia kinh tế Nguyễn Quang A, giáo sư Nguyễn Xuân Diện và giáo sư Chu Hảo.
Theo trang blog Nguyễn Xuân Diện, cuộc gặp gỡ diễn ra từ 9 giờ sáng đến 11giờ 45 tại Ủy ban Nhân dân. Phía chính quyền tiếp đón « trọng thị » có Bí thư thành ủy Phạm Quang Nghị Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo và giám đốc công an thành phố Nguyễn Đức Nhanh.
Phái đoàn nhân sĩ yêu cầu phải làm sáng tỏ tính pháp lý của bản thông cáo cấm biểu tình, về việc bắt giữ công dân cũng như xin lỗi nhân dân về cách đưa tin có ác ý đối với người biểu tình trên đài truyền hình Hà Nội, báo An Ninh thủ đô và Hà Nội mới.
tags: Việt Nam

Singapore bầu cử tổng thống tự do

Ông Tony Tan, ứng cử viên thuộc đảng cầm quyền Singapore (Reuters)
Ông Tony Tan, ứng cử viên thuộc đảng cầm quyền Singapore (Reuters)

Tú Anh RFI

Hôm nay 27/08/2011, khoảng 2,3 triệu cử tri Singapore bỏ phiếu chọn một vị nguyên thủ quốc gia trong số 4 ứng cử viên. Lần đầu tiên từ năm 1993, bầu tổng thống tại Singapore mang ý nghĩa trọn vẹn của một cuộc tuyển cử tự do đa đảng. Từ một thể chế độc đoán, đảo quốc Sư tử chuyển theo xu hướng dân chủ của thời đại.

Tại Singapore, tháng năm vừa qua, một cuộc chuyển đổi mạnh dạn trong xã hội đã ghi dấu ấn qua cuộc bầu cử Quốc hội. Các tổ chức đối lập đã tạo một sức bật lịch sử với 40% phiếu tín nhiệm. Tuy cách phân phối đơn vị bầu cử còn bất lợi cho đối lập, cho phép phe chính quyền tiếp tục chiếm đa số áp đảo 81 trên 87 ghế dân biểu nhưng tình trạng bầu cho có lệ đã chấm dứt.
Trong hai lần bầu cử trước, đương kim Tổng thống S.R Nathan được xem như được áp đặt hơn là bầu vì hội đồng bầu cử đã bác bỏ các ứng cử viên khác. Lần này cử tri có đến 4 ứng cử viên tổng thống.
Ứng cử viên của phe chính quyền là ông Tony Tan, hiện nay là phó thủ tướng chạy đua với ba đối thủ, tất cả đều thuộc các tổ chức đối lập, và chỉ trích nghiêm khắc đảng Nhân Dân Hành Động cấm quyền liên tục từ hơn nửa thế kỷ.
Nếu chiếc ghế tổng thống rơi vào tay đối lập thì dù cho vai trò của nguyên thủ quốc gia là biểu tượng, một vị tổng thống đối lập vẫn có thể sử dụng quyền phủ quyết để can thiệp vào việc bổ nhiệm viên chức cao cấp vào các vị trí then chốt cũng như việc phân phối tài nguyên thiên nhiên.
Trong mọi trường hợp, Singapore không thể cưỡng lại trào lưu và khát vọng cải cách. Từ khi tách ra khỏi liên bang Malaysia trong thập niên 1960, kinh tế Singapore tăng trưởng không ngừng, gần 15% trong năm 2010.
Có lẽ do vậy mà luật bầu cử tại Singapore buộc ứng cử viên tổng thống phải là người đứng đầu một công ty lớn có doanh số trên 100 triệu đô la bản xứ, tương đương với 58 triệu euro. Số nhà triệu phú ở quốc đảo chiếm 15% dân số và có hơn 80% dân chúng có nhà riêng.
Singapore còn là một chế độ trong sạch không mang tai tiếng tham ô như một số chính quyền lân bang. Thế thì tại sao đối lập lại mỗi ngày mỗi mạnh?
Theo giới phân tích, nguyên nhân sâu xa có lẽ là dân chúng khao khát quyền tự do ngôn luận, được phát biểu ý kiến và sự suy nghĩ của mình một cách thoải mái hơn.
Ba triệu dân Singapore tiếp cận thông tin qua mạng xã hội Facebook trong khi truyền thông chính thức vẫn còn thái độ rụt rè, mặc dù lần đầu tiên báo chí nhà nước tham gia theo dõi và loan tin hoạt động của các ứng cử viên đối lập.
Luật pháp Singapore vẫn còn nhiều bất công chẳng hạn như cấm đình công và biểu tình nhưng cảnh sát không sách nhiễu những cuộc meeting của đối lập. Điển hình là những cuộc nói chuyện của ứng cử viên Tan Jee Say quy tụ cả rừng người.
Một dấu hiệu nữa chứng tỏ người dân Singapore đang quen dần với một số hình thức tự do thông tin. Trong đợt vận động tranh cử lần này, trên mạng internet xuất hiện các tin đồn bất lợi cho ứng cử viên của chế độ Tony Tan làm ông phải vội vã cải chính. Tin đồn đó là ba người on trai của ông đã được ưu đãi khi thi hành nghĩa vụ quân sự.
Giờ cải cách đã điểm. Một dân biểu của đảng Nhân Dân Hành Động, ông Zainuddine Nordin, 48 tuổi, nói tiếng Pháp tuyệt hảo, nhận định rằng “thế hệ người dân Singapore không biết những khó khăn của thời kỳ hậu độc lập muốn phát biểu tự do nhưng họ thấy rằng cách điều hành nhà nước cứ vẫn như cũ”.
Một cựu phóng viên, nay hoạt động xã hội, bà Breama Mathiaparanam cũng khẳng định đã đến lúc đảng cầm quyền phải nhìn ra thực tế đừng tưởng lầm rằng người dân Singapore chỉ chạy theo đồng tiền mà không cần đến lý tưởng.
tags: Châu Á - Phân tích - Singapore
 
Vdn : Bao giờ Việt Nam được như Singapore ? 

THỦ TƯỚNG TRỰC TIẾP PHỤ TRÁCH CÁC VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG, HẢI ĐẢO ( Nguyễn tấn Dũng chia quyền hành, chờ xem hắn giải quyết vấn đề BIỂN ĐÔNG và các đảo HOÀNG SA với TC ra sao ...??

Posted on by saohomsaomai

Ngày 25.8, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 1476/QĐ-TTg phân công công tác của Thủ tướng và các Phó Thủ tướng Chính phủ.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Ảnh: chinhphu.vn
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo, quản lý toàn diện mọi hoạt động thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ. Trực tiếp chỉ đạo, điều hành các lĩnh vực công tác sau đây:
- Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cả nước và các vùng (bao gồm cả quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất).
- Chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Chiến lược, chính sách tài chính, tín dụng, tiền tệ quốc gia.
- Chi ngân sách nhà nước hàng năm (cả trái phiếu Chính phủ); sử dụng Quỹ dự trữ ngoại hối Nhà nước; phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ; kế hoạch cung ứng tiền hàng năm.
- Công tác bảo đảm quốc phòng và an ninh.
- Công tác đối ngoại của Chính phủ; công tác biên giới và các vấn đề Biển Đông – Hải đảo.
- Công tác cải cách hành chính; xây dựng thể chế; tổ chức bộ máy và công tác cán bộ; địa giới hành chính nhà nước; những vấn đề chung về công tác dân tộc, tôn giáo và thi đua, khen thưởng.
- Những nhiệm vụ đột xuất, quan trọng và những giải pháp có tính đột phá trên các lĩnh vực.
- Quan hệ phối hợp giữa Chính phủ với các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.
Theo dõi và chỉ đạo: Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Thông tấn xã Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam.
Trực tiếp làm nhiệm vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; Chủ tịch Hội đồng Thi đua – Khen thưởng Trung ương; Chủ tịch Hội đồng quốc gia giáo dục và Chủ tịch một số Hội đồng, Ủy ban quốc gia và Trưởng một số Ban Chỉ đạo quan trọng khác.
Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc:
Giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ chuyên trách chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và trực tiếp làm nhiệm vụ Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.
Làm nhiệm vụ Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng Chính phủ. Giúp Thủ tướng Chính phủ, Bí thư Ban Cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo, xử lý các công việc thường xuyên về công tác tổ chức cán bộ của Chính phủ và Ban Cán sự Đảng Chính phủ.
Giúp Thủ tướng Chính phủ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác thuộc khối nội chính bao gồm:
- Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
- Công tác bảo đảm an toàn giao thông.
- Phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; phòng chống HIV/AIDS.
- Công tác đặc xá.
- Cải cách tư pháp.
- Xử lý các vấn đề thường xuyên về công tác dân tộc, tôn giáo và thi đua khen thưởng.
- Phối hợp công tác giữa Ban Cán sự đảng Chính phủ với Ban Bí thư Trung ương Đảng; giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi và chỉ đạo: Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng; Bộ Nội vụ; Bộ Tư pháp; Thanh tra Chính phủ; Ủy ban Dân tộc; Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Văn phòng Ban Cán sự Đảng Chính phủ.
Làm nhiệm vụ Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Bắc; Chủ tịch Phân ban hợp tác Việt Nam – Lào trong Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Lào; Chủ tịch Ủy ban An toàn giao thông quốc gia; Chủ tịch các Hội đồng, các Ủy ban quốc gia, Trưởng các Ban Chỉ đạo khác theo các lĩnh vực có liên quan.
Các công việc khác theo sự phân công, ủy nhiệm của Thủ tướng.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải:
Giúp Thủ tướng Chính phủ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác trong khối kinh tế ngành và phát triển sản xuất bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, thương mại – xuất nhập khẩu, xây dựng, giao thông vận tải, tài nguyên và môi trường.
- Chỉ đạo bảo đảm năng lượng và tiết kiệm năng lượng.
- Các dự án đầu tư trọng điểm quốc gia và các dự án nhóm A có nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
- Các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất.
- Phát triển các loại hình doanh nghiệp và kinh tế hợp tác, hợp tác xã.
- Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) và đầu tư ODA.
- Công tác phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi và chỉ đạo: Bộ Công Thương; Bộ Xây dựng; Bộ Giao thông vận tải; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Làm nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; Chủ tịch các Hội đồng quốc gia, Trưởng các Ban Chỉ đạo khác theo các lĩnh vực có liên quan.
công việc khác theo sự phân công, ủy nhiệm của Thủ tướng.
Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân:
Giúp Thủ tướng Chính phủ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác thuộc khối khoa giáo – văn xã, bao gồm:
- Giáo dục và đào tạo (cả về dạy nghề).
- Khoa học và công nghệ.
- Lao động, việc làm và các vấn đề xã hội.
- Thông tin và truyền thông.
- Văn hóa, du lịch; thể dục, thể thao.
- Công tác y tế; chăm sóc sức khoẻ, dân số gia đình và trẻ em.
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi và chỉ đạo: Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Y tế; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Khoa học xã hội Việt Nam; Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
Làm nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc phòng – an ninh Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo nhà nước về du lịch, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin, Chủ tịch Hội đồng Phát triển bền vững quốc gia, Chủ tịch các Hội đồng quốc gia, Trưởng các Ban Chỉ đạo khác theo các lĩnh vực có liên quan.
Các công việc khác theo sự phân công, ủy nhiệm của Thủ tướng.
Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh:
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi, chỉ đạo các lĩnh vực công tác:
- Khối kinh tế tổng hợp, bao gồm: kế hoạch; tài chính, giá cả; tiền tệ ngân hàng; thị trường chứng khoán, các nguồn đầu tư tài chính; dự báo và chính sách điều hành kinh tế vĩ mô.
- Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước.
- Theo dõi chỉ đạo đàm phán và thực hiện các Hiệp định kinh tế song phương và đa phương.
- Chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
- Chính sách phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.
Giúp Thủ tướng Chính phủ theo dõi và chỉ đạo: Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước.
Làm nhiệm vụ Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; Trưởng Ban Chỉ đạo nghiên cứu và thực hiện cải cách chính sách tiền lương nhà nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Trưởng Ban Chỉ đạo tái cơ cấu Tập đoàn Vinashin; Chủ tịch các Hội đồng quốc gia, Trưởng các Ban Chỉ đạo khác theo các lĩnh vực có liên quan.
Các công việc khác theo sự phân công, ủy nhiệm của Thủ tướng.

 http://saohomsaomai.wordpress.com/2011/08/27


Chương Trình Phát Thanh Tối Thứ Bảy 27.08.2011

Đột phá trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo

Nam Nguyên, phóng viên RFA

2011-08-27
Phấn khởi với 7.000 héc-ta thí điểm của các cánh đồng sản xuất lúa tập trung, Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn hy vọng phát triển 200.000 héc-ta theo mô hình cánh đồng mẫu vào năm 2013.
Photo courtesy of T.Tú/tuoitre.vn
Thu hoạch lúa ở “cánh đồng mẫu lớn” huyện Châu Thành (An Giang)
Nam Nguyên trình bày vấn đề này.

Mô hình ‘cánh đồng mẫu lớn’

Nông hộ nhỏ cánh đồng lớn là ý tưởng của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn từ nhiều năm qua. Nhưng phải đến vụ hè thu 2011, 13 tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long mới tổ chức thí điểm được một số cánh đồng kiểu mẫu trên diện tích tập trung và quen gọi là ‘cánh đồng mẫu lớn’.
Báo cáo tại hội nghị tổ chức ngày 22/8 tại Long Xuyên, Cục trồng trọt cho biết với 6.400 hộ nông dân tham gia vào các cánh đồng lớn, nông dân đã giảm được giá thành sản xuất mỗi kg lúa từ 120đ tới 600đ tùy vùng, lợi nhuận mỗi héc-ta cũng tăng thêm ít nhất 2 triệu, thậm chí ở Trà Vinh tăng 7 triệu đồng/ha so với sản xuất ngoài mô hình.
Nông dân còn sản xuất nhỏ rất nhiều, do vậy chúng tôi muốn có cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu tốt có chất lượng cao hơn, thì phải làm trên diện rộng thay vì làm từng người nông dân một rất là khó khăn.
TS Phạm Văn Dư
Ở những cánh đồng mẫu lớn nông dân làm trên ruộng của mình, nhưng được hướng dẫn kỹ thuật canh tác để sản xuất chung một hoặc hai giống lúa theo đơn đặt hàng. Doanh nghiệp cung cấp vật tư đầu vào như giống phân bón thuốc trừ sâu, cung cấp dịch vụ bơm tưới, dịch vụ thu hoạch bằng cơ giới và phụ trách tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.
TS Phạm Văn Dư, Cục phó Cục trồng trọt phát biểu với chúng tôi:
“Nông dân còn sản xuất nhỏ rất nhiều, do vậy chúng tôi muốn có cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu tốt có chất lượng cao hơn, thì phải làm trên diện rộng thay vì làm từng người nông dân một rất là khó khăn. Do vậy phải tổ chức lại sản xuất, làm cánh đồng mẫu lớn trong đó hàng ngàn nông dân cùng làm chung, cùng hưởng những dịch vụ, cùng hưởng những yếu tố kỹ thuật và sự đầu tư ngang nhau. Như vậy năng suất bình quân sẽ tăng lên, thay vì 1.000 nông dân sẽ có những kiểu năng suất khác nhau. Như vậy mình sẽ đưa lên năng suất bình quân cao nhất của từng nông nông dân hợp lại, bước đầu đã được sự hưởng ứng rất tốt.”

Chi phí giảm, lợi nhuận tăng

rfa-250-luadongxuan.jpg
Nông dân vùng ĐBSCL phơi lúa thu hoạch trong vụ Đông Xuân 2011. RFA photo.
Tại sao có sự chênh lệch quá lớn về tăng lợi nhuận giữa các cánh đồng mẫu lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Các chuyên gia giải thích rằng, kết quả tốt nhất là ở những nơi mà doanh nghiệp đầu tư bỏ vốn lớn để hoàn chỉnh lò sấy lúa, nhà máy xay xát, nhà kho, cung cấp toàn bộ vật tư đầu vào, tổ chức tốt thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp và tiêu thụ lúa cho nông dân với giá tốt.
Trên thực tế, Bộ NN-PTNT đã khởi động chương trình cánh đồng mẫu lớn vào tháng 3/2011, sau khi một doanh nghiệp lớn ở An Giang đã thành công trước đó với mô hình sản xuất tập trung của riêng mình. Cánh đồng lớn ở Xã Vĩnh Bình tỉnh An Giang rộng tới 1.000 ha, đây là diện tích tập hợp từ những cánh đồng nhỏ lẻ của 485 hộ nông dân ở địa phương. Vụ Đông Xuân hồi đầu năm, nông dân tham gia cánh đồng lớn Vĩnh Bình giảm chi phí sản xuất hơn 1.000đ/kg lúa, nếu trước kia họ chi phí từ 3.200đ tới 3.500đ/kg lúa thì sản xuất tập trung chỉ chi phí 2.200đ/kg lúa.
Trong cuộc phỏng vấn của Nam Nguyên, ông Huỳnh Thế Năng Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh An Giang giải thích rằng, khái niệm nông hộ nhỏ cánh đồng lớn là của Bộ NN-PTNT, còn ở An Giang đã kiên trì thực hiện mô hình gọi là cụm dịch vụ lúa gạo chung quanh một cánh đồng sản xuất lúa, có thể gọi là vùng nguyên liệu của cụm dịch vụ sản xuất lúa gạo.
Ở tại mô hình này tạo ra một điều kiện mà chúng tôi gọi là điều kiện để người nông dân thể hiện được quyền của mình hay nói cách khác là quyền của người bán.
Ô. Huỳnh Thế Năng
Theo lời ông Huỳnh Thế Năng, khâu quan trọng nhất cho tính cách thành bại là sự đề xuất và hưởng ứng của doanh nghiệp trong chủ trương sản xuất lúa gạo theo chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Vấn đề thứ nhất là nông dân được cung ứng vật tư nguyên liệu đầu vào với giá ổn định nhất và chất lượng bảo đảm. Vấn đề thứ hai đặc biệt quan trọng là khâu tiêu thụ sản phẩm, ông Huỳnh Thế Năng phát biểu:
“Tiêu thụ là một khái niệm mở, nó gắn chặt trách nhiệm của doanh nghiệp trong suốt quá trình nông dân thu hoạch. Ở tại mô hình này tạo ra một điều kiện mà chúng tôi gọi là điều kiện để người nông dân thể hiện được quyền của mình hay nói cách khác là quyền của người bán.
Khi lúa được đưa đến kho được đo độ ẩm, xác định được khối lượng thì người nông dân có quyền bán hoặc gởi lại kho trong một tháng mà không phải tính tiền lưu kho. Nếu giá cả vẫn chưa thuận để bán, người ta vẫn cho gởi lại kho nhưng nông dân phải chịu chi phí.”
Ở nhiều vùng nông dân vẫn còn e ngại khi góp ruộng sản xuất tập trung, bắt nguồn từ những kinh nghiệm cay đắng thời xa xưa. Nhưng tiếng lành đồn xa và lợi nhuận thực tế đã thay đổi cách nghĩ cách làm của nhiều người. TS Phạm Văn Dư trấn an nông dân, là trong tương lai dù có tiến tới chỗ bỏ những bờ ruộng giữa các hộ để sử dụng tối ưu máy móc nông nghiệp, thì nông dân vẫn có thể yên tâm về vấn đề sở hữu.
000_Hkg3834085-250.jpg
Nông dân Đặng Thị Bảy tồn trữ gạo tại nhà ở tỉnh Tiền Giang hôm 06/6/2010. AFP photo
“Nếu anh muốn được hưởng dịch vụ máy gặt đập liên hợp tất nhiên anh phải tối thiểu hóa những cái ngăn cách giữa các thửa ruộng với nhau. Đó là tùy theo sự hợp tác của người nông dân, nhưng để hưởng những dịch vụ ấy thì có thể chỉ còn lại những cột mốc thôi. Nhưng chúng ta đưa vào máy tính… quản lý bằng cách ấy sẽ tốt hơn. Người nông dân vẫn sở hữu ruộng đất của mình nhưng bờ ruộng sẽ không còn, nó được tạm thời mở ra để có diện tích lớn để gieo cùng một giống đồng loạt, thí dụ như thế.”
Theo TS Phạm Văn Dư nếu vận dụng được nguồn vốn của xã hội, liên kết chặt chẽ 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học và doanh nghiệp thì sự phát triển những cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long là khả thi. Người đại diện của Cục trồng trọt lạc quan tin tưởng cuối năm 2011 có thể nâng tổng diện tích cánh đồng lớn lên 20.000 ha, cuối năm 2012 từ 40.000-80.000 ha và đến năm 2013 đạt 200.000 ha.
Dù có thể phải hàng chục năm nữa, sản xuất tập trung theo mô hình cánh đồng lớn mới phủ trùm hết diện tích trồng lúa gần 2.000.000 ha ở đồng bằng sông Cửu Long, nhưng trong ý nghĩa nào đó cuộc cách mạng lúa gạo đã bắt đầu.

Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/turning-point-in-the-mekong-delta-nnguyen-08272011123111.html

Lý Đợi và tập thơ chọn lọc “Khi kẻ thù ta buồn ngủ”

Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2011-08-27
Lý Đợi sinh năm 1978 tại làng Khúc Lũy, Điện Bàn, Quảng Nam.
Photo courtesy of www.tienve.org
Bìa tập thơ song ngữ Việt/Anh “Khi kẻ thù ta buồn ngủ/When our enemy falls asleepP” do NXB Giấy Vụn xuất bản lần thứ nhứt tại Sài Gòn quý I/2010.


Anh tốt nghiệp Cử nhân Văn chương năm 2001. Hiện sống tại Sài Gòn, sinh hoạt kiếm sống như một nhà văn và nhà báo tự do. Anh viết đủ thể loại trong đó có nghiên cứu và phê bình lý luận văn học. Anh cũng có những sinh hoạt văn học khác rất cá biệt và không ít người cho là lập dị. Cùng với Bùi Chát, Lý Đợi chủ trương nhà xuất bản Giấy Vụn được tổ chức Internationl Publishers Association trao tặng giải Freedom to Publish năm 2011 tại Hội sách Quốc tế Buenos Aires, Argentina.
Lý Đợi là thành viên trụ cột của nhóm Mở Miệng, gồm Bùi Chát, Khúc Duy, Nguyễn Quán, và nhiều người khác. Lý Đợi cùng với các bạn khởi xướng và cổ xúy cho phong trào in tác phẩm photocopy tại Việt Nam.
Nói về sự chọn lựa của anh với các bài thơ trong tác phẩm “Khi kẻ thù ta buồn ngủ” Lý Đợi cho biết:
“Với tôi tác phẩm này là một kỷ niệm. Kỷ niệm theo nghĩa tôi chọn những bài mà tôi đã viết trong quãng thời gian năm năm từ 2003 tới 2008. Chọn lựa của tôi có thể khác với chọn lựa của người khác vì tôi đặt một chủ đề trước khi chọn chứ không phải chọn lại những bài tạm gọi là tiêu biểu hay ưng ý của tôi. Trong tập này có nhiều bài tôi không ưng ý nhưng do tôi chọn chủ đề cho tập thơ trước khi chọn trong mấy trăm tác phẩm mà tôi đã viết trong 5 năm qua.
Tập thơ này cũ theo nghĩa là nó không có nhiều bài mới. Trong 23 bài thì chỉ có một hai bài mới viết cuối năm 2008, nhưng với tôi nó lại mới theo cái nghĩa được chọn theo chủ đề. Chủ đề này nó cũng khép lại cho quá trình tôi đi trong 5 năm sẽ xuất bản tập thơ mới vì tôi tính xuất bản tập thơ mới trước rồi mới in tuyển tập này sau, nhưng sợ tập thơ mới sẽ làm mình mất cảm hứng. Hơn nữa mình cảm thấy trong quá trình 5 năm đó những bài thơ này được xuất hiện đây đó trên mạng nên bây giờ lần đầu tiên nó xuất hiện trong tuyển tập cũng là điều hay. Kỷ niệm có nghĩa là vậy.”
ly-doi-250.jpg
Lý Đợi.Linh hồn của nhóm “Mở miệng”. Photo courtesy of Dieucaycopy’s blog.
Bài đầu tiên của tập thơ có tựa “Vì em là con gái” đã làm không ít người đọc hụt hẫng mặc dù đã chuẩn bị cách đọc vì biết sự thể hiện ngôn ngữ của Lý Đợi không hề dễ gặp ở những cây bút khác. Chi tiết trong câu chuyện như cắm mũi lao cùn vào trí nhớ của người đọc vì hình như câu chuyện này đã hơn một lần họ được nghe đâu đó nhưng mãi đến nay mới được trình chiếu lại trên màn hình hiện thực. Câu chuyện qua tay Lý Đợi trở thành siêu thực và những biểu cảm nhầy nhụa khiến đôi mắt người đọc bài thơ phải láo liên lo sợ cho chính người thân của mình trở thành cô gái ấy.
Vì em là con gái
Mười sáu ngày tuổi bị giật mình bởi tiếng súng trong doanh trại quân đội gần nhà

Mười sáu tuần tuổi bị thay sữa bằng bia hơi

Mười sáu tháng tuổi bị hiếp lần 1 bởi tay chủ nhà trẻ muốn chiếm lấy hin

Mười sáu tuổi bị hiếp lần 4 bởi thầy giáo dạy công dân

Từ mười bảy trở đi, sách kỉ lục ghi thành tích như sau:
– Mười sáu lần bị từ chối nhập trường học vì ăn mặc hở hang – Mười sáu lần lấy chồng nước ngoài, trừ châu Âu và Mỹ
– Mười sáu lần mắc bệnh về đường sinh dục
– Mười sáu lần vào tù ra trại với giấy chứng nhận phục hồi nhân phẩm
– …
Vì em là con gái của xứ sở mà anh [thì] hùng, em [thì] hèn
Vì em là con gái của nơi mà chữ và nghĩa tách rời nhau
Vì em là con gái của những điều không thuộc về lễ
Vì em là con gái của tiếng súng và bạo lực
Vì em là con gái của những kẻ mù màu và huyễn hoặc
Vì em là con gái của những tiếng khóc thầm lặng…
Và vì em là con gái
Và vì em là mẹ của tất cả chúng ta
Vậy mà…
đa phần vẫn buột miệng: à há!
Lý Đợi lấy chất liệu từ những câu chuyện xảy ra hay sắp xảy ra bên ngoài xã hội. Chính xã hội làm thơ anh, nếu phải gọi là thơ, bám theo để phản chiếu phần lõi của nó. Những bật khóc vì tình hay chờ đợi sự mầu nhiệm nào đó không có mặt trong thơ Lý Đợi. Thô nháp và cục cằn như đá, từng lời thơ của anh rơi theo chiều thẳng đứng xuống không gian tối thăm thẳm đầy những hoài nghi bởi thất lạc niềm tin. Trong bài “Viên đạn lịch sử F12”, với một ít kịch tính trong cách viết, bài thơ kéo dài hơn sáu mươi năm trình bày sự thua cuộc của lịch sử qua từng giai đoạn bởi niềm tin thơ ngây, già nua án ngữ những vươn tới của tuổi trẻ.
Viên đạn lịch sử F2
Mấy hôm trước, báo đưa tin, hiện có một vài học sinh phổ thông [khoảng 24 triệu đứa], nói tiếng Việt, được chẩn đoán là bị đạn bắn vào mép tim, dọc sọ, và giữa háng.
Những viên đạn đã gỉ sét, gây đau đớn, khiến khó thở…; và đặc biệt, được bay một cách chậm rãi, lạnh lùng từ hơn 30 năm [mà không: hơn 60 năm] trước – và tất nhiên, đã được thông báo, định hướng cẩn thận.
Tất cả lũ trẻ nghe tin tuyên truyền là sẽ được giải phẩu để lấy đạn ra – điều đó giống như một phép màu.
Lũ trẻ sẽ có dịp cảm ơn “thiên tài” của trời phật đã giúp chúng được sống tiếp quãng đời còn lại.
Và đương nhiên rồi, điều đó chỉ có thể diễn ra [và thành hiện thực xã hội…] khi thực sự có những phép màu… Mà những phép màu ấy, phải thoát ra được cảnh tù đày của chính mình.
Vấn nạn xã hội mỗi nước một khác, nhưng mại dâm là cái mà mọi xã hội đều na ná như nhau ngoại trừ Việt Nam. Mại dâm vùng miền tại đây trở thành vết xước vừa đau xót, vừa bẽ bàng đôi khi trở thành chai lì đến nghiệt ngã. Lý Đợi nhìn góc tối của vấn đề này một cách dễ chịu và không hiểu tại sao anh không đặt cái tựa của bài thơ là “Đương nhiên miền Tây”?
Nhân đi massage, gặp nữ lưu hào kiệt
massage-250.jpg
Hai cô gái Việt Nam ngồi trò chuyện với một người nước ngoài tại một phòng trà ở Hà Nội. Ảnh mang tính minh họa. AFP photo.
Tôi hỏi em tên gì?
– Em trả lời: Diễm Phượng Thu Hồng Nga Mai Kiều Vân… anh thích tên nào cũng được
Em nhiêu tuổi?
– Mười sáu mười bảy, mười chín đôi mươi… anh thích bao nhiêu em cũng chiều
Quê đâu?
– Đương nhiên miền Tây, dù thực chất em dân Hà Nội
Cá tính?
– Yêu âm nhạc, ghét thể thao, thích thẳng thắn, sợ cô đơn
Tình trạng gia đình?
– Độc thân, vui tính, ở trọ, nhưng có bé trai 3 tuổi
Nghề nghiệp?
– Tên khai thuế: Nhân viên phục hồi sức khoẻ, có cấp thẻ hành nghề
– Tên thường gọi: Chuyên viên massage
Với Lý Đợi những mẩu tin hàng ngày trên các tờ báo lá cải có thể biến thành thơ, hay cái gọi là thơ, rất dễ dàng. Không cố nắn gọt cho sự kiện trở thành thơ theo hướng dễ coi hơn, mà ngược lại, Lý Đợi đã đẩy tận cùng sự kiện thành các câu hỏi xoáy sâu vào ý thức của con người hôm nay. Thơ Lý Đợi đem vấn đề gai góc bồng bế nhau lủng lẳng treo ngược trong tim người đọc khiến họ khó chịu, bực mình nhưng rất cần thiết. Trong bài “Những gì tôi thấy, hay là Bài tường thuật từ thành phố bị vây hãm” anh viết:
Những gì tôi thấy, hay là Bài tường thuật từ thành phố bị vây hãm
tôi thấy những kẻ lai căng
những kẻ quyền cao chức trọng
bọn trọc phú… đang bứt từng miếng da trên bộ xương héo mòn của dân tộc
tôi thấy bọn mạo danh
bọn khát máu
bọn đần ngu
bọn ma mãnh… đang gia nhập vào các sắc-quân phục
tôi thấy bọn đồ tể
bọn tay sai
bọn nghe-rình lén
bọn cải trang luật pháp
bọn đội lốt công quyền… đang ẩn mình trong các văn phòng
đang tham ô, móc ngoặc, ăn lương và chơi điện tử
tôi thấy… tôi thấy
tôi:
một kẻ có râu từng bị ép mặc đồ lót nữ
từng bị ép hiếm dâm trẻ vị thành niên
từng bị ép khai tên các thi-nghệ sĩ cùng thời
từng bị truy vấn về số tiền ăn xôi mỗi sáng…
tôi:
mỗi tuần xóc lọ* hai lần
tôi đã thấy ngày một thêm già xin ăn
trẻ mù chữ
thanh/ trung niên thất nghiệp… tôi đã thấy
không phải quỷ hút máu người mà người “đỏ” hút người “vàng”
không phải ai tỉnh ai điên mà tất cả bị làm cho dở hơi
không phải ai hay ai dở mà chỉ nói với nhau bằng bệnh thành tích…
tôi đã thấy
điều đó không quan trọng
điều đó thật phản động
điều đó làm lộ bí mật quốc gia
điều đó nhảm nhí… vì tất cả mọi người đều thấy
vì tất cả mọi người tự dán keo vào mắt chính mình
“Khi kẻ thù ta buồn ngủ” là tựa của một bài thơ có vần cuối lập lại với nhau từ câu đầu tới câu chót. Chính việc lập lại một vần duy nhất trong toàn bài làm bài thơ mang chiếc áo khoác rách rưới cải trang thành ăn mày ngôn ngữ và chính sự cải trang này đã nhạo báng và là chìa khóa mà tác giả trao cho người đọc mở toang cánh cửa vô lý, hèn mọn, khuynh loát của thành phần cai trị và cơ hội, ăn theo.
Khi kẻ thù ta buồn ngủ
………………
Thì chúng ta đã ngủ
Vợ và con gái và bọn đàn bà [nói chung] đang mơ ăn thù đủ*
Đám nhà thơ nghĩ mình nằm trong hũ
Bọn chính khách thì móc đứng mình trong tủ
Bọn công an mắt bị bưng mủ
Tất cả là giấc ngủ
Quên đi chuyện ấp ủ
Nguyên đây chỉ vần… ủ!
Chúng đột kích ta từ phía sau
Mở toang cửa vào vườn rau
Đắp đường làm cầu
Diệt xong bến Văn Lâu
Giành đánh trống chầu
ly-doi-200.jpg
Nhà thơ Lý Đợi. Photo courtesy of www.tienve.org.
“Khi ngồi chọn ra ban đầu tôi chọn được 46 bài. Trong khi làm mục lục mới lược bỏ ra phân nửa. Tôi thường đọc các tập thơ có thể theo chủ quan của tôi, tôi cho rằng đối với tôi một tập thơ hay không phải tất cả bài thơ đều là thơ hay mà nó phải có câu chuyện mà mục lục là cái thể hiện cho câu chuyện đó rõ nét nhất. Cũng như một cuốn sách nghiên cứu vậy, mục lục mà kém thì tôi không quan tâm nhiều tới cuốn sách đó.
Trong tập thơ này tôi muốn bài đầu tiên người con gái lúc đó chỉ 16 tháng tuổi đã bị hiếp dâm, cho tới khi cô ấy lên 16 tuổi thì bị hiếp dâm lần thứ tư, tức là độ tuổi vị thành niên tại Việt Nam. Sự hiếp dâm đó nó sinh ra cái gì? Nó sinh ra câu chuyện mà những bài khác nó nói…để gần tới cuối cùng nó sinh ra “Những người ăn xin ở Hà Nội”, “Những gì không đến từ Việt Nam” rồi “Lời kết cho một tập đoàn phản động” cuối cùng thì nó lộ ra việc “Khai quật bản sắc văn hóa Việt Nam”.”
Lý Đợi vừa cho biết cách chọn lựa thơ trong tập “Khi kẻ thù ta buồn ngủ” của anh. Bài “Mới khai quật bản sắc văn hóa Việt Nam” có lẽ là bài thơ cay đắng nhất mà tác giả lựa chọn trong tập thơ này.
“Bản sắc dân tộc” có lẽ là câu nói cửa miệng mà người ta thường nghe các quan chức văn hóa lập đi lập lại trong những bài diễn văn, thông báo, truyền đơn vận động một phong trào nào đó. Qua bộ lọc của Lý Đợi thì cụm từ này trở thành vô nghĩa thảm hại, núp phía sau những từ ngữ có cánh tụng ca một điều không thật với mục đích ru ngủ, mị dân và nhất là mụ mị chính những kẻ mang danh làm văn hóa.
Có trời mới biết nó là gì…
Như một số báo chí đã đưa tin, vừa qua, ông Nguyễn Văn Cù, nông dân ở Thanh Hóa, đã tìm thấy bản sắc văn hóa Việt Nam trong khi đang đào ao nuôi cá. Ông Cù kể: “Chúng tôi đào sâu năm mét thì gặp phải vật lạ. Khi tôi và anh em lôi được nó lên trên mặt đất thì tôi nghi ngay đây là bản sắc văn hóa Việt Nam bởi tôi thấy nó rất là kì dị.” Ông Cù báo lên Ủy ban Nhân dân tỉnh, và ngay hôm sau một đoàn các nhà sử học và khảo cổ học trung ương đã tới hiện trường xem xét. Giáo sư sử học Trần Văn Lân, 84 tuổi, khẳng định: “Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là cái na-xiông-nan i-đăng-ti-tê, cái bản sắc văn hóa Việt Nam rồi. Những xét nghiệm đầu tiên cho thấy nó có xuất xứ từ thời các cụ.””
Trong đoạn cuối của bài thơ Lý Đợi viết:
Có trời mới biết nó là gì…
Trong thời gian tới, các nhà sử học và khảo cổ quốc gia sẽ tiếp tục phân tích hiện vật mới tìm thấy. Giáo sư Lân cung cấp thêm thông tin: “Các xét nghiệm phải bảo đảm tính trung thực và khoa học cao.
Ví dụ, hiện nay bản sắc văn hóa Việt Nam hơi có mùi, nhưng chúng tôi chưa kết luận được là đó là một đặc tính của hiện vật, hay đó là do hiện vật nằm trong sình lầy một thời gian dài.”
Có trời mới biết nó là gì…
Thì đó là bản sắc văn hóa Việt Nam
Nó giống như một xác chết thối
Giống như một cái gối cũ
Như một vết thương bưng mủ
Được lôi lên từ vũng bùn
Đầy mùi xú ế…
Chứ còn nghi ngờ gì nữa, rõ khổ…
Lý Đợi trong thời gian gần đây ít sáng tác hơn. Anh đang chuẩn bị cho một tác phẩm nào đó mà anh không tiết lộ. Người yêu mến văn chương Lý Đợi có thể vững tin rằng với anh, những con chữ bình thường nhất cũng trở thành nổi loạn kể cả khi chúng phản ảnh một vấn đề hiền lành hay vô thưởng vô phạt nhất.
Điều đặc biệt này làm cho Lý Đợi trở nên dễ gần hơn mặc dù thơ anh đôi khi đẩy người đọc ra xa vì chúng đòi…không gian để thở, và nhất là chúng cần chỗ trống để vung tay, gạt chân hay khom người làm trò diễu nhại, đùa cợt với những bậc thức giả nửa mùa hay các nhà văn hóa khoác chiếc áo di sản để che đậy những đìều dối trá.

Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-ly-doi-mlam-08272011091531.html

CHUYỆN QUÊ TÔI - Người Đồng Nai

Posted on by saohomsaomai

Quê tôi ngày xưa, khi cần thì người dân chúng tôi thỉnh thoảng nhờ đến cảnh sát, nhưng không sợ, vì chẳng làm gì sai trái. Quê tôi bây giờ sai hay không sai, người dân vẫn phải sợ cảnh sát công an, vì họ là người có quyền lực nhất. Tất cả các loại công an đều có quyền sinh sát trong tay. Công an là lớp người làm giàu mau, sống sang trọng nhất và sung sướng nhất trong tầng lớp nhân dân xã hội chủ nghĩa. Có rất nhiều loại công an.. Tôi xin kể trước tiên là công an kinh tế.
Công an kinh tế:

Việc chính của các ngài công an kinh tế là đi vào chợ, vào các cửa hàng. Việc đầu tiên là hoạnh họe tra hỏi các chứng từ hàng hóa, rồi kiếm cớ lấy hàng của người ta. Dù có hóa đơn hay không có hóa đơn, cũng bị chúng tìm cách tịch thu. Chúng tịch thu từ những món hàng đắt tiền, đến mớ rau mớ cá.. Những cửa hàng lớn thì chúng tịch thu (ăn cướp) hàng hóa như điện thoại di động, nồi cơm điện, máy móc, dĩa hát, máy truyền hình v..v…. Các ngài cho cớ là số hàng này nhập lậu? Người bán hàng nào biết hàng nào lậu, hàng nào không lậu? Có trời mới biết? Vì người trong thị trấn mua hàng từ các tiệm buôn ở thành phố? Khi mua hàng hóa thì phải trả tiền. Hàng hóa nhập vào trong nước, thì có nhà nước quản lý chứ, cớ sao ra đến hàng ngoài chợ bảo là hàng nhập lậu? Nhưng mọi người chỉ có miệng ăn, mà không có miệng nói. Một quốc gia không có pháp luật! Kẻ có quyền, có thế bao giờ cũng đè lên đầu đám dân đen.
Mỗi lần đi kiểm tra như vậy, bọn công an thường đem theo sau là xe tải, để chở đồ ăn cướp về. Tội nghiệp nhất là những người buôn rau, buôn cá ở vỉa hè các chợ. Công an quăng cả gánh rau, cả gánh cá của người dân lên xe chở về đồn, để chia nhau ăn. Chúng viện lý do là lấn chiếm lề đường, trở ngại lưu thông? Chẳng ai dám lên đồn mà xin lại, vì chẳng bao giờ chúng nó cho lại mà xin, đến chỉ mất công vô ích mà thôi. Hàng hóa chúng cướp giật về được chia cho các quan chức trong cơ quan ăn, gọi là hàng tịch thu.
Nhiều khi, trở ngại khi tịch thu, chúng nêu ra vấn đề “phạt.” Nếu có những món hàng giá trị, chúng muốn lấy thì chúng xoay xở bắt đóng tiền phạt, mà giá tiền phạt nhiều hơn giá trị món hàng. Giá 300 ngàn thì chúng phạt 500 ngàn đồng, thế là khi bị đóng phạt thì người buôn bỏ luôn, bỏ cả vốn thả cho chúng chia nhau ăn! Thôi thì bỏ cho yên cái thân. Đêm về nghe tủi hờn giẫm nát tim gan phèo phổi của mình. Người dân trong nước xã hội chủ nghĩa là thế đấy! Mặc nhiên chúng lấy không hàng hóa của người khác, mà chúng tôi gọi bọn cướp ngày. Tội nghiệp nhất là những người buôn gánh bán bưng. Ngày ấy coi như nhịn đói, phải đi vay mượn ít trăm ngàn tiền vốn, mua gánh hàng khác, buôn bán lại để nuôi gia đình.
Những chuyện oan ức trong nước tôi, có hàng vạn hàng ức hàng triệu chuyện như vậy. Kêu trời, trời không thấu, kêu đất đất không nghe! Kêu cán bộ chính quyền địa phương, thì có bao giờ được giải quyết đâu? Dân thấy công an kinh tế, ngoài miệng chào hỏi nhưng trong ruột thì lo sợ vô cùng.

Kế đến là công an giao thông:

Công an giao thông, trang bị sắc phục màu vàng, (nhiều người đi buôn gọi thầm là chó vàng) thường đứng tụm năm tụm ba trên các ngả đường. Có súng, có mũ hẳn hoi. Chúng nó thổi bất cứ loại xe nào đi trên tuyến đường ấy. Trước tiên là xe chở khách. Khi nghe còi thổi toe một cái thì tài xế, xuống xe mang theo giấy tờ xe, bằng lái, kèm theo 50 hay 100 ngàn tùy theo số lượng khách hàng trên xe. Thế là sau khi coi qua loa giấy tờ, chúng nó cầm được số tiền bao nhiêu, nếu ít cho xe qua bên kiểm soát, kha khá thì cho đi. Nếu tài xế nào không biết luật đưa tiền, chỉ trình giấy thì xin đậu lại chờ kiểm soát. Với mọi thủ đoạn, trăm ngàn lý do để phạt: xe chở quá tải, xe không an toàn mặt này hay mặt khác, để chúng có cớ phạt. Chúng có hàng trăm ngàn lý do, trăm ngàn thủ đoạn để phạt, chỉ vì chủ tài xe không biết “chi” cho công an. Nếu đóng phạt thì chủ xe còn gì mà ăn? Mà không đóng thì không chạy được. Người lái xe khổ, người đi đường đã khổ, người đi buôn càng khổ hơn. Một việc tốt nhất là gặp công an giao thông thì đưa tiền. Đó là luật! Luật bóc lột, luật ăn cướp!
Chúng nó ăn tiền trắng trợn, nên chỉ cần vào công an giao thông, ít nhất là một năm thì tên nào cũng nhà lầu ô tô. Vài năm sau tên nào cũng bụng phệ, xe hơi, như những chú ba tàu ngày xưa. Nước tôi chưa có ông công an nào nghèo cả.

Tiếp đến là công an hình sự:

Con ông lớn thì thường tiền dư bạc thừa, nên con cái bị xì ke ma túy. Mười ông lớn có chín ông có con cái bị bịnh này. Số khác thì ra ngoài chơi bời, đánh lộn hành hung ngay cả trường học. Ai cũng sợ cậu ấm cô chiêu, học dốt mà thầy cô cũng phải sợ, nhưng họ lại sợ công an hành sự. Công an hành sự mà gặp mấy vụ này thì no. Chúng nó bị bắt thì phải ra tay ngọt. Cho nên con ông lớn bị bắt, thì công an hình sự mập. Phải hối lộ cho chúng tiền triệu triệu, để chúng thả về, chứ không thì mất mặt ông bà lớn đấy. Quê tôi, toàn con cái ông lớn bà lớn, cán bộ cấp cao mới có tiền để xì ke, vì thừa mứa của dư của để, chứ dân đen thì đói nghèo suốt đời lấy gì xì ke. Ngoài ra, các vụ con nhà giàu có (thường là bọn móc ngoặc hoặc thân nhân cán bộ gộc) mới đủ tiền chơi những xa xí phẩm này. Họ là khách hàng tốt cho bọn công an hành sự.

Tép riu là công an xã:

Công an xã, công an khu vực, loại tép riu này cũng có nhiều cách làm tiền dễ dàng. Nhất là có người nước ngoài về, nếu vào thăm bạn bè hoặc thân nhân buổi chiều thì làm sao trình diện được. Thế là tối đến, chúng vào kiểm tra hộ khẩu. Dù chủ nhà bảo có báo ấp tạm trú đàng hoàng, nhưng chúng cứ hạch sách mãi, ít nhất phải kiếm đến hàng trăm đô la mới yên. Ngay vùng quanh Sài gòn đó chứ không phải vùng quê đâu! Ai Việt kiều về nước ít nhất bỏ bì cho công an xã 100 đô, có chỗ còn cho là ít không nhận, thế là các anh Việt kiều lo đưa thêm, có anh ra nước ngoài sợ mất mặt không dám nói đó thôi. Không chi là bị giữ “bát bo” liền. Có anh được công an mời đi, lúc đầu gia đình teo râu, nhưng thực chất là mời đi ăn và nói thật nhiều lý do, làm thế nào để anh Việt kiều phải chi số tiền từ 200 đô trở lên mới yên. Hình như ai cũng biết việc này, nhưng ai cũng giấu nhau việc này thì phải. Có phải không mấy anh chị Việt kiều? Ngay ở Sài gòn, anh chị Việt kiều về, nếu ở khách sạn thì họ đã thu tiền khách sạn rồi. Còn số khác về với gia đình, thì thân nhân đã đóng hụi chết cho họ rồi, cho nên các anh chị nào biết, cứ nghĩ là yên thân, tự do. Mất lòng công an thì hãy liệu chừng là có truyền đơn hay súng trong ba lô, hay trong hành lý dễ dàng.
Ở các nước tự do, tiên tiến. Công an hay cảnh sát là người mang lại sự bình yên, an lạc cho dân chúng, nhưng nước tôi công an là loại người đem đau khổ, tang tóc cho mọi người mọi giới. Công an như là một hung thần ám ảnh mọi người dân. Người dân cứ thế mà chịu thiệt thòi, oan ức. Những người dân lương thiện vẫn nghèo đến muôn đời, và luôn chịu mọi nỗi oan khiên.
Người làm công an phải là con cháu cán bộ, lý lịch phải ba đời và cha mẹ là đảng viên đảng cộng sản thì mới được tuyển dụng. Còn dân thường thì dù có học giỏi, có tư cách đạo đức, có khả năng thì cũng đứng xa mà nhìn. Bọn công an là thành phần ưu việt của đảng, lý lịch phải ưu việt, nên ăn cướp cũng ưu việt, cho nên càng ngày chúng càng lộng hành hơn, chúng ức hiếp người dân lành nhiều hơn.
Ai không tin mời về quê tôi, lật ngửa bàn tay thì mới biết. Vài dòng kể chuyện quê tôi làm món quà quê hương thấm đượm tình thương, với rất nhiều nước mắt, như bài ca “Quê tôi là chùm khế ngọt.” Thật ra khế không ngọt như bài ca, nhưng nó chua như khế thật đấy. Nước Việt mến yêu là cái tên, là lá bùa hộ mạng để cán bộ công an làm giàu và dân nghèo thì phải khổ suốt đời. Nhân dân có đói nghèo thì công an cán bộ mới sung sướng được chứ?

Người Đồng Nai
***

Đất Nước Tôi Bây Giờ Rất Lạ,
Từ Bao Giờ Thói Hèn Hạ Thành Quen,
Tàu nước Lạ đi vào vùng “nhạy cảm”,
Tàu nước tôi bỏ bãi cá than trời,
Ngư dân tôi cúi đầu nhẫn nhục
Hải quân Lạ ngang dọc khắp biển khơi
Công ty Lạ lên Tây Nguyên đào quặng
Dân xứ Lạ đến đập núi phá rừng
Cao nguyên ơi đâu rồi tiếng trống
Tiếng sáo buồn trôi tiếng đàn t’rưng
Đất nước tôi bây giờ rất Lạ
Phim Lạ lên ngôi, tiếng Lạ đổi đời
Hàng xứ Lạ khắp hang cùng ngõ hẻm
Em gái theo chồng Lạ kiếp đời trôi
Ôi lạ thật cái gì cũng Lạ
Đâu mất rồi con cháu Rồng Tiên
Trải bao đời lưu danh Lạc Việt
Mà bây giờ thói hèn hạ thành quen…

http://saohomsaomai.wordpress.com/2011/08/27/