Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Washington không thể dựa vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Posted on by DaVang

Ông Walter Lohman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á tại tổ chức The Heritage Foundation vừa có một bài viết trong đó cho rằng Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN giải quyết vấn đề Biển Đông với Trung Quốc bởi vì “ASEAN luôn thắng trong việc tạo ra những cam kết nhưng thua trong nội dung cam kết”.
 
AFP
Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bên lề hội nghị trên đảo Bali vào ngày 22 Tháng Bảy năm 2011.

Nếu Hoa Kỳ không tin cậy vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông và có thể sẽ có những hướng đi khác, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có là một nhân tố trong hướng đi mới đó? Quỳnh Chi tường trình trong bài sau.

Luôn để Trung Quốc lấn lướt

Bài viết của ông Walter cho thấy sự nản lòng của Hoa Kỳ đối với ASEAN khi Trung Quốc liên tiếp “chiến thắng” trước ASEAN trong vấn đề giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Cụ thể ông Walter nói rằng Trung Quốc luôn phản đối một qui tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý, phản đối đàm phán đa phương trong vấn đề Biển Đông và cho đến bây giờ Trung Quốc đã đạt được các yêu cầu ấy.
Năm 2002, bản Tuyên bố về Qui tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) được ký tên giữa ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, đây không phải là một bản qui tắc mang tính ràng buộc pháp lý. Thêm vào đó, DOC ghi rằng các vấn đề tranh chấp phải được giải quyết bằng những tham vấn và đàm phán bởi các nước có liên quan chủ quyền trực tiếp. Điều này đã giúp Trung Quốc tránh được các cuộc đàm phán đa phương.
luoi-bo-250.jpg
Bản đồ biển Đông với vùng “Lưỡi Bò” của Trung Quốc áp đặt. RFA graphic map.
Trong hội nghị các bộ trưởng diễn ra tại Bali vào tháng 7 vừa qua, cái mà ASEAN và Hoa Kỳ ca ngợi là “thành công”, thực chất chỉ là bản hướng dẫn thực hiện DOC không có tính ràng buộc pháp lý và theo ông Walter, đây càng không phải là một bước tiến đến bộ qui tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC).
Một điều nữa mà ông Walter gọi là chiến thắng của Trung Quốc tại Bali hồi tháng 7 vừa qua. Đó là bản thảo hướng dẫn muốn ghi rằng một số thành viên ASEAN có liên quan tranh chấp gặp nhau trước khi gặp Trung Quốc, nhưng câu này đã bị lấy ra khỏi bản hướng dẫn.
Hoa Kỳ luôn xem mình có lợi ích quốc gia ở Biển Đông và xem ASEAN đóng một vai trò trọng tâm trong chính sách Hoa Kỳ tại Đông Á. Trong buổi họp báo về “Sự can dự của Hoa Kỳ tại vùng Châu Á – Thái Bình Dương” tại Honolulu vào tháng 10 năm ngoái, Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng đã nói ASEAN là điểm tựa của cấu trúc các nước mới nổi trong khu vực. Và theo bà Ngoại trưởng, ASEAN đóng vai trò không thể bỏ qua trong các vấn đề chính trị, kinh tế và chiến lược.
Trung Quốc cảm thấy rằng họ làm chủ gần trọn Biển Đông. Đó là điểm bắt đầu của họ như là cách xác định ranh giới lãnh hải.
Ông Dean Cheng
Theo bài viết của ông Walter, phong cách đàm phán của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa là không tìm cách gặp nhau ở giữa đường mà tìm những điều kiện để ASEAN đồng ý với yêu cầu của phía Trung Quốc. Theo ông Walter, phong cách đàm phán của ASEAN là muốn giải quyết cho xong vấn đề này nên muốn tìm một cam kết của các bên mà không quan tâm đến nội dung trong cam kết đó là gì. Cũng theo ông này, ASEAN thắng trong việc đạt được cam kết, nhưng thất bại trong nội dung cam kết. Và theo ông Walter, đây không phải là cách đàm phán của Hoa Kỳ.
Về vấn đề này, ông Dean Cheng, chuyên gia về quan hệ của Hoa Kỳ và các nước Châu Á tại tổ chức The Heritage Foundation cho biết:
“Trung Quốc cảm thấy rằng họ làm chủ gần trọn Biển Đông. Đó là điểm bắt đầu của họ như là cách xác định ranh giới lãnh hải. Cách thức đàm phán của Trung Quốc là tuyên bố chủ quyền toàn bộ, sau đó miễn cưỡng bỏ chỗ này một chút, chỗ kia một ít để tạo ảnh hưởng đến từng nước có tranh chấp. Tôi cho rằng cách thức đàm phán này không giống với các nước có tranh chấp khác. Nói cách khác, các nước này có mục đích và tuyên bố chủ quyền có giới hạn hơn.”

Vai trò của VN

Hoa Kỳ luôn nói rằng mình có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông và dĩ nhiên vấn đề Biển Đông được giải quyết như thế nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Hoa Kỳ. Để tìm hiểu thêm, chúng tôi đã liên lạc với ông Dean Cheng để có những câu hỏi cần thiết về vấn đề này. Khi được hỏi “Nếu Washington không thể dựa vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông, vậy Việt Nam có đóng một vai trò nào trong phương hướng Hoa Kỳ giải quyết vấn đề này hay không”, ông Dean Cheng cho biết:
Dean Cheng: Việt Nam có thể tạo ảnh hưởng để khối ASEAN, gắn kết đến Hoa Kỳ, chẳng hạn như tự do thủy lộ. Việc này có thể củng cố thêm lòng tin của Hoa Kỳ vào ASEAN. Thêm vào đó, Việt Nam có thể phát triển quan hệ với Hoa Kỳ trong vấn đề an ninh, quân sự và cả ngoại giao nữa.
Quỳnh Chi: Vâng, vậy sau 15 năm bình thường hóa quan hệ, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều gọi nhau là bạn. Tuy nhiên, tình bạn của hai nước thắm thiết đến cỡ nào và ông nghĩ rằng trong tương lai mối quan hệ này sẽ phát triển đến đâu?
Tuy nhiên, rất có khả năng hai nước có một mối quan hệ quân sự sâu sắc hơn mà không cần thiết phải trở thành đồng minh mới thực hiện được.
Ông Dean Cheng
Dean Cheng: Vẫn còn nhiều hạn chế trong quan hệ Việt – Mỹ, đặc biệt trong vấn đề an ninh. Câu hỏi của cô rất thú vị nhưng tôi không chắc là có câu trả lời chắc chắn cho vấn đề này. Tuy nhiên, tôi cho rằng Việt Nam có thể sẽ mở rộng cảng để mời tàu quân sự Hoa Kỳ, hay hàng không mẫu hạm đến một cách thường xuyên. Mặt khác, Việt Nam cũng có thể tăng cường những cuộc trao đổi quân sự với các nước đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ như Phillipines, Úc hay Hàn Quốc chẳng hạn. Đây cũng là cách tạo tiền đề cho mối quan hệ Việt – Mỹ.
Quỳnh Chi: Xin lỗi, tôi cắt lời ông một chút, ông nói như vậy có phải vì những gút mắc chính trị trong quá khứ của hai nước?
Dean Cheng: Ngoài vấn đề chính trị giữa hai nước trong lịch sử, còn có những vấn đề khác. Ví dụ, Việt Nam vẫn là quốc gia một đảng và đây là một quan ngại cho một số dân biểu trong quốc hội Hoa Kỳ.
Quỳnh Chi: Vâng, trở lại quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ, giới quan sát cho rằng sẽ rất khó, ít ra là trong một thời gian ngắn, Hoa Kỳ và Việt Nam có thể trở thành đồng minh. Bởi vì việc này yêu cầu có sự tin tưởng tuyệt đối và hợp tác trong an ninh và quân sự…Không biết ý kiến của ông như thế nào?
Dean Cheng: Đồng minh có một ý nghĩa rất cụ thể. Nó bao gồm những hiệp ước chính thức, những hiệp ước quốc phòng chính thức. Tại thời điểm này, rất khó nếu không muốn nói là không thể để hai nước có một mối quan hệ đồng minh chính thức. Tuy nhiên, rất có khả năng hai nước có một mối quan hệ quân sự sâu sắc hơn mà không cần thiết phải trở thành đồng minh mới thực hiện được. Chẳng hạn, Hoa Kỳ có quan hệ quân sự thân thiết với Singapore nhưng đó không phải là mối quan hệ như Hoa Kỳ có với Nhật Bản hay Nam Hàn.
Các Tư lệnh Hải quân Malaysia, Việt Nam, Singapore đàm đạo - AFP photo
Các Tư lệnh Hải quân Malaysia, Việt Nam, Singapore đàm đạo – AFP photo
Quỳnh Chi: Câu hỏi cuối thưa ông, một khi Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN trong vấn đề biển Đông; vậy Việt Nam có nên trông chờ gì không?
Dean Cheng: A`…tôi nghĩ là Việt Nam phải “làm việc trong ASEAN và với ASEAN” để giải quyết vấn đề Biển Đông. Thực ra Việt Nam có thể áp lực nội bộ ASEAN lên tiếng mạnh mẽ hơn, phối hợp chặt chẽ hơn về vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, nếu nội bộ ASEAN vẫn còn những bất đồng, Việt Nam nên phụ thuộc vào chính họ và gia tăng quan hệ với các nước khác để cân bằng tình huống trong vấn đề Biển Đông.
Với những động thái có thể gọi là yếu ớt cùng với thành quả quá ít mà khối ASEAN đạt được trong gần 10 năm sau khi bắt đầu đàm phán với Trung Quốc, đã có ý kiến cho rằng Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN để giải quyết vấn đề Biển Đông. Có lẽ sự bất mãn này cũng làm những nước có tranh chấp phải suy nghĩ.
Thông thường, dựa vào chính nội lực quốc gia vẫn là việc đầu tiên khi giải quyết vấn đề đất nước, như ông Dean Cheng đã nói. Hôm 10 tháng 8, trao đổi với cử tri Hà Nội về vấn đề Biển Đông, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết “Việt Nam đang tăng cường lực lượng tự vệ”.
Có lẽ đây là một khởi đầu tốt, nhưng khởi đầu với tuyên bố và có tính khẩu hiệu trong khi nội lực thật sự không được khai thác và phát huy thì Việt Nam vẫn chưa thể tự mình bảo vệ mình một cách hiệu quả trước một sức mạnh hơn mình hàng trăm lần.
Quỳnh Chi, phóng viên RFA
http://www.hennhausaigon2015.com/?p=4738 

Trái phiếu Mỹ : Con dao hai lưỡi đối với Bắc Kinh

REUTERS/Tyrone Siu
 
Ngay sau khi Hoa Kỳ bị cơ quan thẩm định tài chánh hạ điểm uy tín về nợ công, Bắc Kinh đã lên tiếng cực lực chỉ trích Washington. Trung Quốc đồng thời đe dọa là sẽ đa dạng hóa việc đầu tư bằng ngoại tệ của họ. Tuy nhiên, theo giới phân tích, đó chỉ là những phản ứng tức tối, còn trong thực tế, trước mắt, Bắc Kinh không thể giảm sự phụ thuộc của họ vào trái phiếu Hoa Kỳ.
Lời lẽ phê phán của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ trong những ngày qua rất dữ dội, nào là : Bắc Kinh « kể từ nay đã có tất cả các quyền để đòi hỏi Hoa Kỳ giải quyết vấn đề nợ mang tính chất cấu trúc của họ », nào là « Dường như đã qua rồi ngày mà Chú Sam, bị công nợ đầm đìa, nhưng vẫn có thể dễ dàng lãng phí một khối lượng vô tận tiền vay từ nước ngoài », như trong bài viết của Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức Trung Quốc hôm thứ Bảy tuần trước.
Có thể nói là, phản ứng gay gắt của Bắc Kinh tỷ lệ thuận với khối lượng trái phiếu Mỹ khổng lồ mà họ đang nắm trong tay. Tính đến tháng Năm vừa qua, Trung Quốc, quốc gia chủ nợ số một của Hoa Kỳ, đã cầm giữ khoảng 1.160 tỷ đô la công khố phiếu Mỹ.
Khối lượng khổng lồ này đang trở thành một mối lo rất lớn cho cường quốc kinh tế thứ hai thế giới vì lẽ, nếu giá trị đồng đô la Mỹ sụp đổ, điều đó tất yếu dẫn đến việc dự trữ ngoại hối bằng đô la của Trung Quốc bị sụp theo với tỷ lệ tương ứng. Và đối với Bắc Kinh, điều đó có thể làm cho nền kinh tế của họ bị mất ổn định.
Chính vì lý do đó mà Trung Quốc đã muốn ‘’lên lớp’’ Hoa Kỳ để tình hình diễn biến thuận lợi hơn. Giáo sư Triệu Quan Tích, thuộc Đại học Nhân dân Bắc Kinh giải thích : « Trung Quốc, với tư cách là chủ đầu tư, có quyền bảo vệ lợi ích của mình ». Tuy nhiên, theo hãng tin Pháp AFP, quyền hành động của Trung Quốc rất hạn hẹp.
Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc - 3.197 tỷ đô la vào cuối tháng 6 - vốn đã lớn nhất thế giới, sẽ còn tiếp tục gia tăng. Khối dự trữ này lớn đến mức mà Ngân hàng Trung ương Trung Quốc trong thực tế, sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đa dạng hóa đầu tư vào ngoại tệ.
Theo ông Mã Tuấn, chuyên gia kinh tế tại Ngân hàng Deutsche Bank chi nhánh ở Hồng Kông, thì mọi quyết định của Trung Quốc bán ra một khối lượng tài sản trị giá bằng đô la lớn đều sẽ gây ra sự chú ý trên thị trường thế giới, và có thể khiến giới đầu tư hoảng hốt, và tung dự trữ đô la ra bán trên bình diện rộng.
Hệ quả của điều này là đô la sụt giá khiến cho giá trị tài sản của Trung Quốc bị sứt mẻ.
Mặt khác, theo một chuyên gia tại Công ty chứng khoán CCB International Securities, dù điểm uy tín của Mỹ bị hạ thấp xuống một nấc, công khố phiếu Hoa Kỳ vẫn hấp dẫn giới đầu tư. Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công đang đe dọa nhiều nền kinh tế châu Âu, như Ý hoặc Tây Ban Nha, trái phiếu Mỹ vẫn được coi là an toàn hơn.
Sau cùng, một số chuyên gia tiền tệ cho rằng, nếu Trung Quốc bán bớt số trái phiếu Mỹ mà họ đang có, điều đó sẽ tác động đến giá trị đồng nhân dân tệ. Đồng yuan mà Trung Quốc đang ‘’gắn’’ vào đồng đô la Mỹ và duy trì tỷ giá ở mức thấp, có thể bị sức ép phải tăng giá, điều mà Bắc Kinh không muốn vì sợ làm ngành xuất khẩu của họ bị thương tổn.
Nhìn chung, dù bực bội đối với Mỹ, nhưng Trung Quốc không thể rời bỏ công khố phiếu Hoa Kỳ. Thậm chí, theo nhận định của ông Michael Pettis, thuộc Hiêp hội Carnegie Foundation, Trung Quốc sẽ còn phải tiếp tục mua các món nợ này.

Trung Quốc thử chiến đấu cơ trên tàu sân bay

Hàng không mẫu hạm Trung Quốc bắt đầu chạy thử (REUTERS)
Hàng không mẫu hạm Trung Quốc bắt đầu chạy thử (REUTERS)
Thanh Phương
 
Tờ nhật báo chính thức của Trung Quốc Global Times (Hoàn cầu Thời báo) loan tin là quân đội Trung Quốc hôm nay (13/8/2011) có thể sẽ tiến hành thao dược với chiến đấu cơ trên chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của nước này, vừa được cho chạy thử trên biển từ thứ tư vừa qua.
Cụ thể, các chiến đấu cơ phản lực sẽ tập tiếp cận, hạ cánh và cất cánh ngay lập tức trên chiếc hàng không mẫu hạm. Theo tờ Global Times, trước đó, Cơ quan an toàn hàng hải tỉnh Liêu Ninh đã ra thông báo giới hạn việc lưu thông trên biển và liên lạc bằng sóng trong khu vực ngoài khơi tỉnh này. Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã từ chối xác nhận việc tổ chức các cuộc thao dượt nói trên. 
Các giới chức Trung Quốc khẳng định rằng hàng không mẫu hạm chỉ là phương tiện để nghiên cứu và tập luyện. Hơn nữa, phải mất nhiều năm, tàu này mới đi vào hoạt động hoàn toàn. Tuy nhiên, Hoa Kỳ hôm thứ tư vừa qua đã bày tỏ mối quan ngại về chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc, yêu cầu Bắc Kinh giải thích vì sao nước này lại cần một con tàu như thế. Hôm qua, đến lượt Nhật Bản cũng yêu cầu Trung Quốc giải thích, lưu ý rằng các hàng không mẫu hạm thường được sử dụng vào mục đích tấn công. 
Theo các chuyên gia độc lập, qua việc cho chạy thử chiếc hàng không mẫu hạm (Varyag) mua lại của Ukraina từ năm 1998, Bắc Kinh muốn gây một tác động tâm lý lên các nước láng giềng, nhất là những nước đang tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc như Việt Nam, Philippines hay Nhật Bản.
tags: Châu Á - Trung Quốc

Trung Quốc điều đơn vị đặc nhiệm tới Tân Cương

Lực lượng an ninh đi tuần tra trên đường phố Urumqi (Reuters)
Lực lượng an ninh đi tuần tra trên đường phố Urumqi (Reuters)
Anh Vũ
 
Hãng tin AFP dẫn nguồn của báo chí chính thức Trung Quốc cho hay, chính quyền Bắc Kinh đã điều một đội đặc nhiệm chống bạo động của công an tới khu tự trị Tân Cương (phía tây Trung Quốc), sau một loạt vụ bạo động xảy ra hồi cuối tháng bảy vừa rồi.
Nhật báo Trung Quốc China Daily, trích dẫn phát ngôn viên cửa lực lượng Công an vũ trang Trung Quốc cho biết, đội đặc nhiệm mang tên « Báo tuyết » đã được triển khai tại thành phố Asku, cách Kashgar 460 km, nơi vừa mới xảy ra các vụ tấn công mà chính quyền quy cho người Duy Ngô Nhĩ tiến hành, khiến 21 người thiệt mạng.
Nhiệm vụ của đội chống khủng bố là nhằm tăng cường an ninh cho hội chợ thương mại quốc tế mang tên China - Eurasia Expo, dự kiến sẽ khai mạc vào đầu tháng 9 tại Urumqi, thủ phủ của tỉnh Tân Cương.
Phát ngôn viên của công an Trung Quốc còn chỉ rõ, đội đặc nhiệm Báo tuyết có nhiệm vụ kiểm soát khu vực như thành phố Kashgar, Hòa Điền. Đây là những nơi gần đây đã xảy ra nhiều vụ bạo động.
Cuối tháng bảy vừa qua, nhiều vụ tấn công được cho là do những người Duy Ngô Nhĩ thực hiện đã liên tiếp xảy ra tại Kashgar, thành phố nằm ở cực tây của khu tự trị Tân Cương. Chính quyền Bắc Kinh quy những vụ tấn công này choà các phần tử khủng bố được huấn luyện tại Pakistan và được đưa về Tân Cương làm thánh chiến. Trong tuần lãnh đạo đảng tại Tân Cương tuyên bố sẽ cho áp dụng tại khu tự trị này « biện pháp chống khủng bố cứng rắn ».
Khu tự trị Tân Cương là nơi có hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo sinh sống. Nơi đây, vẫn thường xuyên xảy ra những vụ bạo lực mà nguyên nhân chủ yếu là do bất bình với chính quyền và do quan hệ căng thẳng giữa người Hán (dân tộc chiếm đa số ở Trung Quốc) và người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi (dân tộc sống lâu đời tại Tân Cương). Người sắc tộc Duy Ngô Nhĩ tố cáo, họ bị trấn áp về văn hóa và tôn giáo và mất dần đất sống do làn sóng người Hán kéo đến làm ăn ngày càng đông.
tags: Châu Á - Trung Quốc

Quan chức Việt Nam lại thăm tàu chiến Mỹ

Cập nhật: 04:30 GMT - thứ bảy, 13 tháng 8, 2011

Chiến đấu cơ trên boong của USS George Washington
USS George Washington có thể chở được 70 chiến đấu cơ
Vài ngày sau khi Trung Quốc thử tàu sân bay đầu tiên, Hoa Kỳ mời đoàn quan chức Việt Nam thăm hàng không mẫu hạm USS George Washington đậu ở ngoài khơi.
Một nguồn khả tín cho BBC hay đoàn cán bộ được chở bằng phi cơ ra tham quan và tham dự một số hoạt động trên tàu vào thứ Bảy 13/08.
Hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng nguyên tử này vừa quay trở lại làm công việc tuần tra biển Tây Thái Bình Dương (Biển Đông) vào hôm thứ Sáu 12/08 sau 5 ngày cho các thủy thủ nghỉ ngơi ở Thái Lan.
Trên đường về căn cứ tại Yokosuka, Nhật Bản, tàu này dừng chân ở ngoài khơi Việt Nam.
Một hàng không mẫu hạm khác của Hoa Kỳ là USS Ronald Reagan với thủy thủ đoàn hơn 5.000 người cũng bắt đầu chuyến thăm bốn ngày tới Hong Kong vào hôm thứ Sáu.
Tuy chuyến thăm của tàu Ronald Reagan có sự chuẩn thuận của Trung Quốc, sự xuất hiện cùng lúc của hai hàng không mẫu hạm khổng lồ trong khu vực chắc chắn sẽ gửi thông điệp về một sự tiếp tục hiện diện hùng mạnh của hải quân Hoa Kỳ tại đây.
Sự xích lại gần nhau hơn của Việt Nam và Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực quân sự-quốc phòng, cũng là điều mà Bắc Kinh không thể không chú ý.
Hồi đầu tháng, Tư lệnh Hạm đội 7 của hải quân Hoa Kỳ, Phó Đô đốc Scott Van Buskirk, đã tới thăm Hà Nội.
Giữa tháng Bảy vừa rồi, ba tàu chiến Mỹ cũng tham gia luyện tập chung với hải quân Việt Nam ở miền Trung.

Hợp tác hải quân

Đây là không phải lần đầu tiên quan chức Việt Nam được mời ra khơi thăm tàu sân bay của Mỹ.
Tháng Tám năm ngoái, trong đợt hoạt động chung giữa Hạm đội 7 với hải quân Việt Nam nhân 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai bên, các quan chức và sỹ quan Việt Nam đã tới quan sát các chiến đấu cơ cất cánh và hạ cánh, đồng thời tìm hiểu hoạt động của tàu USS George Washington đậu cách bờ biển Đà Nẵng chừng 200 hải lý.
Trước đó, vào tháng Tư 2009, hàng chục sỹ quan cao cấp của Việt Nam "được đón tiếp nồng nhiệt" khi tới thăm chiến hạm USS John Stennis, đậu ngoài khơi cách bờ biển phía nam Việt Nam chừng 290 hải lý.
Đầu tháng Bảy 2010, quan chức ngoại giao Việt Nam cũng thăm hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush của hải quân Hoa Kỳ đậu tại Norfolk, bang Virginia.
USS George Washington, với hơn 5.500 thủy thủ, là hàng không mẫu hạm chủ lực của Hạm đội 7.
Tàu này có thể chở trên 70 chiến đấu cơ cùng 1,5 triệu kg bom đạn.

THỦ TƯỚNG “CHA ĐẺ BOM NỔ CHẬM”

Nhiệm kỳ 1 “chế tạo thuốc nổ”.
  TT Dũng hoàn thành xuất sắc “chủ trương lớn của đảng” khởi động dự án Bauxite tây nguyên theo nguồn tin chưa kiểm chứng thì TT Dũng được lại quả 150 triệu USD từ “nhà thầu Hồ cẩm Đào” nhưng chắc không nuốt được một mình , ăn dùa thua giựt với bầy sâu mọt không khéo tụi nó thuốc Thủ tướng thấy mẹ. Làm tướng đâu phải dễ , tạo nhiều kẻ thù ra đường phải nhìn trước ngó sau nhất là phải dắt theo bầy chó dữ để đánh hơi tai họa mà “đua” cho lẹ khi thấy nợ máu xuất hiện , có khi “thế lực thù địch” đi luôn vào giấc ngủ của TT bởi chẳng có ai làm ác mà không gặp ác mộng một lần . Trường hợp lãnh tụ Bắc Hàn nằm mơ thấy bị dân ném đá làm y toát mồ hôi là vậy . Thành tích thứ hai tạm ổn (chứ không thể ổn) là vụ dong buồm ra biển lớn bằng thuyền thúng có tên gọi Vinashin , tàu chìm ngay khi hạ thủy y chang Titanic điểm chung của tai họa là thói ngạo mạn coi trời bằng vung nên trời hại , khác nhau là VipTitanic “đoàn tụ với ông bà” gần như sạch sẻ còn Vip thuyền thúng Vinashin nhờ có thuyền trưởng giỏi nên dù “tàu thúng” chìm sâu cũng chẳng chết ma nào gần như cứu được toàn bộ thủy thủ nhờ tài “quăng phao” của Thủ tướng nếu không tụi nó phun ra Thủ tướng thuộc dân ba đờ ghe mua bằng lái gió để lái tàu sắt thì coi như…đứt phim , rồi vụ tham nhũng hối lộ để in tiền Polymer chung vụ với quan chức Úc nhờ tài trí “thông manh” của Thủ tướng mà Lê đức Thúy đáp tàu theo “thánh gióng về trời” vui thú điền viên để rau Thủ tướng ở lại thế nào cũng chịu đời đắng cay , coi như có ăn có chịu để emThúy ở lại biết đâu em Thúy chảnh chọe sủa bậy thì rõ khổ . Kèm theo số thành tích kể trên kể trước thì đúng là Thủ tướng Dũng nổi tiếng nhất Châu Á về trí “thông manh” chứ thông minh bình thường như thiên hạ gặp ca đẻ khó như Thủ tướng cũng bó tay , nhất là chiêu bịt mồm trí thức , đóng cửa viện nghiên cứu phát triển IDS kịp thời chứ không thì thằng khốn láng giềng chưa chắc dám ìa vào cái nhà thờ họ…biển đông như chổ không người , thêm nữa là Thủ tướng đốn được cây cổ thụ toàn rớt nhánh to đùng suýt bể đầu sóc họng Thủ tướng nhưng nghe đâu dân chúng phản đối dữ lắm , họ nói đó là cây cao bóng cả che mát đời cu ly cu đen dân oan hay tù dự khuyết gì đó để họ phải chịu “mặt trời chân lý” của Thủ tướng chiếu qua… nóng bỏ mẹ . Nói chung là kể từ lúc Thủ tướng đốn cây đại thụ của dân còn ép gốc bằng 07 cục gạch với 03 lá bùa thỉnh từ bên Tàu , mấy quán thịt chó nó trương bảng “Tiết canh TT”  mới đọc tưởng món Tiết canh Thủ tướng làm giật bắn cả mình , hỏi ra mới biết đó là “Tiết canh Tình Ta” thay cho Viagra nhưng nghe chừng không ổn hình như dân nhậu cũng muốn…chơi chữ ?
  Việc bắt giam lại người tù lương tâm Linh Mục Tađêô Nguyễn văn Lý lúc Ông đang lâm trọng bệnh đúng là Thủ tướng tài trí can đảm hơn người , trong thiên hạ mấy ai dám làm…ác với người tu hành như Thủ tướng , thói thường thì khi bị phê phán kẻ tiểu nhân càng làm bậy hơn nữa và sau đó bớt lại chút thế là được tiếng đã tiến bộ (bịp nước ngoài thôi) , lùi một bước vờ làm lành – tiến ba bước hành ác và cứ thế mà làm , mang dân đen làm con tin đối ngoại vòi dollars là quốc sách kể từ sau 1975 . Riêng điếu cày Nguyễn văn Hải không biết còn sống hay cỏ đã bắt đầu mọc trên nấm mồ “trốn thuế” cũng chưa biết chừng , làm vài chú họa mi lạnh cẳng ngừng tiếng hót nhưng vô dụng với bầy hổ đói khát tự do . Cứ hư hư thực thực ảo ảo xào nấu đúng nghề tuyên giáo cộng sản thì đến thượng đế cũng bị lừa nói chi những kẻ từ bé đến già chỉ biết có “bác và đảng” . Xem như nhiệm kỳ 1 của TT đã qua xử dụng , phần bào chế thuốc nén thuốc nổ cơ bản hoàn thành .
Nhiệm kỳ 2 . “Thi công ngòi nổ” .
Tấn Sang “phang” Tấn Dũng ? (RFA ngày 12.08.2011 đưa tin Ông Trương tấn Sang khẳng định Việt Nam không chủ trương cho Trung Quốc khai thác bôxít)  nghĩa là VN không muốn bauxite trở thành dự án chủ trương lớn của…thằng cha cựu y tá nào đó ở nhiệm kỳ đã qua xử dụng . Ông Sang nói TQ trúng thầu xây dựng nhà máy bauxite nhôm Tân Rai ở Lâm đồng và Alumin Nhân Cơ tại Đắc nông và công nhân TQ phải rút về nước khi công trình hoàn thành , không nghe nói “nhà thầu Hồ cẩm Đào” có được đóng quân để tiếp tục “khai thác” hay không . Ông Sang cũng lưu ý vấn đề lao động không phép của công nhân TQ nhưng không đề cập ai sẽ là người chịu trách nhiệm về việc này . Tuy nhiên sự việc khó dừng lại vì…Má lỡ lấy tiền rồi con , làm thằng củ cải muối mất hứng đòi tiền lại lấy gì Má trả .
   RFA cùng ngày 02.08 đưa tin Truy tố thêm một viên chức cao cấp Úc trong Xì-căng-đan in tiền Polymer  , như vậy có thể tên Lê đức Thúy sẽ phải nhập vai diễn lần nữa với vai trò bị can , không loại trừ Lương ngọc Anh đại tá tình báo cộng sản là “em yêu” của Thủ tướng Dũng cũng bị cáo buộc trong vụ này còn ai là bóng ma sau lưng tên Lê đức Thúy và Lương ngọc Anh nữa thì không ai hiểu rõ hơn Ông…cao su đã qua xử dụng . Lần này e rằng khó nói không hoặc chưa đủ chứng cứ để điều tra sau nhiều lần csVN từ chối hợp tác như báo The Age đưa tin ngày 04.07.2011 trên trang BBC với tựa đề Vụ tiền polymer liên quan tình báo VN?
Sau vụ công an tên Minh  “thử giày” lên mặt người biểu tình chống Tầu xâm lược ở hà nội đến tên Trần bình Minh sếp VTV1 cùng đạo diễn ngậm cứt phun TS Cù Huy Hà Vũ không nghĩ đến chuyện bị thối mồm cả lũ lại còn lên lớp trí thức lão thành gọi họ là phản động thì coi như “ngòi nổ” đã có sẳn để hoàn thành “bom bẩn” do sự cố ý vô tình cộng với bản chất “thông manh” của TT chỉ chờ người châm ngòi “Bùm” kể như xong . Chỉ sợ văng miểng trúng người vô tội còn kẻ thích mưu hại người tử tế có banh xác cũng là chuyện thường tình ở đời . Ác lai ác báo , sát nhân giả tử chạy trời không khỏi nắng . Mỗi năm đến ngày xá tội vong nhân thí cho hắn vài nén nhang cũng chẳng có gì quá đáng để giúp “hắn” siêu thoát vĩnh viễn , cầu mong hắn đừng bao giờ đầu thai làm người Việt Nam lần nữa .

nguoithathoc1959

Việt Nam tuần qua 13-08-2011





§§§§§§




Chương Trình Phát Thanh Tối Thứ Bảy 13.08.2011





§§§§§§§




Đọc cho biết : HỆ THỐNG XA LỘ Ở HOA KỲ - Trần Quốc Sỹ

 
Một vài dữ kiện khá lý thú về đoạn xa lộ được xem là tối tân nhất của Hoa Kỳ này:
Xa lộ 105, còn được gọi là Century Freeway hay Glenn Anderson Freeway, được đề án vào năm 1958, và được thêm vào dự án Interstate Highways cuối thập niên 1960s. Một đơn kiện của cư dân địa phương và các nhà hoạt động bảo vệ môi sinh được nạp năm 1972 xin huỷ bỏ dự án này. Dầu vậy, một phát quyết của thẩm phán Harry Pregerson đã được phê chuẩn và ban hành năm 1979, sau đó được tu chính năm 1981, đã cho phép khởi công xây cất xa lộ I-105.
image
I-110/I-105 interchange in Los Angeles

- Lễ đặt viên đá đầu tiên diễn ra ngày 1 tháng 5 năm 1982 và đoạn xa lộ này được chính thức khánh thành cho công chúng xử dụng lúc 3 giờ 13 phút ngày 14 tháng 10 năm 1993, sau 11 năm 5 tháng và 13 ngày xây cất. Từ sáng sớm ngày hôm đó, cả ngàn người đã đậu xe sắp hàng để chờ được "cắt chỉ" khai trương, để được vinh dự là những người đầu tiên được lái xe trên xa lộ I-105.
- Xa lộ I-105 có 3 lối (lanes) chính mỗi chiều, cộng thêm hai lối phụ dành cho những người đi chung xe, thường được gọi là diamond lanes hay car pool lanes. Ngoài ra, chính giữa xa lộ còn được thiết bị với hệ thống đường xe điện hai chiều.
- Tổng số xe cộ xử dụng xa lộ I-105 những ngày sau khi khánh thành là 155,000 chiếc mỗi ngày. Con số này đang trên đà gia tăng và Cal Trans ước lượng rằng vào năm 2010, tổng số xe cộ xử dụng xa lộ I-105 sẽ lên đến 230,000 chiếc mỗi ngày.
- Trong 17.3 dặm của xa lộ I-105, chỉ có 0.5 dặm của xa lộ được xây bằng mặt đường. Còn lại, 10.7 dặm được xây cao hơn mặt đường và 6.1 dặm thấp hơn mặt đường.
- Xa lộ I-105 có 4 giao điểm nối với xa lộ I-405, I-110, I-710, và I-605. Riêng chỗ giao điểm của xa lộ I-105 và xa lộ I-405 là một công trình xây cất giao điểm xa lộ lớn nhất tại California. Giao điểm này rộng 100 mẫu, gồm 5 tầng và có độ cao hơn một cao ốc 7 tầng, với kinh phí xây cất lên đến 134 triệu đô la. Chỉ riêng đoạn xa lộ tạm thời trên xa lộ I-405 để xe cộ có thể lưu thông trong gian xây cất giao điểm, tốn phí đã lên đến hơn 20 triệu đô la.
image
- Để hoàn thành xa lộ I-105, Cal Trans đã mua lại nhà, đất của 25,000 cư dân địa phương.
- Cal Trans đã xử dụng 930 mẫu đất, 2.3 triệu cubic yards xi-măng, 115,000 tấn thép, đào xới 16 triệu cubic yards đất và lấy đi 500,000 cubic yards đất bị ô nhiễm.
- Công trình này là công sức của 200 nhân viên tiểu bang, và hơn 1500 nhân viên thuộc các hãng thầu.
- Công trình xây dựng xa lộ I-105 đã mang lại hơn 18,000 công việc, cùng gián tiếp hỗ trợ hơn 27,000 công việc khác.
Những quy luật về đặt danh số cho xa lộ:
Có khi nào bạn tự hỏi những danh số đặt tên cho Xa lộ Liên bang và Tiểu bang có ý nghĩa gì không ? Xin thưa, chúng đều có ý nghĩa và buộc phải theo một hệ thống nhất định. Vào năm 1957, dấu hiệu và danh số dành cho Xa lộ Liên bang được phổ biến. Theo quy luật này, dấu hiệu của Xa lộ Liên bang sẽ có hình khiên, mũi nhọn quay xuống, gồm ba màu xanh dương, trắng và đỏ (màu đỏ ở trên, xanh dương ở dưới, nền trắng, chữ trắng). Cũng theo quy luật này, những Xa lộ Liên bang mang hai con số sẽ được xem như những xa lộ chính. Nếu một xa lộ chính chạy theo hướng Nam-Bắc, nó sẽ mang số lẻ, và ngược lại, nếu một xa lộ chính chạy theo hướng Đông Tây, nó sẽ mang số chẵn. Số nhỏ dành cho những xa lộ bắt đầu từ miền Tây và miền Nam và số lớn dành cho những xa lộ bắt đầu từ miền Đông và miền Bắc. Thí dụ như xa lộ liên bang 5 (số zero được hiểu ngầm), sẽ chạy theo hướng Nam-Bắc và bắt đầu từ Nam California, trong khi đó, xa lộ liên bang I-10, sẽ chạy theo hướng Đông-Tây và cũng bắt đầu từ Nam California.

image
Những xa lộ liên bang có 3 con số là những xa lộ vòng đai hoặc xa lộ phụ thuộc vào xa lộ chính. Chẳng hạn như xa lộ liên bang I-405 là xa lộ phụ của xa lộ liên bang I-5 và xa lộ liên bang I-210 là xa lộ vòng đai của xa lộ liên bang I-10. Xa lộ vòng đai hoặc xa lộ phụ cũng phải theo quy luật chẵn, lẻ như xa lộ chính, tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp ngoại lệ. Trường hợp ngoại lệ điển hình là Xa lộ Liên bang I-110 hoặc Xa lộ Liên bang I-710, hai xa lộ phụ của Xa lộ Liên bang I-10, tuy mang số chẵn nhưng chúng lại chạy theo hướng Bắc-Nam.

image

Dấu hiệu cho Xa lộ Tiểu bang có hình dáng và màu sắc tùy mỗi tiểu bang quyết định. Tại California, xa lộ tiểu bang có màu xanh lá cây trên nền trắng, chữ trắng, cũng hình khiên nhưng với mũi nhọn chỉ lên trời, như xa lộ tiểu bang CA-91 hoặc xa lộ tiểu bang CA-22. Xa lộ Tiểu bang không nhất thiết theo quy luật chẵn lẻ, điển hình là xa lộ Tiểu bang CA-91, tuy mang số lẻ nó lại chạy theo hướng Đông-Tây.

image
Ngoài hai hệ thống xa lộ liên bang và tiểu bang như đã đề cập, chúng ta còn có một hệ thống xa lộ nữa được gọi là Xa lộ US (US Highways). US Highways là một loại hệ thống Xa lộ Liên bang nhưng đã tồn tại trước khi bộ luật Federal Aid Highway Act (FAHA) ra đời. Hệ thống xa lộ này được thành lập đầu tiên vào năm 1925 bởi Federal Aid Highway Act để thay thế sự lẫn lộn của những xa lộ dùng tên gọi (chẳng hạn như xa lộ Lincoln Highway nối liền New York với San Francisco, đã được thay thế bằng US40, sau này trở thành Xa lộ liên bang I-80 tại California). Xa lộ Hoa Kỳ có dấu hiệu cũng hình khiên, màu trắng, viền đen, chữ đen với mũi nhọn quay xuống. Hiện nay, phần lớn những Xa lộ Hoa Kỳ đã được thay thế bằng những Xa lộ Liên bang hay Tiểu bang, nhưng một số vẫn còn tồn tại, chẳng hạn như xa lộ US-101, hoặc xa lộ US-395.

image
Nhiều người thường lầm tưởng rằng Xa lộ Liên bang (Interstate Highways) là xa lộ nối liền các tiểu bang còn Xa lộ Tiểu bang (State Highway) là xa lộ chỉ chạy trong phạm vi tiểu bang mà thôi. Điều này không hoàn toàn đúng như vậy. Chỉ có xa lộ chính mới chạy xuyên tiểu bang, thí dụ như xa lộ Liên bang I-10 hoặc I-40. Còn những xa lộ Liên bang phụ hoặc xa lộ vòng đai chỉ chạy trong phạm vi tiểu bang. Điển hình là Xa lộ liên bang I-105 chỉ chạy từ Norwalk đến El Segundo, thuộc tiểu bang California.
Sự khác biệt giữa Xa lộ Liên bang và Xa lộ Tiểu bang ở chỗ Xa lộ Liên bang được tài trợ và chi phối bởi liên bang, trong khi đó Xa lộ Tiểu bang hoàn toàn do tiểu bang chi chuẩn. Một điều đáng được ghi nhận là tiểu bang Alaska không có xa lộ Liên bang nhưng tiểu bang Hawaii thì có, được biết dưới tên là xa lộ Liên bang H1.

image

Những điều cần biết khi xử dụng xa lộ:
Như đã thưa ở trên, xa lộ tại Hoa Kỳ được xem như con đường an toàn và hữu hiệu nhất cho những người lái xe ô tô. Đúng vậy, so với các đường trong thành phố, số tai nạn tử vong trên xa lộ rất thấp và thời gian để đi từ điểm A đến điểm B rất ngắn. Thời gian di chuyển trên xa lộ so với đường trong thành phố, nhất là nếu bạn phải đi xa, thường chỉ bằng một nửa hoặc ngắn hơn. Tuy vậy, lái xe trên xa lộ không phải là không nguy hiểm vì tốc lực xe chạy trên xa lộ rất cao, có thể lên đến 75 hay 80 dặm/giờ. Với một tốc lực cao như vậy, nếu bạn lạc tay lái đâm vào thành xi măng chắn hoặc đâm vào xe ngược chiều thì kể như tiêu đời.

image

Với tư cách là một giảng viên của National Traffic Safety Institute (NTSI), tác giả xin được đóng góp một vài ý kiến thô thiển cùng những kinh nghiệm thâu thập được trong nghề ngõ hầu có thể giúp bạn đọc lái xe an toàn hơn và tránh được bị các ông bạn dân chiếu cố:

image
1. Luôn giữ xe trong tình trạng toàn hảo. Chiếc xe của bạn là một trong bốn yếu tố khiến 6,300,000 tai nạn đã xảy ra hằng năm, đưa đến sự tử vong của gần 50,000 người. Bảo trì xe là một trong những phương cách có thể giúp giảm thiểu sự nguy hiểm trong việc lái xe. Hãy kiểm soát hệ thống thắng xe của bạn thường xuyên, ít nhất mỗi 15,000 dặm. Đừng để mực dầu thắng xuống thấp hơn mực tối thiểu. Nên thay vỏ bánh xe nếu chúng đã mòn quá 1/32 của một inch.

image
2. Tránh xử dụng những xa lộ được mệnh danh là xa lộ tử thần (killer highways), nếu bạn có thể xử dụng những xa lộ khác. Xa lộ tử thần là những xa lộ tiểu bang, chạy xuyên qua những tỉnh lẻ, thường được gọi là những xa lộ đồng quê (country highways), thí dụ như Xa lộ Tiểu bang CA-71. Loại xa lộ tiểu bang này chỉ có hai lối (lanes) đi và về, không có tường chắn ở giữa. Chúng chỉ được ngăn đôi bằng hai vạch vàng liên tục, hoặc đôi khi, một vạch liên tục và một vạch đứt đoạn một bên. Đây là dấu hiệu cho phép tài xế được lấn sang phần đường bên kia để qua mặt xe đằng trước. Lý do những xa lộ này được mệnh danh là xa lộ tử thần vì số tử vong hằng năm trên những xa lộ này rất cao, phần lớn do tài xế qua mặt một cách bất cẩn, hoặc do tài xế mệt mỏi, ngủ gục và đâm qua lối đi ngược chiều.
 
Những điều cần ghi nhớ nếu bạn buộc phải xử dụng những xa lộ này:

image

1. Nếu bỗng dưng bạn thấy xe ngược chiều đâm sang lối của bạn, việc đầu tiên là hãy giữ bình tĩnh, bóp kèn hoặc pha đèn để cảnh giác người tài xế với hy vọng anh ta sẽ trở về lối của anh ta. Nếu đèn và kèn không mang lại kết quả, hãy lạng xe về hết bên phải để tránh tai nạn. Không bao giờ lạng về bên trái vì người tài xế xe ngược chiều có thể giật mình và
trở về lối của anh ta.

image

2. Chỉ qua mặt khi lằn kẻ vàng bên phần đường của bạn đứt đoạn. Không bao giờ qua mặt tại những khúc quanh, trên dốc và nhất là không bao giờ qua mặt vào ban đêm nếu bạn có thể thấy được hai ánh đèn xe ngược chiều, mặc dù chúng rất nhỏ. Lý do rất dễ hiểu là bạn sẽ không ước lượng chính xác được khoảng cách giữa xe của bạn và xe bên kia, do đó bạn sẽ không đủ thì giờ để vượt xe đằng trước bạn một cách an toàn.

image

3. Luôn luôn giữ khoảng cách an toàn đối với xe đằng trước. Khoảng cách giữa xe của bạn và xe đằng trước được xem là an toàn khi xe đằng trước bạn bất chợt thắng gấp mà bạn vẫn có thể thắng kịp để không gây ra tai nạn. Khoảng cách này được đo bằng thời gian, được đề nghị là 3 giây cho điều kiện thời tiết bình thường. Nếu trời đang mưa hoặc có sương mù, khoảng cách này phải được tăng lên, 4 hoặc 5 giây hoặc lâu hơn nữa. Để biết được khoảng cách an toàn giữa xe của bạn và xe đằng trước, hãy để ý chiếc xe trước mặt. Khi chiếc xe này đến một điểm cố định, chẳng hạn như cột đèn, thì bạn bắt đầu đếm thầm, chậm rãi: một ngàn lẻ một, một ngàn lẻ hai, một ngàn lẻ ba. Nếu sau khi đếm tới một ngàn lẻ ba mà xe của bạn chưa đến điểm cố định đó, bạn đã giữ được khoảng cách an toàn. Bằng không, bạn đang đánh bài với sinh mạng của mình.

image

4. Đừng vượt quá vận tốc giới hạn. Tốc lực tối đa của tiểu bang California là 65 dặm/giờ, ngoại trừ trong những trường hợp điều kiện an toàn cho phép, tốc lực tối đa được tăng lên 70 dặm/giờ. Trên lý thuyết, nếu bạn vượt quá vận tốc giới hạn dầu chỉ 1 dặm, cảnh sát có quyền cho bạn ticket vì tiểu bang California, cùng 31 tiểu bang khác, áp dụng luật "tốc lực giới hạn tuyệt đối" (absolute speed limit). Tuy nhiên, trên thực tế, cảnh sát thường không viết ticket cho bạn nếu bạn chỉ vượt quá khoảng 5 hoặc 7 dặm. Trong mọi trường hợp, tác giả thành thật khuyên các bạn đừng lái xe quá tốc lực, nhưng nếu bạn là người thích lái xe nhanh, thích tìm cảm giác mạnh, các bạn cần ghi nhớ những điều sau đây để tránh khỏi bị ăn ticket của những ngài cảnh sát:
- Tránh xử dụng lane số 1 (lane sát giữa đường hoặc cạnh diamond lane)
- Tránh đổi lane nhiều lần
- Tránh bám đuôi xe khác quá gần
- Đừng dán kính màu cửa kính trước của xe (phần ghế tài xế và hành khách kế bên)
- Đừng sơn sửa xe để nó có hình dạng quá nổi bật như cắt ống nhún cho xe thấp gần sát đất, dùng bánh xe có đường kính 20 inch, sơn xe màu thật nổi như xanh lá cây lợt hoặc vàng, xi bô xe, cảng xe bóng loáng, gắn đèn neon chung quanh hay dưới lườn xe…
Khi có nhiều người vi phạm cùng một lúc, cảnh sát sẽ cho ticket những người nào mà họ cho là dễ bắt nhất, nổi bật nhất và vi phạm lộ liễu nhất.
- Đừng bao giờ qua mặt cảnh sát. Khi lái xe trên xa lộ, bạn hãy để ý đến những xe cảnh sát chạy chậm trong lane trong cùng. Đây là những ông bạn dân đang làm nhiệm vụ của họ là canh bắt những người vi phạm vận tốc giới hạn. Nếu không muốn bị ăn ticket, bạn hãy giữ cùng vận tốc với họ. Khi thấy họ exit ra khỏi freeway, đừng vội nhấn ga đi tiếp vì nghĩ rằng bạn đã thoát nạn. Trong nhiều trường hợp, họ chỉ vờ exit nhưng thật ra họ rẽ vào con đường nhỏ bên cạnh và bọc lên freeway trở lại.
Và cuối cùng…
 

image
5. Đừng lái xe trên car pool lanes nếu bạn chỉ đi một mình. Car pool lanes hay diamond lanes là những lối đi đặc biệt trên xa lộ, hoặc lối ra xa lộ, chỉ dành riêng cho những xe có hai, hoặc ba người trong xe trở lên. Tiền phạt tối thiểu cho những người vi phạm car pool lanes cho tiểu bang California là 271 đô. Đừng ra hoặc vào car pool lanes ở những nơi mà những đường kẻ màu vàng liên tục. Chỉ ra và vào khi nào những đường kẻ đứt đoạn. Vi phạm điều này, bạn cũng sẽ ăn một ticket giống như trường hợp của lái xe trên diamond lane một mình.
 
image
Để chấm dứt bài viết này, tác giả xin kể cho các bạn một chuyện vui mà tác giả thường kể cho các học viên trong lớp xoá ticket. Có một bà Mỹ sồn sồn, dòng dõi luật sư (bố là luật sư, chồng là luật sư, anh em có nhiều người làm luật sư). Bà bị lãnh một ticket cho tội lái xe trên diamond lane một mình. Thay vì đóng phạt rồi xin đi học traffic school, bà chọn việc ra toà tranh cãi cho sự vi phạm của bà. Đứng trước mặt quan toà, khi được hỏi: "Có tội hay không có tội?" bà đã anh dũng thưa với quan toà rằng: "Không có tội".

image
Quan toà tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi bà:
- Bà lái xe trên diamond lane một mình bị cảnh sát bắt, xin bà hãy giải thích về sự vô tội của bà?
Bà liền lôi trong cặp táp ra tờ giấy do bác sĩ cấp, chứng nhận rằng bà đang mang thai 4 tháng, đưa cho quan toà xem. Quan toà liếc mắt nhanh qua tờ giấy, trả lại cho bà mỉm cười:
- Theo luật pháp, đây chỉ mới là thai nhi, không tính là một người. Bà vẫn có tội. Sorry.
Nhưng bà không chịu thua, lớn tiếng thưa:

- Thưa quan toà, ông sai rồi.

Quan toà vẫn cười:

-Tôi sai ? Xin bà hãy chứng minh chỗ tôi sai. Tôi rất muốn nghe sự trình bày của bà.

Bà trả lời một cách tự tin:

- Được, tôi sẽ chứng minh cho ông xem.

Nói xong, bà lại mở cặp, lôi ra một quyển sách luật, mở đến trang đã đánh dấu sẵn, đọc lớn:

- Trong phiên toà ngày ….tại toà án tối cao tiểu bang …. , vị thẩm phán phiên toà đã tuyên án tù chung thân một người đàn ông về tội đã giết chết hai người, đó là người đàn bà mang thai và đứa con còn trong bụng của bà ta.

Đọc xong, bà giơ quyển sách luật lên cao, dõng dạc:

-Vì thế, chiếu theo phiên toà này, đứa bé trong bụng tôi là một người.

image
Xong bà đắc ý cười lớn:
-Haha, tôi đã bảo ông, tôi sẽ chứng minh cho ông xem mà. Ông thua rồi.
Vị quan toà sau khi nghe bà trình bày, gật gù:
-Tôi có lời khen ngợi bà và xin cảm ơn về sự khảo cứu của bà. Hôm nay tôi được học một điều mới. Bà nói đúng, chiếu theo phiên toà này, đứa bé trong bụng bà là một người. Vì lý do này, tôi sẽ tha bà tội lái xe trên diamond lane, nhưng …
Ngưng một vài giây, ông tiếp:
-Tôi buộc phải phạt bà tội …HAI NGƯỜI NGỒI MỘT GHẾ.
Tác giả xin chúc các bạn một ngày thật vui và xin lái xe thật cẩn thận.

Trần Quốc Sỹ
 
E-mail

Chặng Cuối Hành Trình Không Tuởng của Xã Hội Chủ Nghĩa

Posted on by saohomsaomai

Trước hiện tình đất nước, “Hành Trình Không Tưởng Của Chủ Nghĩa Xã Hội” là một vấn đề chính trị mà độc giả Việt Nam cần lưu tâm suy gẫm. Đó là nội dung cuốn sách chuyển ngữ sang tiếng Việt từ một tác phẩm của nhà văn Pháp Jean Francois Revel mang tên là “La Grande Parade, Essai sur la Survie de l’ Utopie socialiste”, (Plon, 2000, Paris), bản dịch tiếng Anh của Diarmid V. C. Cammell mang tên là “Last Exit to Utopia, The Survival of Socialism in a post-soviet era” (Encounter Books, 2009, New York, London).
Jean Francois Revel là nhà văn nhà báo nổi tiếng của Pháp ở hậu bán thế kỷ 20. J. F. Revel là thành viên của Viện Hàn Lâm nước Pháp và là giáo sư Triết học đặc biệt lưu tâm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chính trị. Những tác phẩm gây nhiều tiếng vang nhất trên trường quốc tế của J. F. Revel là những ấn phẩm đã chuyển ngữ sang tiếng Anh : Without Marx and Jesus (Phi Marx phi Jésus), How Democracies Perish (Dân Chủ Tàn Lụi Như Thế Nào), The Totalitarian Temptation (Sự Cám Dỗ Của Chế Độ Toàn Trị ) và gần đây là cuốn “Anti-Americanism” (Tinh Thần Bài Mỹ,
nguyên tác của J. F. Revel là L’obsession anti-américaine).
Qua các công trình biên soạn này, đối tượng độc giả mà J. F. Revel
chủ tâm tranh thủ là thành phần tả khuynh trong giới trí thức nước Pháp. Những phần tử tả khuynh này ngẩn ngơ một cách say đắm trong ảo mộng mông lung của thiên đường xã hội chủ nghĩa mà họ tiếp cận được qua sách báo và các phương tiện truyền thong chuyển tải những sự kiện giả trá và những luận điệu lừa mị vang vọng đến từ phía bên kia bức màn sắt. Đi kèm với thái độ sùng bái mê muội chủ nghĩa xã hội là sự ám ảnh bởi tinh thần bài Mỹ một cách cực đoan. Có thể nói một cách không lầm lạc rằng trong giới trí thức nước Pháp, bất kỳ ai có tư tưởng chống Mỹ là có đủ tiêu chuẩn để được đứng vào hàng ngũ phe tả.
Ngoài các thành phần trí thức tả khuynh, J. F. Revel cũng muốn gửi một thông điệp đến chính giới tại nước Pháp cũng như ở một số nước châu Âu, phê phán tinh thần bài Mỹ của họ là thiếu cơ sở thực tế. Các giới lãnh đạo chính trường Pháp quốc và Âu châu sở dĩ chống Mỹ là vì họ muốn tự lập, không muốn phụ thuộc vào Mỹ, không muốn bị Mỹ chi phối, trong lúc bản thân họ không có đủ điều kiện và phương tiện để đứng riêng rẽ một mình. Ngoài ra, họ nghi ngại tinh thần tự do của xã hội Mỹ xuyên qua các chính sách laisser faire nhuốm đậm tính chất tự do cạnh tranh trong các lãnh vực kinh tế xã hội và văn hóa, trong lúc tại nước Pháp và một số quốc gia châu Âu chính quyền thiên về xu hướng kiểm soát và điều khiển các hoạt động này.
Kịp đến khi bức tường Bá Linh sụp đổ vào năm 1989, rồi tiếp theo, Liên bang Xô Viết chính thức tan rã ngày 25 tháng 12 năm 1991, chiến tranh lạnh chấm dứt và cục diện thế giới đổi thay hoàn toàn. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nghiễm nhiên trở thành siêu cường số một. Các thành phần hữu khuynh chiến thắng ở Bắc Mỹ và Tây Âu đã tỏ ra rất biết tự chế. Theo đúng tinh thần mã thượng của truyền thống phương Tây, họ không reo hò ầm ỹ để tự tán dương và để hạ nhục kẻ chiến bại. Tổng thống Mỹ George Bush đã tế nhị không nghe lời tả hữu đi Bá Linh ngay ngày hôm sau bức tường ô nhục bị sụp đổ. Giới hữu khuynh chiến thắng đã âm thầm để mặc cho mọi việc lặng lẽ trôi qua, cơ hồ như không quan tâm đến cái quá khứ kinh hoàng của thế giới cộng sản mà một phần nhân loại vừa mới kinh qua.
Trong lúc đó, các thành phần tả khuynh vừa thoát qua cơn thảng thốt bàng hoàng trước sự sụp đổ quá chóng vánh của xã hội cộng sản đã nhanh chóng ẩn mình bên trong các tháp ngà của chủ nghĩa xã hội để lẫn tránh thực tại và để ru hồn trong mộng ảo của tư duy xã hội chủ nghĩa. Họ cố tình làm ngơ trước các dữ kiện đầy lỗi lầm, đầy tội ác đã xảy ra dưới chế độ cũ bấy lâu được che dấu nay bỗng chốc hiện nguyên hình thành thực tại hiển nhiên do các văn khố của chế độ xô viết đang mở toang cửa đưa ra trình bày trước búa rìu công luận.
Họ ngoan cố chối bỏ thực tại, và lì lợm bám chặt lập luận kỳ quặc cho rằng chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp, chỉ có việc thực hiện chủ nghĩa xã hội là chưa tốt đẹp mà thôi. Dần dà hồi tỉnh sau cơn choáng ban đầu, họ lại rục rịch a tòng với các thành phần lưng chừng phê phán chủ nghĩa tư bản và mở lại cuộc chiến tấn công chủ nghĩa tự do. Chính trong bối cảnh chính trị kinh tế và xã hội hậu công sản này tại các nước phương Tây mà cuốn sách “La Grande Parade, Essai sur la Survie de L’Utopie socialiste” được J. F. Revel cho chào đời.
Tác giả cảnh báo giới trí thức nước Pháp và các nước phương Tây phải biết rút tỉa đúng mức bài học lịch sử về toàn trị, và đặc biệt phải biết giải trừ ra khỏi tâm trí cái ma lực của tư tưởng xã hội chủ nghĩa mà thực chất chỉ là những điều thuộc về thế giới ảo mộng, không bao giờ trở thành hiện thực, nghĩa là không tưởng.
J. F. Revel là một nhà tư tưởng có lập trường chính trị dứt khoát chống đối chủ nghĩa cộng sản. J. F. Revel chống cộng không phải vì lý do quyền lợi, địa vị, tín ngưỡng, giai cấp, địa phương, quốc gia, hay chủng tộc. J. F. Revel chống đối chủ nghĩa cộng sản bởi lẽ những điều chủ nghĩa này hứa hẹn mang lại cho nhân loại chỉ là những điều hoang tưởng, nghĩa là không bao giờ trở thành hiện thực, nhưng được trân tráo khoa trương và gian trá che đậy một cách tinh vi và mầu mè xuyên qua hình thái chủ nghĩa xã hội được xem như là bước quá độ để tiến lên chủ nghĩa cộng sản.
Những người chủ trương và thực hiện chủ nghĩa xã hội như là bước quá độ để tiến lên chủ nghĩa cộng sản đã phạm phải những tội ác tày trời, có thể nói là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử tiến hóa của loài người, cho dù mức độ tàn ác, bất nhẫn và vô luân của vó ngựa Attila, Gengis Khan, hay những lò hơi ngạt Hitler cũng không tài nào sánh bằng. Thiết tưởng không cần nhắc lại thời kỳ man rợ mà một phần lớn cư dân châu Á và châu Âu sống dưới sự dày xéo của các đoàn kỵ binh Hung nô và Mông cổ, mà chỉ cần so sánh các chế độ toàn trị phát xít và cộng sản của thời cận đại. J. F.
Revel lưu ý phân biệt hai hệ thống toàn trị đó.
Chế độ phát xít là loại ý thức hệ mà J. F. Revel gọi là Toàn trị trực tiếp. Mussoloni và Hitler thường minh thị xác nhận họ chống lại dân chủ, chống
lại tự do phát biểu, tự do văn hóa, chính trị đa nguyên và tổ chức nghiệp đoàn. Ngoài ra Hitler còn chủ trương kỳ thị chủng tộc và chống Do thái.
Trái với toàn trị trực tiếp là chủ nghĩa cộng sản mà J. F. Revel gọi là Toàn trị không tưởng. Đây là loại ý thức hệ xây dựng trên sự gian dối, lừa đảo, hứa hẹn những điều tốt đẹp không thể thực hiện để che đậy những việc làm gian ác, vô luân.
Tập đoàn lãnh đạo hệ thống quyền lực của chế độ toàn trị không tưởng luôn luôn công bố thành công này đến thành công khác trong khi trên thực tế thì những kết quả hoàn toàn trái ngược với những điều khoa trương. Cộng sản hứa hẹn sung túc thì đem lại nghèo khó, hứa hẹn tự do thì áp đặt sự phục tùng, hứa hẹn bình đẳng thì đưa đến chỗ bất bình đẳng nhất trong mọi xã hội xưa nay với những kẻ ăn trên ngồi trốc, hưởng thụ đặc quyền đặc lợi mà ngay cả vua quan trong những xã hội phong kiến trước đây cũng không bì kịp.
Cộng sản hứa hẹn tôn trọng đời sống con người thì lại hạn chế tự do cư trú, cấm đoán tụ họp, hành quyết tập thể. Cộng sản hứa hẹn đem văn hóa đến cho mọi người thì đem lại sư u mê, hứa hẹn đào tạo “con người mới xã hội chủ nghĩa” thì làm cho con người tha hóa để trở thành cổ hủ, gian dối, lọc lừa, hèn hạ, và ngu đần như bầy cừu của Panurge.
Trong khi đó thì quần chúng vô tâm vẫn bàng quan với thế sự, và những kẻ cuồng tín trong giới trí thức cánh tả tiếp tục chấp nhận những mâu thuẫn giữa lời nói với việc làm của những người chủ trương và thực hiện chủ nghĩa xã hội được xem như là bước quá độ để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Lý do là vì không tưởng luôn luôn ở trong tương lai. Đã vững tin vào không tưởng thì những chuyện xảy ra trong thực tế trước mắt ở các xã hội xã hội chủ nghĩa không bao giờ chứng minh được sự sai lầm của ý thức hệ xã hội chủ nghĩa.
Giới trí thức cánh tả khư khư bám víu lập luận kỳ quặc, bất nhân và vô đạo rằng cứu cánh biện minh cho phương tiện, hoặc trân tráo, lì lợm ngụy biện rằng mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp, chỉ duy phương thức thực hiện chủ nghĩa xã hội nhất thời có mặt chưa hoàn hảo mà thôi. Như vậy, so sánh hai chế độ toàn trị phát xít và cộng sản thì cộng sản tệ hại hơn phát xít nhiều phần. Chế độ toàn trị trực tiếp phát xít thực hiện khát vọng thống trị theo như chủ trương đã minh thị công bố. Chế độ toàn trị không tưởng cộng sản thực hiện khát vọng thống trị bằng áp đặt, đày đọa và khủng bố dưới chiêu bài khoan hồng và yêu chuộng tự do, bằng bất bình đẳng dưới chiêu bài chủ nghĩa bình quân, bằng láo khoét, lừa gạt dưới chiêu bài thành khẩn.
Tóm lại, chế độ toàn trị không tưởng cộng sản hoàn tất cái Ác nhân danh
cái Thiện. Các chế độ toàn trị trực tiếp Quốc xã Đức, Phát xít Ý bị toàn thể nhân loại ghê tởm, và đã bị đánh đổ. Chế độ toàn trị không tưởng cộng sản sau ngày bức tường Bá Linh sụp đổ vẫn còn lây lất tồn tại ở một vài nơi.
Được vậy là nhờ vào bộ máy quyền lực chuyên chính được vũ trang tinh thần bạo lực cách mạng, khéo léo và gian trá che dấu dướí cái lốt tắc kè liên tục thay đổi màu sắc cho phù hợp với hoàn cảnh để lừa gạt quần chúng khờ khạo. Thật là đáng ghê tởm. Chính bản thân những người lãnh đạo Xô viết đã tự xếp chế độ mình vào hàng ngũ toàn trị. Nguyên tắc khủng bố và độc tài đã được nêu lên và thi hành ngay chính bởi Lenine. Staline thì liên thủ với Hitler qua hiệp ước bất tương xâm giữa Quốc xã Đức và Cộng sản Nga năm 1939 để thôn tính Ba Lan và tiến hành cuộc tàn sát man rợ ở Katyn. Cộng sản Nga chỉ chống Quốc xã Đức sau khi bị Quốc xã Đức trở mặt tấn công vào tháng sáu năm 1941, và đã hớ hênh để
lộ bản chất khủng bố của chế độ qua lời Chủ Tịch Liên Xô Staline giới thiệu trùm mật vụ Nga Beria với Tổng Thống Mỹ Franklin Rosevelt: “Thưa Ngài, đây là Himler của chúng tôi”. (Sergo Beria: Beria, mon père. Plon, Kriterion 1999).
Qua thời kỳ chiến tranh lạnh, đảng Cộng sản Nga xiển dương nền dân chủ mới, hô hào thực hiện công bằng xã hội bằng cách đem cái thây ma Quốc xã Đức ra mổ xẻ để tấn công chủ nghĩa tư bản bóc lột. Vào thời điểm này, đối với người cộng sản, chủ nghĩa phát xít đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tự do, nói cách khác, những ai chống lại chủ nghĩa xã hội đều là phản động, đều là phát xít.
Đến thời kỳ hậu xô viết, giới trí thức cánh tả phương Tây dựa vào tình trạng kinh tế hỗn loạn của Đông Âu để kết tội chủ nghĩa tự do vô tổ chức, và ở Việt Nam thì nhà cầm quyền cộng sản đưa ra mô thức kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đúng là những chế độ đội lốt tắc kè, bề ngoài rêu rao đổi mới nhưng lời nói không đi đôi với việc làm, bản chất toàn trị không hề thay đổi. Thực vậy, toàn trị không tưởng Cộng sản Nga ra đời trước toàn trị trực tiếp Quốc xã Đức, làm mẩu mực tàn ác, bất nhân, vô đạo cho Quốc xã Đức, cấu kết với Quốc xã Đức để chia cắt lãnh thổ Ba Lan, tàn sát quân dân Ba Lan, chống lại chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tự do, thế mà ngày nay, trong bối cảnh hậu xô viết, tại Pháp và một vài nước châu Âu, giới trí thức cánh tả vẫn mơ hồ chưa có được một chút ý niệm về bản chất tương đồng giữa Cộng sản và Quốc xã.
Cũng cùng một loại tội ác chống nhân loại, tại sao người ta làm ầm ĩ vụ Oradour-sur-Glane do Quốc xã Đức làm mà lại im lặng trước vụ Katyn do Cộng sản Nga làm. Ngay Tổng Thống Pháp Jacques Chirac cũng đã đến thăm Oradour-sur-Glane vào tháng bảy năm 1993, và giữ im lặng trước vụ Katyn.
Điểm quan trọng khác mà J. F. Revel muốn nhấn mạnh là thái độ lập lờ mang tính chất đạo đức giả của giới trí thức cánh tả phương Tây khi bàn luận về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội.
Thật vậy, người ta cứ nhất mực so sánh giữa sự hoàn hảo không có thật – chủ nghĩa không tưởng cộng sản – với cái không hoàn hảo mà có thật – chủ nghĩa tư bản dân chủ. Thí dụ rõ nét về trường hợp này là khi Đức Giáo Hoàng Jean-Paul II viếng thăm Ba Lan vào tháng sáu năm 1999, một ký giả đài phát thanh France-Info truyền tin như sau : “Ba Lan trở lại chế độ tư bản đã đem lại ít nhiều thịnh vượng nhưng đã hủy diệt công bằng xã hội”.
Loan tin như thế, người ký giả thiên tả này muốn ám chỉ rằng chế độ cộng sản có điểm ưu việt là đã đem lại công bằng xã hội. Rõ rang là chủ nghĩa tư bản không đem lại bình đẳng trong việc phân phối lợi tức, không theo chủ nghĩa bình quân, nhưng thử hỏi cộng sản đã mang lại công bằng xã hội như thế nào? Sự bình đẳng trong xã hội cộng sản là tất cả mọi người đều nghèo khó, công bằng xã hội trong xã hội cộng sản dựa trên hình thức bần cùng hóa nhân dân. Như vậy là một lần nữa người ta đã xét đoán cộng sản căn cứ trên những điều mà cộng sản định đem lại, và sẽ không bao giờ đem lại, và tư bản trên những điều mà tư bản thực sự đã đem lại.
Nhiều công trình nghiên cứu với thống kê đầy đủ và chính xác cho thấy rằng năm 1989, năm cuối cùng của cộng sản châu Âu, một người thất nghiệp ở phương Tây được trợ cấp bằng tiền mặt nhiều hơn từ năm đến mười lần tiền lương một người thợ đang lao động ở Đông Âu. Nói cách khác, những xã hội tư bản dân chủ đã có chính sách an sinh xã hội rất hữu hiệu cho những cách biệt và rủi ro trong đời sống kinh tế. Nhưng sự thật hiển nhiên đó không được thừa nhận khi người ta cứ nhất mực so sánh giữa sự hoàn hảo không có thật với cái không hoàn hảo mà có thật.
Cái không hoàn hảo mà có thật đó là chủ nghĩa tư bản dân chủ, là nền móng của định chế kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường xây dưng trên sự tự do kinh doanh và tư bản dân chủ, một thứ tư bản tư nhân, tách khỏi chính quyền nhưng tôn trọng luật pháp. Và đó cũng là chủ nghĩa đang được cổ vũ khắp hoàn cầu.
Nhiều nhà lập thuyết cánh tả đã cho rằng chủ nghĩa cộng sản và các trào
lưu dân chủ đã có cùng một căn bản. Theo họ, trong những xã hội tự do thì đảng cộng sản đứng vào vị thế đối lập với chính quyền, đấu tranh theo chương trình hành động là hoàn thiện dân chủ và thực thi công bằng xã hội. Nhưng chủ nghĩa cộng sản đã đặt nền móng trên một định đề là muốn đẩy mạnh dân chủ thì phải hủy bỏ chủ nghĩa tư bản. Những môn đệ của biện chứng duy vật lịch sử đã chối bỏ một sự kiện rất đơn giản là xã hội dân chủ duy nhất hiện hữu từ xưa đến nay là xã hội tư bản, ít ra trong xã hội đó dân chúng được quyền có tài sản riêng tư, có tự do buôn bán và văn hóa được tự do phát triển. Định đề này một lần nữa đã đi ngược lại sự thật lịch sử. Như vậy là đã xẩy ra sự lẩn lộn giữa cái hiện hữu và cái không hiện hữu, và đó là một sự chế nhạo lịch sử.
Một điều hiển nhiên không chối cải được là bất cứ nơi nào cộng sản nắm
chính quyền, công việc đầu tiên là hủy bỏ quyền tự do. Không có biệt lệ trong chính sách này. Dân chủ không thể thấy được trong lịch sử các chế độ cộng sản, mà chỉ thấy được trong những chế độ cởi mở ở những nước tư bản. Thế nhưng theo những nhà lãnh đạo Quốc tế Cộng sản thì toàn trị Xô-viết đại diện cho giai đoạn tối thượng của nền dân chủ chân chính, được gọi là dân chủ mới, dân chủ tập trung. Như vậy nếu những sử gia căn cứ vào những tuyên bố của các nhà lãnh đạo cộng sản cho rằng họ đấu tranh cho dân chủ, thì cũng phải căn cứ vào tuyên bố của Hitler và Mussolini huênh hoang rằng họ đã thể hiện ước vọng của tuyệt đại đa số quần chúng. Khi họ tập trung quyền lực vào trong tay, họ có đủ tự tin để huênh hoang là đã thiết lập một hình thức dân chủ “một triệu lần” tiến bộ hơn chế độ đại nghị. Nếu viềt lịch sử mà chỉ theo sát từng chữ những diễn văn của các nhà độc tài thì đúng vậy, chủ nghĩa cộng sản là đấu tranh cho dân chủ!
Nhưng chủ nghĩa cộng sản là uyên nguyên của chế độ toàn trị, đào tạo ra con người toàn trị. Con người toàn trị, tức là “con người mới xã hội chủ nghĩa” của chế độ cộng sản đã được nặn ra bởi một tổ chức trong đó quyền tự trị của xã hội dân sự bị hoàn toàn triệt tiêu. Trong cỗ máy kềm kẹp và hủy diệt có tổ chức đó, con người chỉ là cái bánh xe trong toàn thể cỗ máy, họ đã hoạt động ngoài ý muốn, tuy đôi khi cũng do tự nguyện, ít ra là lúc ban đầu. Hệ thống toàn trị này có thể mô tả tóm lược như sau: đó là một chính quyền độc đảng, nắm giữ độc quyền kinh tế, chính trị và văn hóa. Lẽ tất nhiên, hệ thống độc đảng độc quyền này phải đi kèm với một bộ máy công an đàn áp, kiểm soát tư tưởng và nhân thân toàn bộ dân chúng. Những tiêu chuẩn đó là mô hình duy nhất được tìm thấy trong tất cả các chính thể cộng sản.
Cần phải thêm rằng sự đàn áp của cộng sản không phải chỉ nhằm vào kẻ thù chống đối chế độ không thôi mà nhằm luôn cả vào hằng triệu người vô tội không bao giờ nghĩ tớí việc chống phá hay phê bình. Nhiều nhân chứng
cho thấy từ năm 1918, cấp chỉ huy cơ quan mật vụ Tcheka (tiền thân của KGB) hay chính Lénine đã đưa ra vô số chỉ thị, ra lệnh là không cần tìm tòi bằng cớ về tội trạng của các cá nhân trong một nhóm sắc tộc, một tập hợp cộng đồng hay giai cấp xã hội thuộc danh mục phải thanh toán, mà chỉ cần họ thuộc về thành phần đó là đủ để quy thành tội phạm.
Cộng sản Việt Nam sau này cũng đã rập khuôn hành trạng tàn bạo và bất nhân đó khi tiến hành chiến dịch “đào tận gốc trốc tận rể ” các thành phần xã hội trí phú địa hào, cho dù họ đã không hề phạm tội mà còn có công lớn với kháng chiến. Tàn sát tập thể những người vô tội không phải bởi vì họ có tội mà chính vì họ là ai. Trong huyết quản con người cộng sản sôi sục sự thù ghét con người không cộng sản, cũng giống như Quốc-xã đã thù ghét Do Thái không phải là chủng tộc Aryen. J. F. Revel đã trích dẫn Maxime Gorki: “Thù ghét giai cấp phải được nuôi dưởng bởi sự kinh tỡm thể xác đối với kẻ thù, họ là những kẻ hạ cấp, suy đồi về thể xác cũng như về tinh thần.”
J. F. Revel đã thẳng thừng phản biện những lập luận của giới trí thức cánh tả phương Tây muốn che đậy những lỗi lầm và tội ác của chế độ toàn trị xã hội chủ nghĩa, đồng thời bẻ gãy các mũi dùi phản công của họ nhằm vào chủ nghĩ tự do và chủ nghĩa tư bản dân chủ.
Mặt khác, J. F. Revel khẳng định các chế độ độc tài cộng sản không bao giờ có thể cải thiện được, chúng chỉ có thể giậm chân tại chỗ hoặc bị sụp đổ: “Cách duy nhất để cải tiến cộng sản là loại bỏ nó đi “. Đó chính là điều mà các dân tộc trong Liên Bang Xô Viết và các nước chư hầu ở Đông Âu đã làm giữa những năm 1989 và 1991. Thực tế là từ năm 1970 chế độ toàn trị bên trong bức màn sắt đã thất bại trong mọi lãnh vực, và nền móng tòa lâu đài xã hội chủ nghĩa bắt đầu lung lay. Vào cuối thời kỳ Brejnev, tầng lớp đặc quyền trong đảng Cộng sản Liên xô từng bước hình thành.
Trong hai thời kỳ Đại hội Đảng cấp tỉnh từ 1978 đến năm 1981, chỉ có 5 trong số 156 vị trí bí thư tỉnh ủy có sự thay đổi nhân sự. Vào năm 1978, độ tuổi trung bình của 58 vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Bộ trưởng là 70. Hàng ngũ lãnh đạo già nua, đương chức suốt đời này là hạt nhân hình thành tầng lớp đặc quyền trong đảng Cộng sản, và là nguyên ủy của sự chuyển biến từ vô sản sang hữu sản, từ cộng sản sang tư bản của chính
quyền Liên xô. Đặc quyền đi kèm đặc lợi và tham ô. Con trai Yuri của Brejnev trở thành Thứ trưởng thứ nhất bộ Ngoại thương. Con rể Rubanov của Brejnev trở thành Thứ trưởng thứ nhất bộ Nội vụ. Cả hai còn rất trẻ và mau chóng trở nên rất giàu có. Con gái Galina và con trai Yuri của Brejnev liên can đến một vụ buôn lậu kim cương và ngoại tệ bị phát hiện tháng giêng năm 1982 tại sân bay Moscow vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Cũng dưới thời Brejnev, một số quan chức bộ Ngư nghiệp đã cho đóng trứng cá caviar sản xuất tại Sochi và Astrakhan vào hộp dán nhãn cá trích
xuất khẩu sang phương Tây bán với giá cá trích để chia chác lợi nhuận, làm thiệt hại công quỷ hàng triệu mỹ kim tiền thuế, nhưng rồi tội trạng cũng được bao che, nội vụ cho chìm xuồng.
Đến thời Gorbachev, tầng lớp đặc quyền mong muốn chiếm hữu lâu dài
đặc lợi hiện có, đồng thời niềm tin của quần chúng vào chủ nghĩa xã hội đã bị xói mòn, ánh hào quang đảng viên đảng Cộng sản mang trên mình không còn giá trị thực dụng, nên nhận thấy rằng những tiện ích đang chiếm hữu cần được thay đổi hình thái, và chủ nghĩa tư bản là chế độ thích hợp nhất để hợp thức hóa những đặc quyền đặc lợi hiện có. Do đó mà chủ nghĩa tư bản đỏ hình thành, đưa đến sự sụp đổ chính thức Liên bang Xô viết ngày 25 tháng 12 năm 1991.
Cuối cùng, J. F. Revel không dấu diếm lòng ngưỡng vọng đối với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Từ sau ngày cộng sản sụp đổ, và nhất là sau cuộc khủng hoảng ở Á châu và những khó khăn ở Đức, Mỹ vẫn dẫn đầu kinh tế thế giới vì đã giữ vững sự tăng trưởng, tạo đầy đủ công ăn việc làm, cân bằng ngân sách và giải trừ nạn lạm phát.
Về kỹ thuật thì Mỹ có những tiến bộ vượt bực, nhất là trong lãnh vực viễn thông. Về quân sự thì Mỹ là nước duy nhất có thể can thiệp bất cứ lúc nào
và nơi nào trên thế giới. Về ưu thế văn hóa thì Mỹ dẫn đầu về khoa học và kỹ thuật cũng như trong việc giáo dục đại học. Báo chí và truyền thông Mỹ phổ biến khắp thế giới. Lối sống theo kiểu Mỹ – áo quần, âm nhạc, ăn uống giải trí – đã chinh phục giới trẻ khắp nơi. Điện ảnh và truyền hình Mỹ đã thu hút hằng triệu khán giả trên khắp các đại lục.
Đã từ lâu Anh ngữ là ngôn ngữ quốc tế của khoa học và trên Internet. Một số khá đông chính trị gia và khoa học gia nổỉ tiếng khắp thế giới đã tốt nghiệp từ các đại học Mỹ.
Bởi vậy, J. F. Revel rất ngạc nhiên và bất bình trước tinh thần bài Mỹ của chính giới nước Pháp và một số nước châu Âu, cũng như của giới trí thức cánh tả còn mang nặng hoài niệm về chủ nghĩa xã hội. Trào lưu chống Mỹ bắt nguồn từ chủ nghĩa quốc gia cực đoan nơi các cường quốc Âu Châu và xu hướng chống đối xã hội tự do nơi những người thiên cộng sản. Điển hình cho lòng tự ái dân tộc bị tổn thương trước vai trò nổi bật của Mỹ trên chính trường thế giới là Tổng Thống Pháp Charles de Gaulle. Năm 1997, Jacques Toubon, lúc bấy giờ là Bộ trưởng Tư pháp đã tuyên bố trên tuần
báo Mỹ US News and World Report rằng sử dụng Anh ngữ lan tràn trên Internet là một hình thức thức dân, trong lúc vào thời điểm này, Pháp có số máy vi tính nối với Internet mười lần ít hơn Mỹ, hai lần ít hơn Đức, đứng sau cả Mễ Tây Cơ và Ba Lan. Cũng may mà còn có Thủ Tướng Pháp Lionel Jospin sau một chuyến viếng thăm Mỹ trở về đã biết thừa nhận hiệu năng của sự quản trị kiểu Mỹ theo chủ nghĩa tư bản dân chủ và tinh thần tự do cạnh tranh:
“Ở Mỹ với 258 triệu dân mà từ năm 1974 đến 1994, đã tạo ra 40 triệu công việc mới, trong khi đó ở Âu Châu với mười hai nước, với 270 triệu dân, với hàng tỷ bạc tài trợ, và trong cùng một thời gian đó mà chỉ tạo được có 3 triệu việc làm”. Mà không riêng gì J. F. Revel ở Pháp cổ vũ cho việc quản trị xã hội theo kiểu Mỹ, ngay chính tại Trung Hoa cộng sản, mới gần đây, Lưu Á Châu (Liu Yazhou) là con rể của Lý Tiên Niệm cũng đã viết trên Tuần báo Phượng Hoàng (Phoenix Weekly) của HongKong số phát hành ngày 12 tháng 8 năm 2010 rằng sự trỗi dậy của Trung quốc phụ thuộc vào việc cách tân theo thể chế quản trị kiểu Mỹ hơn là thách thức vai trò thống trị của Mỹ tại vùng ven biển phía Đông của Trung quốc.
Cuốn sách của J. F. Revel chủ yếu là một bản liệt kê những lỗi lầm và tội ác của chế độ toàn trị không tưởng cộng sản vừa mới bị đánh đổ tại Liên xô và Đông Âu, nhằm cảnh tỉnh giới trí thức cánh tả phương Tây về thực tế hiển nhiên là lời nói của người cộng sản không đi đôi với việc làm của họ.
Đối với những chế độ toàn trị còn đang hiện hữu, J. F. Revel chỉ nhắc nhở sơ lược về những trại lao cải ở Trung quốc, và những trại tập trung cải tạo ở Việt Nam, được thiết lập nhằm mục đích ép buộc mọi người phải đi theo con đường thẳng độc đoán xã hội chủ nghĩa. Những trại tập trung đó sử dụng nhân lực với chi phí không đáng kể, và trong thực tế là những trại tù giam giữ những tội nhân không hề được tuyên án, mà lại được cải biến thành những người lao động nô lệ. Của cải vật chất họ làm ra với giá thành rất thấp được xuất khẩu để cạnh tranh trên thị trường thế giới một cách thiếu lành mạnh.
Ngoài ra, J. F. Revel cũng điểm lướt qua nạn đói ở Trung quốc sau “bước
nhảy vọt vĩ đại”, các cuộc tàn sát tập thể và đấu tố man rợ trong các chiến dịch cách mạng văn hóa ở Trung quốc, cải cách ruộng đất ở Việt Nam, cũng như nạn diệt chủng ở Kampuchia. Cũng cùng là tội phạm chống nhân loại, tại sao Pinochet và Milosevic bị đưa ra tòa án quốc tế còn Pol Pot thì được để yên? Có phải là vì vuốt mũi thì còn phải nể mặt! Cho nên J. F. Revel đã không một chút đồng tình với thái độ xun xoe của các giới ngoại giao và doanh nghiệp phương Tây nườm nượp lui tới Bắc Kinh và Hà Nội để tìm cách cầu thân cũng như vì động cơ hám lợi. Cho dù Giang Trạch Dân đưa ra chủ trương “Ba thành phần đại diện”, và Hà Nội tuyên bố đổi mới với cơ chế “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” chăng nữa thì các chế độ hiện nay tại Trung quốc và Việt Nam cũng chẳng mảy may thay đổi bản chất, chuyên chính, vẫn hoàn toàn chuyên chính như cũ.
Cuốn sách của J. F. Revel đượcviết cho độc giả ở Pháp, nhưng sau khi ra đời đã rất được hoannghênh ở Mỹ, và sau đó ít lâu đã được Diarmid V. C. Cammell dịch ra Anh ngữ. Trong khi nguyên tác tự xưng danh là tiểu luận về sự tồn vong của chủ nghĩa xã hội không tưởng thì nhan đề bản dịch Anh ngữ khẳng định sự bế tắc lâm vào ngõ cụt cuối cùng của chủ nghĩa không tưởng ở các xã hội hậu xô viết.
Riêng tại Việt Nam, trong lịch sử đã có một tiền tích, đó là phong trào Tây sơn. Khi tầng lớp nông dân đoàn kết đứng sau lưng ba anh em họ Nguyễn chống phong kiến Lê Trịnh Nguyễn thì Tây sơn là vô địch. Khi phong trào Tây sơn phong kiến hóa, tầng lớp lãnh đạo biến chất, kiêu sa, chia rẻ và xa rời quần chúng thì Tây sơn nhanh chóng tan rã, bị phong kiến chính thống quay trở lại tiêu diệt.
Ngày nay, chế độ toàn trị vô sản chuyên chính xã hội chủ nghĩa cũng đã biến thái, tầng lớp lãnh đạo đã tư sản hóa, trở thành tư bản đỏ, tư bản gia tộc, chẳng những xa rời quần chúng mà còn đối đầu với quần chúng, quay lại đàn áp, bóc lột nhân dân. Chế độ tư bản toàn trị này đã đi vào chặng cuối hành trình không tưởng, sớm muộn gì cũng bị chủ nghĩa tư bản dân chủ và tinh thần tự do kinh doanh quật ngã và chôn vùi.
Tháng mười, năm 2010
Canada
Minh Vũ Hồ Văn Châm*

=========
1 Bản dịch tiếng Việt: Chặng Đường Cuối Cùng Của Không Tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa, Phương Vũ Võ Tam Anh, Nhà Xuất bản Tiếng Quê Hương, PO Box 4653, Falls Church, VA 22044, USA, 2010.
* Minh Vũ Hồ Văn Châm, tốt nghiệp bác sĩ y khoa ĐH Sài gòn, và tiến
sĩ y tế học ĐH Columbia, New York. Trước 1975, lần lượt giữ chức vụ
Tổng trưởng các Bộ Chiêu Hồi, Cựu Chiến Binh, và Dân Vận Chiêu Hồi
trong các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1993 di cư sang Canada.
Hiện nay cư trú tại thành phố Ottawa, Ontario, và là Chủ tịch Hội đồng
Nghiên cứu Sách lược của Đại Việt Cách Mạng Đảng.