Saturday, August 17, 2013

BBC: 'Mỹ đứng sau việc thả Phương Uyên'

Cập nhật: 18:36 GMT - thứ bảy, 17 tháng 8, 2013
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, David Shear
Đại sứ David Shear trao đổi với cử tọa tại cuộc trao đổi
Trong cuộc gặp gỡ với cộng đồng Việt Nam tại tư gia của bác sĩ Nguyễn Quốc Quân hôm 16/8/2013, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông David Shear tái khẳng định tình hình nhân quyền Việt Nam vẫn không có sự cải thiện nào đáng kể như sự mong đợi của Hoa Kỳ.
Ông David Shear đã dành nhiều thì giờ để trả lời với các cơ quan truyền thông Việt Ngữ về quá trình công tác ở Việt Nam cũng như cập nhật các tình huống sẽ xảy ra trong quan hệ Mỹ - Việt sắp tới.
Tuy cuộc viếng thăm mang tính thăm viếng tư gia đến người anh ruột của nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Đan Quế như mọi người thường biết, nhưng đây chính là một cơ chế tiếp xúc để lắng nghe tiếng nói trực tiếp nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt đến với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam.
Nội dung chủ yếu của cuộc gặp gỡ là ông Đại sứ thông báo kết quả cuộc hội đàm giữa Obama và Trương Tấn Sang và qua đó nói về chiến lược Đối tác xuyên Thái Bình Dương Trans-Pacific Partnership (TPP) mà Hoa Kỳ thực lòng muốn Việt Nam tham gia vào sân chơi mới.
Sân chơi này sẽ như là chiếc chìa khóa cho sự phát triển của Việt Nam. Nhưng đổi lại Việt Nam phải giải quyết vấn đề hồ sơ nhân quyền, tự do tôn giáo một cách nghiêm túc theo quy ước về giá trị căn bản trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.
Hiện nay Việt Nam đang cần Hoa Kỳ nhiều hơn trong các quân vụ về vũ khí sát thương. Hồ sơ nhân quyền sẽ trở thành điều kiện ràng buộc trong việc mua bán vũ khí, phát triển quan hệ đối tác. Ông Đại sứ cho biết chính tổng thống Obama đã nói thẳng với ông Trương Tấn Sang như thế trong chuyến viếng thăm vào ngày 25/7/2013 gần đây.
Trong những thiện chí để làm hài lòng cử toạ về vấn đề nhân quyền, ông David Shear đã tận tình trả lời các câu phỏng vấn từng người và dành thời gian trực tiếp cho từng cơ quan truyền thông Việt Ngữ quốc tế từ VOA, RFA, BBC, đài SBTN, các tờ báo Việt Ngữ… cho đến cả Phố Bolsa TV, một kênh TV đơn giản trên youtube của hoạ sĩ Vũ Hoàng Lân.

'Hết lòng đấu tranh'

"Qua những nỗ lực đấu tranh và thương lượng, ông (David Shear) cho mọi người thấy rõ sự khó khăn và có khi là bế tắc khi nói chuyện với phía nhà cầm quyền VN về những điều Hoa Kỳ muốn nhấn mạnh"
Với tính cách tận tuỵ của nhà ngoại giao, ông Đại Sứ David Shear được mọi người khen ngợi là ông đã làm hết lòng về việc đấu tranh cho nhân quyền ở Việt Nam.
Trong những trường hợp điển hình mà ông Đại sứ nêu ra là việc phía Việt Nam đã thả luật sư Lê Công Định, tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân (người của đảng Việt Tân về nước biểu tình chống Trung Quốc và bị bắt).
Khi được hỏi về trường hợp Điếu Cày, ông Đại sứ cho biết đây là nhân vật nằm đầu bảng trong sự đòi hỏi của Hoa Kỳ. Hiện nay, Toà Đại sứ đang theo dõi sát tình hình sức khỏe cũng như điều kiện giam cầm.
Qua những nỗ lực đấu tranh và thương lượng, ông cho mọi người thấy rõ sự khó khăn và có khi là bế tắc khi nói chuyện với phía nhà cầm quyền Việt Nam về những điều Hoa Kỳ muốn nhấn mạnh.
Các câu hỏi cũng được đặt về hồ sơ Lê Phương Uyên (phóng thích tại tòa sau khi nhận án 3 năm tù treo và Đinh Nguyên Kha giảm từ 8 năm xuống còn 4 năm), viên chức chính trị của Đại sứ quán Hoa Kỳ, Michael Orona đã trả lời rằng đây là sự đấu tranh không ngừng nghỉ từ nhiều phía.
Ông Orona cho biết ngay từ đầu tiên, Tòa Đại sứ đã ra thông cáo báo chí về việc này và tiếp tục lên tiếng bằng nhiều kênh đối thoại.
Trong cuộc tiếp tân và chiêu đãi khoảng ba tiếng đồng hồ, ông Đại sứ David Shear đã gặp gỡ và trao đổi tận tình với rất nhiều đại diện cộng đồng, các đảng phái chính trị người Việt tại Hoa Kỳ.
Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, gia chủ tổ chức cuộc chiêu đãi này cho biết đây là một thủ tục bán chính thức được thiết lập từ nhiều đời Đại sứ Hoa Kỳ đến Việt Nam. Dần dần, nghi thức này được hoàn thiện và hiện này là cơ chế giải thích các chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Bài viết phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, người cũng là chủ bút tuần báo Người Việt ở vùng Đông Bắc Hoa Kỳ.

Thể thao Bóng đá giáo hữu: Mỹ thắng Bosnia 4-3

Thứ bảy, 17/08/2013
Xem
Tiền đạo Jozy Altidore (phải) ghi 3 bàn thắng cho đội Mỹ trong trận giao hữu với Bosnia Herzegovina.
Tiền đạo Jozy Altidore (phải) ghi 3 bàn thắng cho đội Mỹ trong trận giao hữu với Bosnia Herzegovina.

Tiền đạo Jozy Altidore ghi 3 bàn thắng liên tiếp để đưa đội tuyển bóng đá nam của Mỹ từ thế bị dẫn trước 0-2 ở cuối hiệp một đến chiến thắng chung cuộc 4-3 trước đội tuyển Bosnia-Herzegovina.
Ðánh bại đội đang đứng thứ 13 trên bảng xếp hạng toàn thế giới của FIFA, đội tuyển Mỹ đạt thành tích kỷ lục 12 trận thắng liên tiếp.

Bị dẫn trước 0-2 tính đến hết hiệp một, thành tích 11 trận thắng liên tiếp của đội tuyển Mỹ đứng trước nguy cơ bị đội bóng đang nổi lên của châu Âu chặn lại. Thế nhưng các cầu thủ Mỹ không hề nao núng.

Các tuyển thủ của Huấn luyện viên Jurgen Klinsmann đã có một cú lội ngược dòng ngoạn mục ở hiệp hai, đầu tiên bằng bàn gỡ 1-2 của Eddie Johnson với sự hỗ trợ của Jozi Altidore, và tiếp đến là “hat trick” của Altidore, trong đó có một pha đá phạt hàng rào ghi điểm trực tiếp, để mang về chiến thắng chung cuộc 4-3 tại Sarajevo, mở rộng loạt 12 trận thắng liên tiếp. Ðây là lần đầu tiên các tuyển thủ Mỹ từ thế bị dẫn trước đã vượt lên giành chiến thắng trên sân châu Âu.

“Bước vào hiệp hai trong thế bị dẫn trước hai bàn, chúng tôi động viên nhau phải tự tin hơn, phối hợp gắn bó hơn, thực hiện tốt các chiến thuật thì sẽ giành được chiến thắng.” Altidore phát biểu sau trận đấu. “Và chúng tôi đã làm được điều đó trong hiệp hai.”

12 trận thắng quốc tế liên tiếp hiện là thành tích cao nhất thế giới, đầu tiên do đội tuyển Tây Ban Nha đạt được vào năm 2009. Ðánh bại đội xếp thứ 13 thế giới trên bảng xếp hạng của FIFA là lần thứ hai trong chuỗi chiến thắng này đội Mỹ đã thắng được đội trong nhóm 15 đội hàng đầu thế giới, khởi đầu bằng chiến thắng 4-3 trước đội tuyển Ðức trong trận giao hữu trên sân nhà hồi đầu tháng 6.

“Bosnia là một đội bóng rất mạnh,” Geoff Cameron nói. “Các tuyển thủ của họ ở một đẳng cấp cao hơn những đối thủ mà chúng tôi thường thi đấu. Và họ có rất nhiều cầu thủ giỏi, đang thi đấu cho các câu lạc bộ hàng đầu của châu Âu trong đội tuyển của họ. Ðội Bosnia thi đấu giống đội Bỉ, họ chơi lối bóng đá tấn công rất hay.”

Thi đấu với đội bóng thuộc đẳng cấp châu Âu cho thấy hàng phòng thủ của đội Mỹ còn nhiều sơ hở mà Huấn luyện viên Klinsmann cần phải tìm cách khắc phục nếu muốn tiến xa trong hành trình World Cup. Pha ghi bàn mở tỉ số trận đấu cho đội Bosnia-Herzegovina cho thấy hàng thủ của đội tuyển Mỹ bọc lót cho nhau rất kém trong bàn thua mà thủ môn Tim Howard đã cố gắng truy cản được đến 50%.

Bàn thắng thứ ba do Edin Dzeko ghi cho Bosnia ở phút thứ 90 nhắc nhở các tuyển thủ Mỹ cần phải nỗ lực và thận trọng hơn nữa khi họ đấu với các đội châu Âu: một sở hở rất nhỏ cũng có thể chuyển thành một bàn thua, nhất là trong các giải đấu quan trọng.

Huấn luyện viên Klinsmann rất phấn khởi khi các học trò của ông giành được một chiến thắng trên đất châu Âu.

“Chúng tôi xứng đáng với chiến thắng này,” ông Klinsmann phát biểu. “Sang thi đấu trên sân cỏ châu Âu là một thách thức lớn đối với các tuyển thủ của chúng tôi. Chúng tôi cố gắng đẩy cao nhịp độ của trận đấu. Trận đấu này cho thấy chúng tôi đến đây để thi đấu giống như các đối thủ châu Âu, chứ không phải để phòng thủ và phản công.”

Huấn luyện viên Klinsmann cũng rất hài lòng với sự tiến bộ của Jozy Altidore, được thể hiện qua thành tích “hat trick” trong trận đấu này. “Chúng ta chứng kiến Jozy vui mừng thế nào,” ông Klinsmann nói về tiền đạo ghi được 7 bàn thắng cho đội tuyển Mỹ trong 5 trận đấu vừa qua. “Jozy đã trưởng thành sau vài năm qua. Jozy nay đã tận dụng rất tốt những cơ hội có được, đồng thời Jozy cũng làm cho các đồng đội thi đấu phấn khởi hơn.”

Chiến thắng này chắc chắn là một nguồn cổ vũ to lớn cho các tuyển thủ Mỹ trên hành trình tranh vé dự World Cup. Vào ngày 6 tháng 9 tới đây đội tuyển Mỹ đấu với Costa Rica trên sân đối phương. Bốn ngày sau đó đội tuyển Mỹ sẽ tiếp kình địch Mexico trên sân nhà ở thành phố Columbus, bang Ohio. Nếu duy trì được đà chiến thắng, hai trận đấu này có thể đặt cho đội Mỹ một chỗ chính thức ở World Cup Brazil vào năm tới.

“Chúng tôi phải không ngừng nỗ lực giành chiến thắng,” Altidore nói. “Giai đoạn này không cho phép chúng tôi vấp phải những sai sót như ở vòng sơ loại nữa, là vì chúng tôi sẽ không còn cơ hội lội ngược dòng nữa. Tôi tin rằng niềm phấn khởi của chiến thắng trước Bosnia hôm nay sẽ thôi thúc chúng tôi giành tiếp chiến thắng.”

Trong khi đó Bosnia cũng đang tin tưởng sẽ giành được vé đi World Cup lần đầu tiên. Ðội tuyển mệnh danh là những “Con Rồng” đang đứng đầu Bảng G của châu Âu, cách đội thứ hai trong bảng là Hy Lạp 3 điểm.

“Cải hai đội [Mỹ và Bosnia] đều đang ở vị trí rất tốt trong cuộc đua tranh vé dự World Cup,” Huấn luyện viên Klinsmann nói. “Nếu mọi sự diễn ra như mong đợi, thì hai đội có nhiều cơ hội gặp nhau ở Brazil vào năm tới. Tuy nhiên cả hai đội đều cần phải hoàn thành cuộc đua cam go này. Do đó trận đấu hôm nay đưa hai đội vào tư thế sẵn sàng cho hành trình tranh vé dự World Cup”

CHÂU ÂU - Gibraltar : Thủ tướng Anh yêu cầu Châu Âu can thiệp

Thứ bảy 17 Tháng Tám 2013
Biên giới giữa Tây Ban Nha và lãnh thổ Gibraltar thuộc chủ quyền Anh REUTERS
Biên giới giữa Tây Ban Nha và lãnh thổ Gibraltar thuộc chủ quyền Anh REUTERS

Trọng Thành RFI
Mâu thuẫn liên quan đến vùng biên giới giữa Tây Ban Nha và Gibraltar, thuộc chủ quyền Anh Quốc có diễn biến mới. Hôm qua, 16/08/2013, thủ tướng Anh David Cameron đã yêu cầu Ủy ban Châu Âu gửi một nhóm quan sát đến khu vực này, sau khi phản đối việc Madrid áp đặt kiểm soát biên giới, từ cuối tháng 7/2013.

Yêu cầu của Anh Quốc được Ủy ban Châu Âu chấp thuận. Bruxelles sẽ cử các quan sát viên tới Gibraltar vào tháng 9 tới. Tuy nhiên, Ủy ban Châu Âu khẳng định phái đoàn quan sát viên sẽ không tới đây sớm hơn, nếu như tình hình không trở nên nghiêm trọng hơn. 
Trên thực tế, lập trường của Ủy ban Châu Âu là cố gắng điều hòa mâu thuẫn giữa Luân Đôn và Madrid. 
Tây Ban Nha giải thích lý do của việc tăng cường kiểm soát tại đường biên giới với Gibraltar là để chống nạn buôn lậu thuốc lá. Đối với Luân Đôn, việc kiểm soát này không hợp pháp, bất cân xứng và ngược lại với quyền tự do đi lại trong Liên Hiệp Châu Âu. Trên thực tế, đây là các biện pháp trả đũa của Madrid, chống lại việc Gibraltar xây kè nhân tạo, gây thiệt hại cho các ngư dân Tây Ban Nha, theo tuyên bố của chính quyền Tây Ban Nha. 
Hiện tại, các camera kiểm soát tại các trạm kiểm tra thuế quan cho thấy hàng đoàn xe cộ xếp hàng chờ lượt. Tuy nhiên, Bruxelles không vội vã thay đổi lịch. 
Chính quyền Madrid khẳng định họ sẽ không từ bỏ việc kiểm soát soát giấy tờ qua biên giới, vì Gibraltar và Anh Quốc không nằm trong Hiệp ước đi lại tự do Schengen giữa các nước Châu Âu, và điều này là đặc biệt cần để chống lại nạn buôn lậu, nhất là buôn lậu thuốc lá. 
Gibraltar rộng 7km², nhượng địa của Tây Ban Nha cho Anh Quốc năm 1713, với 30.000 cư dân, là trung tâm của các căng thẳng xảy ra khá thường xuyên giữa Luân Đôn và Madrid. Tây Ban Nha khẳng định rằng, về mặt lịch sử, Madrid đã không trao cho Anh vùng biển xunh quanh nhượng địa Gibraltar.
tags: Anh - Châu Âu - Quốc tế - Tây Ban Nha - Theo dòng thời sự

AI CẬP - Châu Âu chuẩn bị các biện pháp trừng phạt Ai Cập

Thứ bảy 17 Tháng Tám 2013
Cộng đồng Ai Cập hải ngoại tập hợp đòi Cairo chấm dứt bạo động - REUTERS
Cộng đồng Ai Cập hải ngoại tập hợp đòi Cairo chấm dứt bạo động - REUTERS

Trọng Thành RFI
Hôm qua, 16/08/2013, lãnh đạo nhiều nước Châu Âu nêu quyết tâm tìm một tiếng nói chung trong vấn đề Ai Cập, sau các đụng độ đẫm máu giữa các lực lượng an ninh và phe Huynh đệ Hồi giáo.

Văn phòng RFI từ Bruxelles cho biết, đại diện 28 thành viên Liên Âu sẽ gặp nhau ngày Thứ Hai, 19/08 để trao đổi về cuộc khủng hoảng Ai Cập. Lãnh đạo 28 nước cũng sẽ tìm thỏa thuận trong việc áp đặt các biện pháp trừng phạt Cairo. 
Từ hậu trường của các định chế Châu Âu, có nhiều thông tin cho thấy Châu Âu có những biện pháp mạnh để khiến hai đối thủ chính tại Ai Cập hiện nay phải tiếp tục đàm phán, bởi Châu Âu là đối tác thương mại số một của Ai Cập. 
Sau các tuyên bố lên án chính thức, sau những lời kêu gọi kiềm chế, Liên Hiệp Châu Âu đang chuẩn bị các biện pháp cụ thể để trừng phạt chính quyền Ả Rập vì các bạo lực vừa qua. Nhiều quốc gia Châu Âu kêu gọi xem xét lại quan hệ với Cairo. 
Trong số các biện pháp trừng phạt, trước mắt có khả năng giảm bớt các khoản trợ giúp của Châu Âu cho Ai Cập.
Tháng 11/2012, lãnh đạo ngoại giao Châu Âu đã tuyên bố giải ngân khoản tiền 5 tỷ euro giúp Ai Cập trong quá trình chuyển tiếp chính trị. Tuy nhiên, các diễn biến trên thực địa khiến nhiệt tình của Châu Âu nguội bớt. Trên thực tế, không có bất cứ khoản nào trong số này đã được Ủy ban Châu Âu rót cho Ai Cập trong năm nay.
tags: Ai Cập - Châu Âu - Quốc tế - Theo dòng thời sự

ĐIỂM BÁO RFI: TRUNG QUỐC - Vô tội cũng trở thành có tội + Ai Cập : Người Hồi giáo đe dọa người theo đạo Chúa + PHÁP: Pháp tìm thầy y cho những vùng thiếu bác sĩ + Lỗ thũng tầng ô-zôn làm nóng Trái đất + Slovaquia : xưởng sản xuất chó chihuahua

Thứ bảy 17 Tháng Tám 2013
Vụ án Lý Hoài Lượng là vụ xử oan thứ 5 bị phanh phui trong 3 năm - AFP
Vụ án Lý Hoài Lượng là vụ xử oan thứ 5 bị phanh phui trong 3 năm - AFP

Lê Vy
Trong vòng ba năm gần đây, tại Trung Quốc xảy ra nhiều vụ xử oan người dân vô tội. Báo Libération ra ngày hôm nay 17/08/2013 đặc biệt quan tâm đến sự kiện này qua bài viết : « Trung Quốc : Dù vô tội, anh cũng là thủ phạm ». Thông tín viên của báo Libération tại Hà Nam, vừa phanh phui lại một vụ xử oan mới.

Đó là vụ xử anh Lý Hoài Lượng, 35 tuổi, bị tống giam trong vòng 12 năm với tội danh ám sát một cô bé 13 tuổi, mặc dù thiếu bằng chứng buộc tội anh. Anh Lý Hoài Lượng vừa mới được trắng án vào ngày 25/04/2013.
Thông tín viên thuật lại vào năm 2001,cô bé 13 tuổi, bị cưỡng hiếp bên bờ một cánh đồng ngô, sau đó bị giết chết và xác cô bé bị vứt xuống sông tại tỉnh Hà Nam. Cảnh sát đã tiến hành điều tra và hỏi cung khoảng hai chục người. Sau 48 tiếng, cảnh sát đã bỏ tù anh Lý Hoài Lượng, một người nông dân ít chữ, chỉ mới học hai năm bậc tiểu học. Vào lúc bấy giờ, anh ta đang sống cùng vợ và hai người con gái.
Điều tra của cảnh sát cho thấy bên cạnh cái quần của cô bé bị rách nát có những vết chân tương đương với cỡ giầy số 38 và có những vết máu. Anh Lý Hoài Lượng có số đo chân là 44, nhóm máu của anh ta cũng không trùng với kẻ sát nhân. Tuy nhiên, điều đó không quan trọng, cảnh sát đã quyết định anh là thủ phạm.
Anh Lý Hoài Lượng thuật lại khi trong tù, anh bị trói vào ghế và bị đánh bằng dây xích. Cảnh sát nói với anh ta : « Thậm chí anh vô tội thì anh cũng là thủ phạm ».
Vụ án Lý Hoài Lượng là vụ kết án oan thứ 5 được đưa ra công chúng trong vòng ba năm nay. Tờ báo nhận định, đây là một làn sóng thực sự, trong một đất nước mà các quan chức thường không bao giờ nhìn nhận lỗi lầm của mình.
Bài báo cho biết, cực hình dưới mọi hình thức được sử dụng để buộc người bị tình nghi nhận tội. Lý Hoài Lượng cho biết : « Đau đớn giày vò tôi đến mức cuối cùng, tôi đã in dấu vân 10 đầu ngón tay lên biên bản được gọi là bảng thú tội. Do tôi không biết đọc, tôi đã không biết mình đã ký vì điều gì ». Anh đã may mắn thoát được án tử hình.
Phiên xử thứ nhất diễn ra vào năm 2003 trong vòng vài giờ, cảnh sát buộc anh học thuộc lòng những lời thú tội bằng cách giao cho một tên tù khác cùng phòng đánh anh Lý Hoài Lượng để cho anh Lý Hoài Lượng phải nhận tội. Anh Lượng kể lại : « Cảnh sát đảm bảo với tôi là sau đó mọi việc sẽ tốt đẹp » và anh bị kết án 15 năm tù.
Ông Vương Vĩnh Kiệt, một trong những luật sư bào chữa cho anh Lý Hoài Lượng nhận xét : « Do không có chứng cứ, tòa án còn nghi ngờ khả năng anh phạm tội, cho nên chưa phán trực tiếp án tử hình ». Luật sư Vương Vĩnh Kiệt còn nhận định rằng : « Trong những vụ án giết người, bằng mọi cách phải tìm ra thủ phạm để chứng tỏ cảnh sát làm việc có hiệu quả. Do đó, việc một số người đứng mũi chịu sào bị án oan, là cái giá phải trả cho phương pháp làm việc này của cảnh sát. Trên thực tế, gần 90% người bị buộc tội giết người bị kết tội theo cách thức này ».
Bài báo đặt câu hỏi : Tại sao chính quyền Bắc Kinh lại thay đổi cách hành xử, chịu thả anh Lý Hoài Lượng ? Một số thì nhận thấy có ít nhiều ảnh hưởng của tân Phó chủ tịch Tòa án Tối cao. Trong một bài diễn văn chính thức, ông đã thay đổi giọng điệu. Trước đây, ông từng giải thích rằng « thẩm phán nên bắt người vô tội còn hơn thả kẻ phạm tội ». Từ nay, ông chỉnh lại rằng : « nên nhận thấy rằng cần thả người phạm tội hơn là kết án một người vô tội ».
Việc thả anh Lý Hoài Lượng cho thấy kẻ sát nhân vẫn còn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Tại ngôi làng, nơi xảy ra vụ án mạng, dân làng tiếp tục nghi ngờ lẫn nhau nhưng hơn phân nửa dân làng vẫn nghĩ rằng anh Lý Hoài Lượng là thủ phạm.
Ai Cập : Người Hồi giáo đe dọa người theo đạo Chúa
Tình trạng bạo lực và hỗn loạn xã hội tại Ai Cập vẫn là đề tài thu hút sự quan tâm của các báo Pháp ra ngày hôm nay. Trên trang nhất báo Le Figaro chạy tựa : « Người Thiên Chúa giáo bị người Hồi giáo làm khiếp sợ ». Báo Le Figaro dành hai trang lớn cho tình hình tại Ai Cập với hai bài viết : « Một ngày chết chóc mới tại Ai Cập » và bài : « Người Cốp theo đạo Thiên Chúa trở thành điểm ngắm của người Hồi giáo ».
Báo Le Figaro nhận định, người Cốp, đa số theo Thiên Chúa giáo, đang sống trong nỗi sợ hãi phe Huynh đệ Hồi giáo tấn công. Người Cốp chiếm khoảng 10% dân số Ai Cập. Theo một tổ chức phi chính phủ (ONG) thì đã có ít nhất 25 nhà thờ bị đốt cháy trong hai ngày diễn ra bạo lực ngày 14 và 15/08.
Báo Le Figaro phỏng vấn ông Tewfik Aclimandos, một chuyên gia tại Collège de France, nghiên cứu về các quốc gia Ả Rập. Theo ông, phe Huynh đệ Hồi giáo và đồng minh đã đốt cháy khoảng 50 nhà thờ, tấn công vào các cơ sở, cửa hiệu của người Cốp và người đi đường có đeo thánh giá.
Đối với ông, xã hội Ai Cập không phải bị cắt ra làm đôi bởi vì phần đông dân chúng, trong đó có cả người Hồi giáo, không muốn phe Huynh đệ Hồi giáo nữa. Trong trường hợp có bầu cử đi chăng nữa, phe này cũng khó kiếm được đồng minh. Tại các thủ đô phương Tây, người ta khó thấy được là phe Huynh đệ Hồi giáo đã bị mất tín nhiệm đến mức nào, là họ đã dữ tợn như thế nào.
Báo Le Monde cũng quan tâm đến tình hình Ai Cập qua bài viết : « Tại Cairo, một cuộc thảm sát do quân đội tổ chức ». Về vấn đề tôn giáo, Le Monde cũng ghi nhận « người Cốp theo đạo Thiên Chúa là đối tượng trả thù số một của phe Huynh đệ Hồi giáo ».
Hồ sơ Ai Cập cũng được báo Libération chú ý với tựa trên trang nhất hiểu theo nghĩa « Vòng xoáy ». Theo Libération, hôm qua, xung đột giữa lực lượng an ninh và phe ủng hộ cựu tổng thống Morsi đã làm hàng chục người chết, trong một đất nước cận kề với nội chiến.
Báo Aujourd’hui en France đăng bài : « Ai Cập trong ngõ cụt ». Ông Bernard Kouchner, cựu Ngoại trưởng Pháp nhận định : « Cuộc trấn áp này (của chính phủ) là điều không thể chấp nhận được ». Ông cho rằng đây là điểm bắt đầu của một cuộc nội chiến kéo dài và chắc chắn không dừng lại ở đó.
Pháp tìm thầy y cho những vùng thiếu bác sĩ 
Liên quan đến thời sự tại Pháp, báo Le Figaro trong mục kinh tế quan tâm đến tình hình thiếu hụt bác sĩ tại Pháp qua bài viết : « Nhà nước tìm kiếm 200 bác sĩ để trám vào những chỗ thiếu hụt bác sĩ». Tờ báo cho biết bác sĩ nào muốn làm việc tại những nơi thiếu hụt bác sĩ sẽ nhận được tiền lương 3640 euro mỗi tháng.
Đó là nội dung thông báo được Bộ trưởng Y tế Marisol Tourraine đăng ngày 15/08. Theo tờ báo, cái hấp dẫn nhất ở đây không phải là thu nhập nhưng là các lợi ích xã hội. Hợp đồng dự trù một số cải cách có thể được coi là một cuộc cách mạng nhỏ cho các bác sĩ hành nghề tự do như quyền được nghỉ hộ sản hay nghỉ bệnh.
Tờ báo đặt câu hỏi : Những quyền lợi này có đủ hấp dẫn để lôi kéo 200 bác sĩ hay không ? Đa số các bác sĩ trẻ đều tốt nghiệp tại các thành phố lớn, nơi mà họ đã bắt đầu xây dựng cuộc đời. Họ không mơ mộng đi đến những nơi nông thôn hẻo lánh hay những vùng ngoại ô khó khăn, hai nơi điển hình cho tình trạng thiếu hụt các dịch vụ y tế tại Pháp.
Ngoài ra, một số thành phần khác - khoảng độ tuổi trung bình 38 - liệu họ có chấp nhận đến một nơi thiếu hụt các dịch vụ y tế hay không ? Ngoài ra còn có vấn đề con cái và gia đình họ bởi vì những nơi thiếu dịch vụ y tế cũng là những nơi thiếu các phương tiện khác như trường học cho con cái và việc làm cho người bạn đời.
Lỗ thũng tầng ô-zôn làm nóng Trái đất
Trên hồ sơ khoa học, báo Le Figaro hôm nay quan tâm đến việc tầng ô-zôn bị thủng tại Nam cực làm cho Trái đất nóng lên, đặc biệt là khí hậu Nam Bán Cầu. Tờ báo miêu tả, lỗ thủng này có diện tích trung bình bằng diện tích các nước Hoa Kỳ, Canada và Mehico gộp lại (từ 20-30 triệu km2).
Theo tờ báo, tầng ozone bị phá hoại nặng nề nhất là do việc sử dụng hợp chất CFC (flo, clo và carbon) trong thương mại và công nghiệp. Chất này gây tác động trên diện rộng ở Nam bán cầu.
Từ khi Nghị định thư Montreal 1989 được các nước thành viên ký kết để bảo vệ tầng ozone bằng cách loại bỏ chất CFC, hóa chất độc hại này đã bị cấm sản xuất trên thế giới nhưng nó vẫn tồn tại rất lâu trong không khí.
Lớp ô zôn là một lớp khí quyển trên bề mặt Trái đất, có tập trung lượng ô zôn cao. Lớp ô zôn ở tầng bình lưu bảo vệ Trái đất chống các tia cực tím của Mặt trời, giúp bảo vệ làn da và mắt con người.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Trường đại học Columbia của Mỹ được công bố khẳng định tầng ozon ở Nam Cực bị thủng đã làm biến đổi khí hậu nghiêm trọng trên hành tinh và làm tăng nhiệt độ nhưng thay đổi hướng gió (theo kết quả nghiên cứu mang tên Geophysical Research Letters). Hiện tượng này ảnh hưởng đến việc phân chia các đám mây, làm cho các đám mây ở cực nam tản xa ra và có nhiều tia mặt trời chiếu xuống đất hơn, từ đó làm Trái đất nóng lên.
Slovaquia : xưởng sản xuất chó chihuahua
Đối với những người yêu thích nuôi chó thì báo Libération hôm nay đăng bài viết cho biết đất nuớc Đông Âu, Slovaquia trở thành công xưởng sản xuất ra chó Chihuahua, một trong những giống chó nuôi nhỏ nhất trên thế giới. Cái tên này được đặt theo tên của bang Chihuahua ở Mêhico. Giống chó này rất thông minh.
Theo tờ báo, đất nước bắt đầu nuôi giống chó này để xuất khẩu mà không cần quan tâm đến vấn đề đạo đức. Từ khi gia nhập Liên hiệp châu Âu vào năm 2004, Slovaquia muốn xuất khẩu ra thị trường chung châu Âu giống chó này mà không vướng phải một rào cản thuế quan nào. Một chú chó chihuahua đáng giá 400 euro tại Slovaquia có thể bán tại Pháp với giá 2000 euro mà không có vấn đề gì. Do đó, mọi người đều đổ xô nuôi và kinh doanh chó bằng mọi cách.
Báo Libération mô tả các chú chó bị « khai thác » thậm tệ tại Slovaquia : bị bắt phải đẻ liên tục, và khi đã kiệt sức thì bị vứt vào bãi rác, bị dìm chết hay bi cột vào gốc cây. Các chú chó này cũng không được khám thú y.
Tại Pháp, chó nuôi để sinh con được sử dụng trong 6 hoặc 7 năm, trong khi tại Đông Âu là thời gian kéo dài từ 9 đến 10 năm, kèm theo là các chứng bệnh ung thư vú, hay tật bệnh khác. Gần đây, một trại chăn nuôi vùng Paris đã thử nghiệm trên 6000 chó con. Kết quả gây sửng sốt : những con nhập khẩu từ Đông Âu có tỷ lệ tử vong là từ 5-15% tùy theo từng giống, trong khi tỷ lệ đó chỉ có 1% đối với chó sinh tại Pháp.
Để được xuất khẩu trong Liên hiệp châu Âu, thì vật nuôi phải được tiêm vắc-xin, đeo một con chíp điện tử và có độ tuổi ít nhất là 3 tháng rưỡi. Thế nhưng, theo nhận định của một chuyên gia thì chó ở độ tuổi này không thể bán được. Ông cho biết : « Mấy chú chó này thường chỉ có từ 6 - 10 tuần tuổi, không được cai sữa đàng hoàng, và cho thấy một số rối loạn về hành vi. Các chú chó này được xuất khẩu với giấy tờ giả, được các bác sĩ thú y dỏm ký giấy. Đó là sự cạnh tranh bất chính đối với các nhà sản xuất Pháp ».
tags: Châu Á - Trung Quốc - Xã hội - Điểm báo

VIỆT NAM - Human Rights Watch : Áp lực nhân quyền với Hà Nội có hiệu quả

 Thứ bảy 17 Tháng Tám 2013
Phương Uyên ngay sau khi được trả tự do (DR)
Phương Uyên ngay sau khi được trả tự do (DR)

Tú Anh RFI
Sự kiện tòa án Việt Nam giảm án cho hai sinh viên Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên bị quy tội chống chính quyền trong phiên xử phúc thẩm hôm qua 16/08/2013 được báo chí nước ngoài xem là hy hữu. Human Rights Watch xem đây là thành quả của một chiến dịch áp lực quốc tế cần phải được áp dụng lâu dài với chính quyền Việt Nam.

Trong phiên tòa phúc thẩm mà thân nhân không được thông báo và tham dự, sinh viên Đinh Nguyên Kha, từ 8 năm tù giảm án xuống một nửa. Nhưng đặc biệt là án tù của Nguyễn Phương Uyên trở thành án treo và cô sinh viên 21 tuổi này đã được thả ngay tại tòa phúc thẩm Long An vào trưa hôm qua.
Bình luận về sự kiện này, các hãng thông tấn quốc tế AP và AFP gọi là một màn « trình diễn khoan hồng » và « rất hiếm hoi ». Công tố viên lúc đầu đề nghị giảm một ít năm tù nhưng sau đó đã thay đổi bản án mà không giải thích tại sao trong khi « can phạm » vẫn khẳng định mình là người yêu nước và « chống đảng không có nghĩa là chống tổ quốc Việt Nam ».
Tổ chức nhân quyền Mỹ Human Ritghs Watch nhận định là chính quyền Việt Nam chưa thay đổi hẵn chính sách về nhân quyền nhưng áp lực quốc tế bắt đầu có tác dụng và Hà Nội biết lắng nghe thông điệp của tổng thống Mỹ Obama cải thiện nhân quyền.
Phil Robertson, giám đốc HRW tại châu Á phân tích thêm trên làn sóng RFI :
« Đúng là ngoài sức tưởng tượng nhưng chúng ta phải thận trọng. Bản cáo trạng vẫn còn treo lơ lững trên đầu cô gái (Phương Uyên) và cô có thể bị đưa trở lại vào nhà tù một cách dễ dàng mặc dù cô chẳng có tội tình gì để phải bị truy bắt.
Do vậy, thật tình mà nói, sự kiện cô (Phương Uyên) được thả là một cử chỉ khéo léo của chính quyền Việt Nam. Nhưng điều này không có nghĩa là họ thay đổi hẳn chính sách đối với những người có lời phát biểu không lọt tai chế độ.
Ngược lại, tôi nghĩ do có một phong trào vận động quốc tế bảo vệ cho cô và như vậy áp lực quốc tế đã mang lại kết quả.  Đây là một bài học mà cộng đồng quốc tế, chính phủ cũng như các nhà tài trợ phải suy ngẫm khi hỗ trợ hay giao dịch với Việt Nam : từ nay về sau quốc tế phải cứng rắn hơn với chính quyền Việt Nam trên hồ sơ nhân quyền ».
tags: Nhân quyền - Quốc tế - Việt Nam

Bạn Thật, Bạn Giả - Lê Hữu

August 17, 20130 Bình Luận
 “Bạn giả cũng tựa như bạc giả,
đã không xài được mà để trong túi
có khi mang họa.”

Nhiều người vẫn cho rằng một trong những hạnh phúc trên đời này là tình bạn. Điều này thì ai cũng dễ dàng đồng ý thôi. Thế nhưng, để có tình bạn thực sự thì cần có những người bạn thực sự. Như thế nào gọi là một người bạn?     
      Liệu có phải những ai ta vẫn giao du đều là bạn cả? Không đâu, số người ấy gồm cả “bạn” lẫn “bè”, và phần nhiều là bè hơn là bạn. “Bạn bè” không phải là lối nói cho xuôi tai, cũng không phải là “từ láy”, “từ đệm” này nọ như nhiều người tưởng mà là “từ ghép” của hai chữ “bạn” và “bè”. Bạn, nói đơn giản, là người đồng hành cùng chia vui sẻ buồn với ta trên những chặng đường đời. Bè là những kẻ tạt ngang qua đời ta trong chốc lát, rồi đường ai nấy đi mà không chút vấn vương.
Tình bạn và tình bè
     Bè là một dạng “bạn qua loa”. Bè trong những chữ “bè phái”, “kết bè, kết đảng” gợi lên ý tưởng không lấy gì làm hay ho cho lắm.
     Kết bè luôn luôn dễ dàng hơn kết bạn, như ta dễ dàng “cụng ly” với người mới tiếp xúc lần đầu trong một bàn tiệc. Bạn nhậu là một trong những dạng “bè” khá phổ biến. Bàn nhậu và cuộc nhậu mở ra những cơ hội thuận tiện cho những ai có nhu cầu kết bè.
     “Bè” dễ đến, dễ đi. Những lúc ta sảng khoái thì bè xăng xái “tấp” vào, những khi ta phiền muộn thì bè lặng lẽ “trôi” đi. Những kẻ ở quanh ta trong những cuộc vui ồn ào mà ta tưởng là “bạn” thường chỉ là “bè”. Như những cuộc vui chóng tàn, những người “bạn” dễ dãi ấy cũng nhanh chóng biến mất khỏi đời sống chúng ta. Những con người ta dễ lầm tưởng là “bạn” ấy, nhiều lắm chỉ đi với ta một đoạn đường ngắn ngủi, cũng không khác mấy những anh chàng, những cô nàng vớ vẩn mà ta có lần “đụng” phải, có lần gặp gỡ phất phơ đâu đó trong đời này, nói dăm ba câu chuyện nắng mưa rồi chia tay, đường ai nấy đi và chẳng bao giờ còn gặp lại lần thứ hai.
     “Bè” cũng hay “đổi bè”, khi thì hát “bè” này, khi thì đổi sang “bè” khác. Tình bè khó mà bền chặt vì thiếu sự hiểu biết và tin cậy. Bè có khi hóa thành bạn, tình bè có khi đổi sang tình bạn nếu chung sống được với nhau lâu dài. Thường thì bè chỉ là bè.
     “Có hoạn nạn mới biết bạn, bè”, câu ấy không mới nhưng chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ sai, và cũng cho thấy một trong những “đức tính” nổi bật của bè: những lúc “bạn” khốn đốn thì “bè” chẳng thấy đâu và thường viện những lý do chính đáng để không phải ra tay nghĩa hiệp với bạn mình.
     Hầu như ai cũng có ít nhiều bè, là những người ta vẫn tiếp xúc vì nhu cầu giao tế hoặc cùng môi trường sinh hoạt (hội hè, làm việc, giải trí…), nhưng không kể là bạn nên họ phải là bè. Ngược lại, ta cũng là bè của nhiều người, những người không thực sự xem ta là bạn. Cuộc sống là vậy. Thường thì bè cũng vô thưởng vô phạt, nếu ta chẳng trông cậy gì ở họ thì cũng không phải thất vọng vì họ.
     Bạn cũng có bạn thân, bạn sơ. “Bạn sơ” có điểm giống “bè” là ta không biết gì nhiều về họ nên không đủ độ tin cậy. Bạn thân thường là bạn quen biết và gắn bó lâu năm, là người biết rõ cả tính tốt lẫn thói hư tật xấu của ta. Bạn thân là người từng chia sớt cùng ta những vui buồn, sướng khổ, và là người ta tin cậy được để chia sẻ những nỗi niềm. Bạn thân không hẳn là tri kỷ hoặc gần nhau về tính cách, sở thích, quan niệm. Bạn thân cũng không hẳn là người thật tốt. Có những người thật tốt với ta, có khi tốt hơn cả những bạn thân, nhưng ta vẫn không cảm thấy gần gũi, thân mật, vì thế không gọi là bạn thân.    
     Tình bạn thường “tĩnh” hơn là “động”, lắng đọng hơn là sôi nổi. Ở giữa hai người bạn thân là sự đồng cảm. Tận cùng của đồng cảm là thinh lặng.
     Tình bạn cần có một bề dày của sự gắn bó, hiểu biết, cảm thông và tin cậy. Đến một tuổi nào đó người ta thật khó mà có thêm được những người bạn mới, trong lúc những người bạn cũ thì cứ mất đi lần lần. Càng lớn tuổi người ta càng cảm thấy cô đơn là vậy, và chẳng còn cách nào khác hơn là cố mà giữ lấy và yêu lấy những tình bạn cũ kỹ, hiếm hoi còn sót lại.
     Những người tưởng rằng mình có nhiều bạn, thực ra là những người không có hoặc có rất ít bạn, và không biết phân biệt đâu là bạn, đâu là bè; hơn thế nữa, đâu là bạn thật, đâu là bạn giả.
 
Bạn thật tình thật, bạn giả tình giả
      Bạn lại có “bạn thật” và “bạn giả”. Bạn thật là khuôn mặt thật, không điểm phấn tô son. Bạn giả là chiếc mặt nạ, với nhiều lớp phấn dày. Như cuộc sống có hai mặt, con người vừa có bạn thật lại vừa có bạn giả. Rủi thay, bạn giả lúc nào cũng nhiều hơn bạn thật. Bạn giả thì tình cũng giả, đến với ta vì cái gì đó khác hơn là tình thật.
     Bạn giả là người đóng giả vai người bạn, ngoài mặt tỏ ra thân thiết nhưng có thể bất ngờ tặng cho ta những nhát dao trí mạng từ phía sau lưng, hoặc phun ra những nọc độc của lòng đố kỵ. Đôi lúc có kẻ thù còn dễ chịu hơn là có những người bạn giả. Bạn giả cũng tựa như bạc giả vậy, đã không xài được mà để trong túi có khi mang họa.
     Bạn giả cải trang rất khéo, ra vẻ tình nghĩa thắm thiết, nói năng toàn những lời hay lẽ phải. Thường thì người ta phát giác ra bạn giả khá muộn màng, đành tự an ủi là học được bài học quý giá (với chút vị đắng cay) về những tình bạn… giả. Bạn giả như rượu giả, uống vào mới ngã ngửa ra.
     Bạn thật và bạn giả đều là những “bạn” ta quen biết khá lâu. Làm sao nhận biết được bạn nào là thật, bạn nào là giả?
     Bạn thật là người thực tâm mong muốn những điều tốt lành cho người bạn mình, là người vui sướng thấy bạn mình hạnh phúc, may mắn và thành công trong cuộc sống, như là hạnh phúc, may mắn và thành công của chính mình vậy (dẫu có “qua mặt” mình đi nữa). Bạn thật không bỏ qua cơ hội nào giúp bạn mình thăng tiến trên đường đời. Bạn thật không ngại tán thưởng về tài năng hoặc thành công của bạn mình để giúp bạn thêm tự tin trong cuộc sống, và không ngại nói thẳng nói thật về những sai trái của bạn mình để giúp bạn cải thiện bản thân. Bạn thật không ngại nói tốt về bạn mình sau lưng bạn, và sẵn sàng bẻ gãy những mũi tên ác ý nhắm vào bạn mình. Bạn thật là bàn tay chìa ra cho bạn mình nắm lấy lúc sa cơ thất thế, là đôi nạng cho bạn mình tựa vào lúc chông chênh, nghiêng ngả giữa dòng đời xuôi ngược. Bạn thật là người đến với ta trong những thời kỳ đen tối nhất của đời ta, trong những lúc ta trần trụi, và cũng là người ta có thể đến gõ cửa mà không cảm thấy ngại ngùng khi cần sự giúp đỡ.
     Bạn giả là người có những “đức tính” trái ngược hoặc không giống như trên.
     Những người bạn thật như thế làm sao mà có nhiều được, thường chỉ đếm được trên những đầu ngón tay của một bàn tay (và ít khi đếm hết được). Con số này lại hao hụt dần và không kiếm đâu ra được để mà thay thế khi ta bước vào buổi hoàng hôn của đời người. Những con người ta gặp gỡ vào tuổi xế chiều, khi mà quỹ thời gian đã gần cạn, làm sao mà có đủ bề dày của một tình bạn.
     Làm sao để có được những người bạn thật? Tôi chắc câu trả lời được nhiều người tán đồng là: “Bạn hãy tỏ ra là người bạn thật.”
     Chẳng ai có hứng thú gì để “giao lưu tình cảm” với những người bạn giả, trừ khi ta cũng là… bạn giả.
     Lúc nào rảnh rỗi, bạn thử làm việc này: với cây bút và tờ giấy, vẽ ra hai cột “Bạn” và “Bè” và ghi xuống tên những người ta vẫn giao du vào mỗi cột tương ứng. Từ cột “Bạn”, ta có thể di chuyển một ít tên sang cột thứ ba là cột “Bạn giả”, sau khi xem xét cẩn thận để đi đến kết luận rằng những “bạn” ấy không phải là bạn thật. “Bảng phân loại” này giúp ta có được cách xử sự phù hợp với từng đối tượng.
     Với những người tôi thực lòng quý mến, tôi vẫn nói: “Tôi mong cho anh/chị không có bạn hơn là có những người ‘bạn giả’. Có được chừng vài ba người ‘bạn thật’ thì anh/chị là người may mắn và hạnh phúc.”
Lê Hữu
www.vietthuc.org

Chúng Ta Đã và Đang Thực Sự Mất Nước - Phạm Cao Dương, TS

August 17, 20130 Bình Luận
“Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”  Vua Lê Thánh Tông dụ bọn Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy, năm 1473
“Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng như Đông-nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản..xứng đáng với sụ tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông-nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô- Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây.”
Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất.” Mao Trạch Đông tuyên bố trước Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1959
 
Nói về hiện tình đất nước ở vào thời điểm 2013 mà không nói tới tham vọng và cuộc xâm lăng của người Tàu, cuộc xâm lăng mới nhất, đang xảy ra trên lãnh thổ của nước ta là một điều vô cùng thiếu sót. Vì vậy thay vì góp thêm nhận định về hiện trạng kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục ở trong nước hiện tại, tôi xin phép Ban Tổ Chức và toàn thể quý vị cho tôi được nói đôi chút về đề tài nóng bỏng này, đề tài tôi tạm gọi là “ Chúng Ta đã và Đang Mất Nước”.   
Vì thời giờ có hạn, tôi chỉ xin nói ra những điểm chính. Sau buổi hội thảo ngày hôm nay tôi sẽ xin ghi lại những chi tiết đầy đủ hơn và sẽ xin gửi tới quý vị sau. Cũng vì thì giờ có hạn, tôi sẽ không nói tới hay đúng ra không nói nhiều về Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò của Trung Cộng và những gì đế quốc mới này đã và đang làm ở trong vùng biển này như thành lập Thành Phố Tam Sa, thiết lập các cơ cấu hành chánh, chánh trị, quân sự, đưa các tàu hải tuần xuống đe dọa các quốc gia liên hệ chặn bắt, các tàu đánh cá của ngư dân, đặc biệt là ngư dân Việt Nam…Lý do là vì tất cả đã trở thành đề tài thời sự thế giới, được nói tới gần như hàng tuần và luôn cả hàng ngày trên các đài phát thanh, các đài truyền hình quốc tế cũng như các đài phát thanh, đài truyền hình của người Việt, trên các trang mạng từ nhiều năm nay và đương nhiên trong những buổi gặp gỡ giữa anh em, bạn bè chúng ta.
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về bản “Tuyên Cáo về việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Động Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Đông”, ngày 25 tháng 6 năm 2011 và bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước Trong Tình Hình Hiện Nay” của các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng ở trong nước gửi Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 10 tháng 7 cùng năm và nhiều kiến nghị khác mà mọi người đều biết trước là sẽ không bao giờ được trả lời hay chỉ được trả lời quanh co hay gián tiếp.
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về lối trả lời gián tiếp các nhà trí thức kể trên của Đảng CSVN xuyên qua một bài báo đăng trên tờ Đại Đoàn Kết theo đó những người cầm quyền ở Việt Nam hiện tại đã tỏ ra vô cùng lúng túng trước câu hỏi về bản công hàm của Phạm Văn Đồng nhân danh Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gửi Chu Ân Lai, Chủ Tịch Quốc Vụ Viện nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, ngày 14 tháng 9 năm 1958. Đây là lần đầu tiên những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã thừa nhận là họ đã lựa chọn nhường các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng để đổi lấy sự giúp đỡ của Trung Cộng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực của họ sau đó. Đây cũng là lần đầu tiên họ, những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, công nhận các chính phủ Quốc Gia Việt Nam thời Quốc trưởng Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa là những chính phủ hợp pháp có trách vụ quản trị các quần đảo này theo Hiệp Định Genève cũng như những nỗ lực không thể chối cãi mà những chính phủ quốc gia này đã làm để bảo vệ các quần đảo này trong suốt thời gian các chính phủ này tồn tại.
Lý do chính yếu khiến tôi không nói hay chỉ nói rất it về những sự kiện kể trên là vì tất cả hiện thời ở Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới chỉ là diện, là bề ngoài, là mới chỉ là bắt đầu. Tất cả rồi cũng sẽ được giữ nguyên trạng trong một thời gian dài và dù muốn hay không Hoàng Sa cũng đã mất rồi, còn Trường Sa thì cũng mất nhiều phần, còn nhiều thế hệ nữa Việt Nam mới có thể lấy lại được hay có cơ hội lấy lại được. Trung Hoa Cộng Sản trong mọi hoàn cảnh cũng đã chiếm được và giữ được những phần quan trọng kể từ sau khi họ chiếm Hoàng Sa từ trong tay Việt Nam Cộng Hòa hồi tháng Giêng năm 1974 trong sự im lặng, đồng lõa của chính quyền Cộng Sản Hà Nội. Cái giá để cho Đảng CSVN xâm chiếm miền Nam và thống nhất đất nước ta bằng võ lực phải nói là quá đắt cho dân tộc Việt Nam và cho chính họ.
Hoàng Sa, Trường Sa hay rộng hơn Biển Đông chỉ là những gì nổi bật bề ngoài, là cái diện ai cũng có thể thấy được trong tiến trình mất nước của dân tộc Việt Nam đầu Thế Kỷ 21 này. Vậy thì cái điểm nằm ở đâu? Thưa quí vị, nó nằm ngay trên đất liền, trên lãnh thổ của chính quốc Việt Nam.  Nó nằm rải rác ở khắp lãnh thổ nước ta chứ không riêng ở biên giới phía bắc, đành rằng ở biên giới phía bắc, người ta đã ghi nhận những sự nhổ và lui cột mốc, sự mất ba phần tư Thác Bản Giốc, những sự chiếm giữ các cao điểm có tính cách chiến lược từ trước và sau trận chiến 1979 giữa hai đảng Cộng Sản Á Châu và có thể từ xa hơn nữa, từ đầu thập niên 1950, khi CSVN mở cửa biên giới phía bắc để nhận viện trợ của Trung Cộng nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh chống Pháp và gián tiếp chống lại chính quyền Quốc Gia Việt Nam lúc đó đã được thành lập bởi Cựu Hoàng Bảo Đại. Những thắc mắc về sự mất mát này cho tới nay vẫn chưa được hoàn toàn giải toả dầu cho đã được nhiều người đòi hỏi. Tôi sẽ nói thêm ở phần cuối về vấn đề này. Có điều là đến giờ thì hai bên đã ký kết những thỏa ước và những cột mốc mới đã khởi sự được “cắm” rồi. Những điểm này tuy nhiên chỉ là ở dọc vùng biên giới. Quan trọng hơn và nguy hiểm hơn, bức thiết hơn là những điểm, mà không phải là điểm hiểu theo ý nghĩa đen của danh từ, nằm sâu ngay trong lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam, dưới quyền quản lý của chính quyền Cộng Sản hiện tại nhưng vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền này. Những điểm vừa cố định, nằm nguyên một chỗ, vừa di động khắp nơi trên lãnh thổ, điển hình là những mỏ bauxite trên cao nguyên, những khu rừng đầu nguồn nằm ở cửa ngõ của những vùng biên giới Việt-Trung và Lào-Việt , những khu vực trúng thầu, những địa điểm thu mua các nông sản, những vùng nông dân bỏ trồng lúa, trồng khoai, những trại nuôi cá, điển hình là trại nằm không xa quân cảng Cam Ranh là bao nhiêu mà các nhà cầm quyền địa phương sau cả gần chục năm không hề biết, những khu phố kiểu Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương … Tất cả đã trở thành những “thực dân địa” của người Tầu ngay trong lòng của lãnh thổ Việt Nam, nơi những ủy ban nhân dân vẫn còn làm chủ. Nói cách khác, theo lời của các tác giả của Bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước …” ngày 10 tháng 7 năm 2011 mà tôi đã dẫn trên đây thì “…mặt trận nguy hiểm nhất đối với nuớc ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nước ta. Đó là mặt trận vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ nước ta nhân danh cùng nhau gìn giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây chia rẽ giữa nhân dân ta và chế độ chính trị của đất nước, vừa lũng đoạn nội  bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đại đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta. Đánh thắng nước ta trên mặt trận nguy hiểm nhất này, Trung Quốc sẽ đánh thắng tất cả.” Nói cách khác đó là chiến lược dùng quyền lực mềm thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam để nhẹ ra là đưa Việt Nam đến chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, còn nặng ra là chiếm luôn cả nước. Đến lúc đó thì Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò đương nhiên sẽ trở thành biển đảo của Trung Quốc.
Hãy tưởng tượng ngay trên Cao Nguyên Miền Nam, địa diểm chiến lược quan trọng nhất đã chi phối toàn bộ an ninh của miền nam Việt Nam và sự thống nhất của lãnh thổ quốc gia trong quá khứ, trong một khu vực rộng lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương của người Việt, là một khu vực dành riêng cho người Tầu, không ai được nhòm ngó, không ai được ra vào. Họ được tự do mang người của họ vô, mang người của họ ra, được chở đồ của họ vô, chở đồ của họ ra một cách tự do, thong thả không qua một sự kiểm soát nào. Những người này là những người nào? những đồ này là những đồ gì ? Làm sao biết được, ai mà biết được… cho đến biến cố tầy trời nổ ra? Cũng vậy, ở những khu rừng đầu nguồn và ở những địa điểm của những công trình xây cất có tính cách căn bản nhằm cung cấp điện năng, khoáng sản, dầu khí…những lãnh vực thuộc loại tối quan trọng liên hệ tới an ninh của quốc gia. Hãy nhìn vào con số 90% các “gói thầu” thuộc loại này được mở ra ở trong nuớc đã lọt vào tay các nhà thầu Trung Cộng. Nhiều gói lên tới hàng tỷ Mỹ kim với những món tiền lót tay không phải là nhỏ, từ 10% đến 15% tiền thầu. Hậu quả là những công trình do họ thực hiện phần lớn có phẩm chất kém, thời gian thi công kéo dài trong khi các nhà thầu Việt Nam, vì không đủ vốn, không đủ thế lực chỉ còn bất lực, đứng bên lề các đại công trường trên đất nước mình. Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là nạn nhân công người Tầu do chính các chủ thầu người nước họ mang sang để lao động thay vì các nhân công bản xứ. Ở khắp nơi, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồ Sơn đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, đến Đà Nẵng rồi vô tới Bình Dương và Cà Mau…chỗ nào có nhân công người Tầu đều có những khu cư xá riêng cho họ, kèm theo là các chợ búa, các cửa hàng, các trung tâm dịch vụ, các nhà nghỉ, các quán cà phê, karoke mang chữ Tàu… để phục vụ cho họ. Người Việt Nam không riêng chỉ có thể đứng nhìn mà còn trở thành nạn nhân của tất cả những tệ hại do họ gây ra như ăn uống, nhậu say không trả tiền, phá phách, tiểu bậy, trêu gái, đánh lộn , kéo hàng trăm người đánh hội đồng người bản xứ khi có tranh chấp…
Những người Tầu được gửi sang Việt Nam để lao động kể trên thuộc thành phần nào? Họ có phải thuần túy là dân lao động có tay nghề hay là những quân nhân thuộc những đơn vị đặc biệt, những đặc công tình báo được gửi sang để thực hiện một mưu đồ hiểm độc lâu dài hơn? Hiện tại chưa có gì là rõ ràng mà chỉ là ức đoán. Có điều là họ hiện diện ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam mà các nhà cầm quyền từ trung ương đến địa phương đều đã không kiểm soát được hay làm lơ không kiểm soát. Mặt khác, nếu nhìn vào những gì Trung Cộng đã làm ở Tân Cương, ở Mông Cổ và luôn cả ở Tây Tạng trong thời gian gần đây thì không ai là không khỏi lo ngại. Tỷ lệ số người gốc Hán ở các xứ này đã tăng gia dáng kể và sự cạnh tranh cũng như kỳ thị với sự thiên vị của nhà cầm quyền đã gây nên những cuộc bạo loạn trầm trọng. Liệu Việt Nam có thể tránh khỏi tình trạng đang xảy ra cho các nước này hay không? Ta không được biết, nhưng chỉ nhìn vào miền cao nguyên với các công trình khai thác bauxite, với lượng nhân công gốc Tầu đông đảo, phần lớn là những thanh niên chưa có hay không có vợ, hậu quả của nạn giới hạn hai con của chính quyền Trung Cộng người ta không thể không lo ngại cho tương lai của miền đất chiến lược quan trọng bậc nhất của đất nước Việt Nam này, miền đất mà Hoàng Đế Bảo Đại coi trọng đặc biệt với danh xưng Hoàng Triều Cương Thổ. Những  thanh niên này sẽ lấy các thiếu nữ Thượng, sẽ sinh con đẻ cái và tất cả sẽ trở thành công dân xứ Thượng. Nếu điều này xảy ra thì rất là êm thắm, chỉ trong vòng hai thế hệ hay ba chục năm, chưa tới năm mươi năm, thời gian thuê các rừng đầu nguồn với giá rẻ mạt, những người Thượng gốc Tàu sẽ trở thành chủ nhân của các cao nguyên và qua một cuộc đầu phiếu êm ả và hợp pháp, miền đất rộng lớn, nhiều tài nguyên này sẽ trở thành của Tầu và biết đâu qua một tiến trình tương tự toàn bộ cả nước Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh mới của nước Tầu, tỉnh Quảng Nam rộng trên ba trăm ngàn cây số vuông hay hơn nữa nếu bao gồm cả hai nước Lào và Căm bốt, sau hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, biên giới phía nam nước Tầu sẽ được mở rộng tới Vịnh Thái Lan về phía nam và về phía tây, tới bờ sông Cửu Long. Đó chính là ước mơ của những người tự nhận là Đại Hán mà suốt một ngàn năm vừa qua họ không đạt được.  Điều này không phải là không thể đến cho dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào và dân tộc Căm-pu-chia trong nửa thế kỷ tới. Tất cả sẽ có thể xảy ra một cách bất ngờ “trước khi người lính của chúng ta được quyền nổ súng” nói theo lời của một tướng lãnh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong một đoạn video được phổ biến rất rộng rãi và trong một thời gian dài trước đây. Chỉ tiếc là tính cách chính xác của đoạn video này cho tới nay chưa được phối kiểm. Vị tướng lãnh này là Trung Tướng Phạm Văn Di, Chính Ủy Quân Đoàn 7 của quân đội này.
Những gì tôi kể ra trên đây chỉ là những gì dễ thấy và được nhiều người thấy. Còn có nhiều hiện tượng khác tiềm ẩn hơn, thâm độc hơn do người Tàu cố ý gây ra như nạn hàng hóa rẻ tiền, thiếu phẩm chất của họ tràn ngập Việt Nam trong đó có những hàng độc hại, những thực phẩm có chứa các hóa chất gây bệnh chết người hay làm hại cho sức khoẻ cho loài người nói chung mà ảnh hưởng sẽ kéo dài trong nhiều thế hệ. Việc người Tàu xây hàng loạt nhiều đập trên thượng nguồn sông Cửu Long và sông Hồng Hà đe dọa sự an toàn và phong phú của các đồng bằng châu thổ của các sông này, từ đó đe dọa cuộc sống của nhiều chục triệu người dân ở đây cũng là những hiện tượng người ta cần chú ý. Chưa hết, chuyện Trung Cộng tung tiền ra và đứng sau hai nước ở phía tây Việt Nam là Căm Bốt và Lào cũng đã và chắc chắn sẽ còn gây ra rất nhiều khó khăn cho Việt Nam mà những gì Căm Bốt đã làm trong Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN vừa qua là một bằng cớ, y hệt những gì Cộng Sản Bắc Việt đã gây ra cho Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tranh vừa qua.
Trên đây mới chỉ là hiểm họa do người Tàu từ phương bắc đem tới. Còn có những hiểm họa khác do chính những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện tại vì tham lam, vì trình độ hiểu biết kém cỏi, vì kiêu căng, vì mang bệnh thành tích… đã và đang gây ra cho chính dân tộc mình. Tôi muốn nói tới việc xây dựng bừa bãi và cẩu thả các đập thủy điện ở khắp nơi mà Sông Tranh 2 chỉ là một trường hợp điển hình. Nguy hiểm hơn nữa là việc xây dựng các nhà máy phát điện hạch tâm, khởi đầu là ở Phan Rang, bất chấp những kinh nghiệm khủng khiếp của người Nga ở Chernobyl, người Nhật ở Fukushima hay những sự thận trọng của người Pháp, người Đức, người Mỹ khi những người này quyết định cho đóng cửa hay ngưng hoạt động các lò điện này ở nước họ. Nga, Nhật, Mỹ, Pháp, Đức… là những nước giàu có, tiền bạc nhiều, lại có những nền khoa học và kỹ nghệ cao, những chuyên viên giỏi, những người thợ có kinh nghiệm và vững tay nghề mà còn thận trọng tối đa như vậy, còn Việt Nam mình thì mặc dầu còn kém cỏi về đủ mọi mặt nhưng đã bất chấp tất cả. Người ta đã không đếm xỉa gì đến sự cảnh cáo của dư luận quốc tế cũng như quốc nội, Giáo Sư Phạm Duy Hiển ở trong nước, Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhẫn ở bên Pháp, những chuyên viên thượng thặng của người Việt đã hết lời can ngăn và đã viết nhiều bài điều trần với những lời lẽ vô cùng thống thiết nhưng không ai để mắt, để tai tới…cho đến khi đại họa xảy ra thì mọi sự đã quá muộn. Nên nhớ là với Fukushima, người Nhật chỉ riêng để làm sạch miền biển liên hệ đã phải bỏ ra nhiều tiền bạc, công sức và dự trù sẽ phải để ra bốn mươi năm mới thực hiện nổi. Tham nhũng và nhất là bệnh thành tích phải chăng là nguồn gốc của đại nạn này? Việt Nam phải là nhất, là cái gì cũng có, nhất là ở thời đại Hồ Chí Minh, Đỉnh Cao Của Trí Tuệ Loài Người. Cuối cùng chỉ tội nghiệp cho người Chàm vì địa điểm thiết lập những nhà máy này chỉ cách Tháp Chàm có năm cây số. Nếu chuyện gì xảy ra, con số hơn một trăm ngàn người còn sót lại của một dân tộc đã một thời hùng cứ ở miền trung và miền nam Trung Phần Việt Nam, có thời đã đánh bại người Việt, tràn ngập kinh đô Thăng Long, với một nền văn hoá giàu về hình tượng, nơi xuất thân của Nhạc Sĩ Từ Công Phụng,  Ca Sĩ Chế Linh và nhiều người khác … sẽ một lần nữa bị tiêu diệt và lần này chắc chắn là lần chót. Nên biết thêm là nhà cầm quyền ở Việt Nam hiện dự trù sẽ thiết lập tổng cộng từ 8 đến 10 nhà máy điện hạch tâm, phần lớn là ở miền Trung mà Phan Rang chỉ là khởi đầu với 2 nhà, mỗi nhà 2 lò. Tất cả đều là mua của Nhật, Nga và luôn cả Đại Hàn sau các cuộc thăm viếng của các nhà lãnh đạo Đảng và chính phủ. Họ viện cớ là các nhà sản xuất đều nói là các lò họ làm là an toàn một trăm phần trăm nhưng ai mà tin được những kẻ ở giữa ăn huê hồng từ những hợp đồng tính từ 3 tỷ, 5 tỷ, 10 tỷ Mỹ Kim trở lên. Nểu chẳng may những vụ rì rỏ hay phát nổ của các lò xảy ra như ở Chernobyl hay Fukushima xảy ra thì một phần ba dân số cả nước, phần ba dân số bị coi là có quê hương  “đất mặn đồng chua”, là “đất cày lên sỏi đá” , là “nghèo lắm ai ơi” với “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”, nơi “Trời làm cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương lan tràn, ngập Thuận An…”, bây giờ lại bị đe dọa có thêm một đại nạn mới do chính các nhà lãnh đạo của nước mình  gây ra treo sẵn trên đầu.
Trên đây chỉ là một số những gì đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam của chúng ta mà mọi nguời ít nhiều còn quan tâm tới quê hương của mình, của ông cha mình đều nhận thấy. Còn rất nhiều chuyện khác lớn hơn,  quan trọng hơn và có tính cách chiến lược hơn như sự lệ thuộc về chính trị, về kinh tế và luôn cả về văn hóa của Việt Nam vào Trung Quốc, nhất là việc cấm đoán người dân không được tỏ thái độ dù cho chỉ là để bày tỏ lòng yêu nước của mình, giam cầm, bắt bớ hành hạ, không cho họ biết tới những gì đã thực sự xảy ra liên hệ tới sự thịnh suy, tồn vong của quê hương và dân tộc họ. Đa số người dân đều mù tịt và vì mù tịt nên đa số đều dửng dưng, nếu không nói là vô cảm. Nhiều người đã ví giai đoạn mất nước và luôn cả diệt vong của dân tộc Việt Nam như một người đang hấp hối với cái chết từ bàn chân đã lên tới đầu gối và đang từ từ lên dần cho đến khi miếng bông đặt trên mũi đương sự không còn chuyển động nữa.   
Câu hỏi được đặt ra là những người đang lãnh đạo đất nước ta hiện tại có biết rằng, như một truyền thống ngàn đời, Đảng Cộng Sản Trung Quốc hay ít ra là những người lãnh đạo của đảng này ngay từ những ngày đầu đã nuôi mộng làm chủ thiên hạ giống như Tần Thủy Hoàng ngày trước hay không? Hay là họ vẫn tin tưởng vào “mười sáu chữ vàng” và “bốn tốt” mà Cộng Sản Tàu đã tặng họ để tự lừa dối  và lừa dối dân mình?  Câu trả lời là có. Bằng cớ là năm 1979, khi hai đảng cơm không lành, canh không ngọt, môi không theo răng bị răng cắn bật máu, Cộng Sản Việt Nam không những chỉ tố cáo trước người dân ở trong nước mà còn trước dư luận thế giới qua những tài liệu do chính họ xuất bản từ Hà Nội, theo đó Mao Trạch Đông ngay từ giữa thập niên ba mươi của thế kỷ trước đã nuôi mộng theo chân Tần Thủy Hoàng muốn làm bá chủ của cả thế giới, bắt đầu là Đông Nam Á. Trong hai tài liệu nhan đề  Sự Thật về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua bằng tiếng Việt do Nhà Xuất bản Sự Thật ấn hành năm 1979 và tái bản năm 1980, và Chinese Aggression Against Vietnam, Dossier do Vietnam Courrier chủ biên, xuất bản ỏ Hà Nội năm 1979, ngay từ những trang đầu, người ta có thể đọc được những chi tiết như sau:
Ngay từ năm 1939, trong tài liệu nhan đề Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc do chính ông viết, Mao Trạch Đông đã nhận định: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Nê-pan và Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…” Tiếp đến, một bản đồ trong một sách giáo khoa đã vẽ nhiều lãnh thổ của các nước trong vùng biển Đông Nam Á và Biển Hoa Đông là thuộc Trung Hoa. Sau đó, năm 1959, trong một buổi họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, khi nói về bang giao quốc tế, Mao Trạch Đông phát biểu rõ hơn nữa về tham vọng thống trị toàn cầu của mình. Lãnh tụ này nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất” hay hạn hẹp hơn và kế hoạch hơn: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng như Đông-nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản..xứng đáng với sụ tốn kém cần thiết để chiếm lấy…Sau khi giành được Đông-nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây.”
Về sự lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở biên giới Trung Việt, qua tài liệu Chinese Aggression Against  Vietnam , Cộng Sản Hà Nội tố cáo Trung Quốc vi phạm các Công Ước 1887 và 1895 ký kết giữa Nhà Thanh và nước Pháp, lấn chiếm 60 địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam ngay từ trước năm 1949, sau đó, từ sau năm 1949, bất chấp sự xác nhận lại các công uớc này bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vào năm 1957-1958,  Cộng Sản Bắc Kinh lại sáp nhập thêm trên 90 địa điểm khác ở biên giới giữa hai nước. Chưa hết, cũng theo tài liệu này, từ sau năm 1974 con số các cuộc xâm nhập lại tiếp tục gia tăng mạnh mẽ hơn với 179 vụ năm 1974, 294 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, 873 vụ năm 1977 và 2.175 vụ năm 1978. Cuối cùng ngày 10 tháng 2 năm 1979, hai tiểu đoàn chính quy Trung Cộng đã tiến sâu 2 cây số vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm đồn kiểm soát Thanh Loa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Vẫn chưa hết, trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ hai 1984-1987, sau một trận đánh ác liệt ở núi Lão Sơn, mà người Việt quen gọi là Núi Đất hay tọa điểm 1502, thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, quân Trung Cộng đã chiếm được núi này, 3.700 lính phòng thủ Việt Nam đã hoàn toàn bị tiêu diệt, xác của họ đã bị đơn vị chống hóa chất của bên địch thiêu hủy không còn vết tích. Lão Sơn không phải là tọa điểm duy nhất bị quân Trung Cộng đoạt mà còn nhiều tọa điểm khác như các tọa điểm 1030, 852, 211, 138, 156, 166, 167, 168… nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Sau trận này Việt Nam đã mất thêm từ 600 đếm 1000 cây số vuông lãnh thổ về tay Trung Quốc. Có điều lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giấu nhẹm không cho dân chúng biết gì về trận chiến bi thảm này cho mãi đến khi Trung Cộng phổ biến phần nào trên các mạng của họ. Điều nên biết là trong thời gian này Trung Cộng luôn luôn dùng thủ đoạn cho di dân của mình sang khai thác đất đai hay cư ngụ trên lãnh thổ thuộc Việt Nam dọc biên giới, rồi sau đó áp lực bắt Việt Nam phải công nhận những vùng đất này là thuộc nước họ. Sự kiện này giải thích tại sao lại có chuyện điều đình và sửa lại các công ước mà trước Nhà Thanh đã ký với Pháp mà nội dung đã được hai phía làm sáng tỏ không lâu, trong các năm 1957, 1958 trước đó, như tôi đã nói ở trên qua các hiệp ước 1999, 2000. Chiến thuật này đang được họ dùng ở Biển Đông trên một quy mô rộng rãi hơn, lớn hơn qua việc họ chiếm Hoàng Sa và một số đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa rồi tìm cách hợp thức hóa sau này.  Việt Nam giấu nhẹm nhưng Trung Cộng thì coi là quan trọng và quảng bá rộng rãi. Họ đã cho công bố hình ảnh Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương tới thăm địa điểm Lão Sơn này, kèm theo hình ảnh những công sự và đường sá mà họ thiết lập sau đó, nhắm về phía Việt Nam. Những sự kiện này khiến cho những ai quan tâm đến sự sống còn của đất nước không khỏi không liên tưởng tới sự kiện Giang Trạch Dân đã bay thẳng từ Trung Quốc đến bơi ở biển Mỹ Khê, Đà Nẵng như là biển nhà của mình thay vì phải qua Hà Nội gặp chủ nhà trước hay Hồ Cẩm Đào đến bơi ở biển Hội An khi đến dự Hội Nghị OPEC, hay chuyện Đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép và bảo vệ các thanh niên người Hoa rước đuốc thế vận qua Saigon và các đảo trong khi mọi cuộc tụ tập của người Việt đều bị đàn áp, cấm đoán.
Trước tình trạng cực kỳ nguy hiểm kể trên, câu hỏi được đặt ra là khả năng đề kháng của người Việt Nam như thế nào và những người có trách nhiệm bảo vệ đất nước và sự tồn vong của dân tộc đã có thái độ ra sao và đã làm gì? Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ chúng ta còn cần có nhiều buổi hội thảo khác với những đóng góp của nhiều thuyết trình viên khác. Tạm thời tôi chỉ xin mời quý vị đọc lại bản kiến nghị mà tôi đã đề cập đến trong phần đầu của bài thuyết trình hay những bức thư mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ hay những bài viết của nhiều vị nhân sĩ, trí thức như Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu Đại Sứ Việt Nam ở Trung Quốc và nhiều người khác ở trong nước viết trong ít năm gần đây. Trước khi ngưng lời, tôi xin được trích dẫn lời của Thiếu Tướng Lê Duy Mật, nguyên Phó Tư Lệnh kiêm Tham Mưu Trưởng Quân Khu 2, Chỉ Huy Trưởng Mặt Trận Hà Giang trong thời gian chiến tranh biên giới, khi ông trả lời Biên Tập Viên Mặc Lâm của Đài Á Châu Tự Do, RFA, ngày 17 tháng 2 năm 2013 về sự kiện là “nhiều gia đình liệt sĩ của cuộc chìến 1979 đã không biết hài cốt con em mình nằm tại đâu vì sau đợt cắm mốc biên giới thì phần đất Việt Nam chôn hài cốt liệt sĩ đã thụt sâu về phía Trung Quốc. Thiếu Tưóng có nghĩ rằng nhà nước phải làm một điều gì đó để mang lại công bằng cho những người này hay không?”  Nguyên văn câu trả lời của Tướng Lê Duy Mật như sau:
“Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc, nếu không phải bàn với ngoại giao Trung Quốc, quân đội Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc thì mới có thể giải quyết được.”
Câu trả lời của Tướng Mật là về các liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến Việt Trung 1979 và 1984-1987, nhưng nội dung của nó đã bao gồm toàn bộ các vấn đề liên hệ đến bang giao Trung-Việt trong hiện tại. “Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc” là nguồn gốc của tất cả. Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài cho buổi thuyết trình ngày hôm nay, chưa kể tới tình trạng vô cảm của không ít người Việt trước hiện tình vô cùng nguy hiểm của đất nước, sự mất tin tưởng của đa số người dân và sự bất lực của giới trí thức và sự bất cập không đối phó được với tình thế mới trong mọi sinh hoạt từ chính trị đến kinh tế, xã hội và luôn cả văn hóa ở Việt Nam sau 38 năm Cộng Sản làm chủ toàn thể đất nước, và 27 năm đổi mới . Lãnh đạo cấp cao của hai đảng Cộng Sản đã thỏa hiệp với nhau những gì trên đầu người dân Việt Nam từ sau cuộc chiến biên giới Trung-Việt, từ sau Hội Nghị Thành Đô 1990, từ sau những buổi gặp gỡ của Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và sau này Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang với các nhà lãnh đạo Trung Quốc? Chỉ có những người này mới biết được nhưng không bao giờ và sẽ chẳng bao giờ họ nói ra cả. Về điểm này, tôi xin được nhắc lại lời Vua Lê Thánh Tông dụ bọn các ông Thái Bảo Kiến Dương Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư, 1473, nguyên văn như sau:
“Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”
Lịch sử đã được chép, đang đuợc chép và sẽ còn được chép dù cho môn sử học, vì lý do nào đó, trái với truyền thống của dân tộc, trái ngay cả với nhận định “dân ta phải biết sử ta” của Hồ Chí Minh và ngược lại với chương trình giáo dục của bất cứ quốc gia độc lập và có chủ quyền nào, kể cả các quốc gia tiền tiến về khoa học và kỹ thuật, không còn được coi là quan trọng trong chương trình giáo dục của Việt Nam hiện tại. Đây cũng là một lý do khác đã và đang làm cho chúng ta mất nước.
Xin cảm ơn Quý Vị đã kiên nhẫn lắng nghe hay đã đọc và đọc lại bài thuyết trình này. Xin kính chào Quý Vị.

Phạm Cao Dương

Chú thích:
Đây là nguyên văn bài thuyết trình tác giả đọc tại buổi hội thảo mang chủ đề “38 Năm Nhìn Lại: Hiện Tình và Tương Lai Việt Nam” do Hội Ái Hữu Bưởi-Chu Văn An Nam California tổ chức ngày 14 tháng 7 năm 2013 tại Coatline Community College, Thành Phố Westminster, California.
www.vietthuc.org