Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Vào cửa quan - Nguyễn Tường Thụy

Nguyễn Tường Thụy - Lần đầu tiên làm cái việc đi đút lót mà trên sách báo, văn bản người ta hay gọi là hối lộ, đối với hắn quả là khó khăn. Việc này trước đây hắn thường đùn đẩy cho vợ. 

Nhưng hôm qua, vợ hắn bảo: 

- Tới đây cái Ly đẻ, em sẽ đi Sài Gòn một thời gian trông con cho vợ chồng nó. Anh phải thay em làm tất cả nên tập lo dần là vừa. Ngày kia, anh đi nộp đơn, em đã chuẩn bị tiền nong đầy đủ.

Hắn ngạc nhiên: 

- Đi nộp đơn, lít xăng, chén nước cùng lắm là vài cốc bia, có gì mà phải chuẩn bị. 

- Giời ạ. Anh như người trên mây ấy. Bây giờ đi làm cái gì cũng phải có tiền, không thì đừng nghĩ đến chuyện được việc gì. 

Hắn vẫn chưa thông: 

- Nhà thằng Manh chiếm đất nhà mình, phạm pháp rõ ràng mà kiện nó vẫn phải mất tiền là sao. Tưởng nó muốn giảm tội thì mới phải đút lót chứ? 

- Anh chẳng hiểu gì cả. Thằng bị kiện phải đút, thằng đi kiện cũng phải đút, đứa nào đút nhiều hơn thì mới mong thắng. Đúng sai là ở họ chứ đâu phải ở pháp luật. Người ta coi luật pháp là cái gì đâu. 

Hắn tìm cách thoái thác: 

- Anh không đi đâu, ngượng lắm. Người ta làm việc đã được trả lương. Mình làm thế, chẳng hóa ra coi thường người ta, xúc phạm đến nhân phẩm của họ, coi uy tín, danh dự cán bộ nhà nước chỉ bằng mấy triệu đồng sao? 

Vợ hắn cáu: 

- Chúng nó làm quái gì có nhân phẩm mà xúc phạm. Anh mà biết ngượng thì đừng sống ở cái xã hội này nữa. 

Độ này vợ hắn ăn nói bừa bãi quá, mở miệng ra là nói đến tiêu cực xã hội. Hắn đi học, người ta dạy hắn rằng đó là tàn dư của chủ nghĩa tư bản. Thế mới phải trải qua thời kỳ quá độ. Vợ hắn suốt ngày lo chạy chợ rồi chúi đầu vào việc hầu hạ chồng con, làm sao hiểu được những điều sâu xa ấy. 

Từ trước đến nay, bao nhiêu chuyện rắc rối xảy ra làm thiệt hại cho nhà hắn mà toàn do người khác gây nên cả. Vợ chồng hắn gửi đơn từ đi khắp nơi nhưng cuối cùng không cơ quan nào giải quyết. Hỏi riết thì họ trả lời rằng nội dung đơn kiện của nhà hắn “không có cơ sở” hoặc là chuyển đơn về chính cái cơ quan bị nhà hắn kiện để trả lời hắn. Những ai thạo đời thì bảo nhà hắn thua bên kia vì tiền. 

Lần này, nhà hắn bị hàng xóm phá tường chiếm mất chục mét vuông đất. Vợ chồng hắn lại phải làm đơn kiện. Chẳng lẽ cứ để cho đứa nào muốn làm gì nhà hắn thì làm. 

Hôm đi nộp đơn, vợ hắn dặn dò thật kỹ, còn lường trước tất cả những tình huống có thể xảy ra. Cô làm sẵn cho hắn mấy cái phong bao mỏng để xử lý ở các cửa. 

Hắn tới cổng cơ quan, thấy mở liền dắt xe vào. Một tiếng gọi giật giọng: 

- Anh kia! đi đâu? 

Hắn giật mình đánh thót: 

- Dạ! em vào nộp đơn...

- Đơn gì? 

Nhớ đến lời vợ dặn, hắn vội móc ra chiếc phong bì nhét vào túi anh gác cổng. Anh ta chẳng cần đọc xem đơn gì, trả hắn rồi chỉ cho cho hắn lối vào nơi cần nộp đơn tên người cần gặp một cách cặn kẽ. 

Hắn nhận chiếc vé gửi xe làm bằng vỏ bao thuốc lá vinataba, rụt tè hỏi: 

- Thế để xe ở đâu anh. 

Tay gác cổng nhìn cái dáng vẻ ngờ nghệch của hắn, thương hại: 

- Anh mới đến lần đầu à. Cứ đi vào, để ở đâu cũng được. 

Thế thì tiện, chứ cơ quan rộng mênh mông thế này, đi bộ có mà chết. Xung quanh lại có tường bao, thật an toàn. Cổng thì đã có bảo vệ kiêm thu tiền. Hắn thấy nhiều người ra vào nhưng không lấy vé, chắc là người trong cơ quan. Hắn nghĩ: vậy là cái vé của hắn là vé vào cổng chứ đâu phải là vé gửi xe. Hắn có tự trông được thì người ta vẫn bắt lấy vé cơ mà. Chẳng lẽ cả cơ quan này là một bãi giữ xe. Nhưng thôi, đấy là việc của họ, mấy nghìn đồng tiền vé chưa ảnh hưởng gì đến bát cơm nhà hắn. Hắn đang lo một việc quan trọng hơn nhiều cơ. 

Hắn dựng xe trước phòng tiếp dân rồi ngồi chờ. Lúc này có sáu người ngồi ở hàng ghế kê ngoài hành lang. Cửa phòng tiếp dân bịt bằng kính trong suốt nhưng bên trong lại được che bằng rèm màu xanh lơ dìu dịu, cứ mấy phút lại hé cho một người ra để người tiếp theo vào. Kể cũng nhanh. Chừng 30 phút sau thì đến lượt hắn. 

Lúc này thì hắn đã có chút kinh nghiệm. Tránh bị quát phủ đầu, hắn kẹp luôn cái phong bì vào tờ đơn. Cán bộ tiếp dân nhìn đơn đọc tên, địa chỉ của hắn rồi ghi vào giấy biên nhận. Không thấy anh ta hỏi giấy tờ tùy thân. “Chắc cái phong bì đã thay cho chứng minh thư” – tự nhiên hắn có ý nghĩ đen tối thế. 

Hắn thăm dò: 

- Đơn của em giải quyết có nhanh không ạ 

- Cái đó còn tùy, có thể nhanh, có thể chậm. 

Hắn hiểu ý, đặt lên một chiếc phong bì nữa. 

Anh ta ra chiều suy nghĩ một lúc: 

- Thôi được, đơn của anh tôi sẽ trình ngay. Chắc chỉ trong vòng dăm ngày anh sẽ nhận được giấy mời. 

*** 

Bốn ngày hôm sau thì hắn nhận được giấy mời đến phòng số 21 tầng 2 nhà D3 gặp ông Lưu để giải quyết. Trước khi đi, vợ hắn nhét 300 đô la vào phong bì đưa cho hắn. 

Tới nơi, hắn lại bị hỏi y như lần trước. Hắn ranh mãnh: 

- Sếp gọi em đến để giải quyết cái đơn hôm trước mà. Chắc anh quên em rồi. 

Tay gác cổng nhớ ra, gúi vào tay hắn chiếc vé gửi xe rồi cho hắn vào. 

Đến chân cầu thang, hắn gặp thằng Manh, cái thằng đã cướp đất của hắn sáu hôm trước đi xuống. Không biết nó đi đâu. Chẳng lẽ nó cũng đi kiện hắn, vừa ăn cướp, vừa la làng chăng. Nó nhìn hắn, vẻ mặt vênh váo đầy thách thức. Tất nhiên chẳng đứa nào hỏi đứa nào. 

Hắn tới cửa phòng làm việc có gắn số 21, gõ nhẹ hai tiếng rồi đứng chờ. 

Một tiếng nói lạnh lùng và đanh gọn: 

- Mời vào. 

Hắn run run đẩy cửa vào: 

- Dạ, chào anh... báo cáo anh, em... 

Rồi khúm núm đưa giấy mời ra, lập bập trình bày nội dung sự việc. 

Ông cán bộ tên Lưu hỏi: 

- Đất nhà anh có sổ đỏ chưa? 

- Dạ chưa, nhưng là đất ở lâu năm. Chúng em vẫn đóng thuế nhà đất hàng năm đầy đủ … 

Ông ta phẩy tay ra hiệu cho hắn ngừng nói: 

- Vấn đề là ở chỗ ấy. Anh chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nghĩa là nhà nước chưa công nhận quyền sử dụng đất cho anh. Thằng kia nó chiếm đất của anh, ai cũng biết. Nhưng về mặt pháp luật, bảo là đất của nhà anh thì không có cơ sở. 

“Lại không có cơ sở” – hắn chán nản nghĩ. Vậy là mình dại rồi. Đúng ra hôm ấy, hắn phải đánh nhau với nhà thằng Manh không cho nó chiếm đất. Nó có kiện nhà hắn đánh nhà nó thì dựa trên cơ sở nào. Ai quay phim, chụp ảnh để làm bằng chứng. 

Ấy là lúc điên điên lên thì hắn nghĩ thế thôi chứ làm sao mà hắn dám đi đánh nhau với người khác vì hắn là con người được giáo dục tử tế. Và chính cái sự tử tế ấy đã hại hắn, làm hắn khốn khổ bao nhiêu rồi. 

Sực nhớ ra, hắn rút cái phong bì khẽ khàng đặt lên bàn. 

Ông Lưu mở luôn phong bì ra. Đếm xong, ông ta đặt xuống bàn rồi lấy trong ngăn bàn một cái phong bì khác, rút ra xòe cho hắn xem sáu tờ bạc mệnh giá 100 đô là Mỹ: 

- Của thằng kia đấy. Nó sai nhưng cái lý của nó (ông vỗ ba đầu ngón tay vào cái phong bì của thằng kia) gấp đôi lý của anh (vỗ vào phong bì của hắn). Cái chỗ đất ấy anh bảo của anh nhưng nó cũng cãi là của nó. Thế thì tốt nhất là nên hòa giải, hai bên chia đôi. Nếu anh đồng ý thì tôi cho gọi cả hai bên đến. Vậy là mỗi bên được một nửa mà tiền nó lại mất nhiều hơn anh, thế là coi như anh thắng nó. Được cái thuận cho các anh là hai bên đều biết “giá thị trường”. Nếu phải quay về lấy thêm thì mất một lần đi lại nữa. Còn nếu anh không nghe, đi kiện đâu thì đơn cũng về đây thôi. Tôi thấy anh có vẻ thật thà nên tôi cũng nói thật. 

Trước khi hắn về, ông ta còn cẩn thận sờ hai túi quần của hắn xem có máy ghi âm, máy ảnh gì không rồi đẩy hắn ra, đóng sập cửa lại. 

*** 

Hắn khoe với vợ: 

- Thắng rồi em ạ. Mà nó lại phải mất nhiều tiền hơn mình. Tưởng thế nào chứ đút lót cũng dễ. Hết bao nhiêu, người ta nói thẳng, may mà hôm nay vừa đủ. Nếu thừa chắc họ trả lại. Đỡ phải băn khoăn. Thế mà em cứ dạy anh mãi. 

Vợ hắn toe toét: 

- Em đã bảo mà. Cái gì cũng có giá của nó. Giá cả rõ ràng như vậy lại hóa hay. Những lần trước mình thua chỉ tại vì không biết giá. Hóa ra cơ chế bây giờ cũng thoáng thật. Nói toạc, không úp mở. 

Rồi cô bắt hắn kể tỉ mỉ diễn biến đưa đến cái chiến thắng hôm nay như thế nào. Nghe hắn kể xong, cô rít lên: 

- Giời ơi! thế mà bảo thắng là sao? 

Hắn nhớ đến lời phân tích của ông Lưu, liền giải thích lại cho vợ: 

- Thì nó được năm mét vuông, mình cũng được năm mét vuông. Mà tiền nó lại mất gấp đôi mình, chả thắng là gì. 

- Nó bịp anh rồi. Sao đầu óc anh tối tăm thế. Cả mười mét vuông ấy là đất của mình. Mình sử dụng ổn định từ trước khi có Luật đất đai. Nó chỉ mất sáu trăm đô mà được năm “mét”. Còn mình mất không năm “mét” cho nó lại còn tiền phong bao mấy hôm nay nữa. Vậy thắng ở đâu? 

Ừ nhỉ. Tại lúc ấy hắn sợ quá nên không nghĩ ra. Hắn tức lắm. Chợt nhớ tới lời ông Lưu nói, hắn thách lại vợ: 

- Nếu em không nghe thì cứ việc kiện đâu thì kiện. Cuối cùng đơn cũng về tay ông ta thôi. 

Sự thật cay đắng đó không phải là vợ hắn không biết vì chính nhà hắn đã từng nhiều lần gặp phải cũng như biết bao dân oan khác. Nhưng việc hắn nhắc lại lời ông Lưu đã làm cho cô nhụt chí. 

Vợ chồng hắn ngao ngán nhìn mảnh đất nhà hắn ngày càng bé đi. Liệu rồi hắn có giữ nổi phần đất còn lại không? Ai là người bênh vực hắn? 

Hắn chợt nghĩ: hay là bán nhà đi chỗ khác ở. Nhưng hắn vội gạt ngay: đi đâu bây giờ? Tài cán của hắn chỉ cho phép hắn loanh quanh trong biên giới này thôi. Thôi thì đành cố chịu, chờ cho qua cái thời kỳ gọi là quá độ. Nhưng chờ đến bao giờ?

Chia sẻ bài viết:
Lưu ý: Trước khi gửi ý kiến phản hồi, mong các bạn đọc kỹ những điều đã được quy định tại phần "Thôn Quy"

Xem 1 ý kiến

Đọc Bên Thắng Cuộc, Nghĩ Về Bên Thua Cuộc - Vũ Thị Phương Anh

December 22, 20120 Bình Luận
Đọc Bên Thắng Cuộc, Nghĩ Về Bên Thua Cuộc  
Bên Thắng Cuộc của Huy Đức từ lúc gần ra đời đến nay đã làm xôn xao dư luận – nói như một học giả người Mỹ trong Vietnam Studies Group (từ ĐH Washington) thì cuốn sách là một sensation. Người khen thì rất nhiều, kẻ chê cũng không ít, nhưng dù yêu dù ghét thì mọi người đều phải đồng ý một điều: đây là cuốn sách đầy đủ nhất về lịch sử VN sau năm 1975, cho dù tất nhiên vẫn rất phiến diện, như chính tác giả cũng thừa nhận và dự liệu.
Như rất nhiều người Việt khác ở trong và ngoài nước, tôi cũng háo hức tìm và đọc cuốn sách này. Vì cuốn sách rất dày, nên tôi chỉ mới lướt qua toàn bộ cuốn sách (Phần 1: Giải phóng) và đọc kỹ những phần mình quan tâm nhất, đó là những chương về cuộc sống ở SG sau năm 75, trong đó có các chương mà nhiều người khen hay như các chương Cải tạo, Đánh tư sản, Nạn kiều. Nhưng có lẽ không giống với nhiều người khác, tôi không có ấn tượng gì mấy về những chương vừa nêu. Những chi tiết trong các chương ấy đa phần tôi đã biết quá rõ và gần như có thể tự viết ra được mà chỉ dựa vào trí nhớ. Vì đó chính là một phần không bao giờ quên được của cuộc đời tôi.

Trước khi “giải phóng”, tôi chỉ là một đứa trẻ con chưa đầy 15 tuổi, nhưng sau ngày 30/4/1975 tôi đã từ vai trò một đứa con thứ trong gia đình (tôi thứ ba, có cả anh trai và chị gái, nên hầu như chẳng bao giờ được giao việc gì quan trọng) bỗng trở thành một trụ cột, khi anh chị tôi đi “di tản” theo dòng người đông nghẹt leo lên những chiếc tàu để chở quân nhân Mỹ rời VN vào chiều 29/4. Ba tôi thì làm việc với chế độ mới không được bao lâu rồi xin tự nghỉ việc vì “mất sức lao động”. Ông vốn có bệnh glaucoma (cao nhãn áp) từ trước, đến sau 30/4 thì trở nặng, phải vào Bệnh viện Bình Dân vài lần, tôi và mẹ tôi phải nuôi bệnh khá vất vả, đặc biệt là những ngày sau năm 75 thiếu thốn đủ thứ. Ra viện, ba tôi có đi làm thêm ít lâu nhưng đi làm về rất căng thẳng, hay kêu nhức đầu (từ trước 1975 ông đã bị “thiên đầu thống” tức là đau nửa bên đầu) rồi cuối cùng làm đơn xin nghỉ việc.
 
Lúc ấy, việc tự động xin nghỉ việc của ba tôi đã làm cho mẹ tôi có chút ít oán trách, vì không phải ai cũng được chế độ mới lưu dụng – thậm chí có thể nói là “trọng dụng” như ba tôi: ông là một công chức hành chính rất giỏi của chế độ cũ, tốt nghiệp Học viện Quốc gia Hành chính của VNCH, trước năm 75 làm việc tại Sở Thuế Quận 5 với chức vụ gì đó khá cao, nhưng sau năm 75 sau mấy ngày đi học tập (3 ngày?), ông vẫn được làm việc với chế độ mới. Tôi còn nhớ ông làm tại Phòng Thu Quốc Doanh thuộc Sở Thuế TP HCM với trụ sở đặt trên đường Đồng Khởi, chuyên phụ trách mảng thu thuế của các công ty sản xuất của tư nhân mới được chế độ mới tiếp quản; lúc ấy tôi còn đến đó một vài lần để đưa giấy tờ gì đó trong thời gian ba tôi nằm bệnh viện.
 
Tôi vẫn nhớ trước khi ông quyết định nghỉ thì ba mẹ tôi có tranh cãi với nhau khá nhiều về điều đó, và mẹ tôi cố khuyên ông cố gắng đi làm vì con cái (lúc ấy là tôi) cần có lý lịch “cha (mẹ) làm việc cho nhà nước” để thi đại học, nhưng cuối cùng ông vẫn nghỉ và tôi đã đi thi đại học với cái lý lịch “mẹ buôn bán nhỏ, cha trước 1975 làm việc cho chế độ cũ, sau 1975 đi làm tại…, đến năm 1977 nghỉ việc vì mất sức lao động.”
 
Mãi đến sau này, khi tôi quyết định nghỉ việc khỏi cơ quan cũ (cũng chính là trường đại học mà tôi đã thi vào, đậu, là sinh viên rồi sau đó được giữ lại làm giảng viên đến mấy chục năm) như một hành động phản đối (dù chỉ lặng lẽ và không nói ra cho ai biết), tôi mới nhớ lại hành động nghỉ việc của ba tôi hồi ấy, và tự hỏi, phải chăng ông đã quyết định nghỉ vì không thể chịu nổi những chính sách vô lý, vô nhân của chính quyền mới mà lúc bấy giờ ông phải cam tâm làm người thực hiện, và thậm chí phải đóng vai người tham mưu?
 
Câu hỏi này không ai có thể trả lời cho tôi được, vì cũng như nhiều người thuộc bên thua cuộc còn ở lại VN sau năm 75, ông đã ra đi mang theo tất cả những suy nghĩ của ông về chế độ mới và thời đại mới xuống tuyền đài mà không kịp chia sẻ cho ai.
 
Cũng vì rút hồ sơ để nghỉ việc nên tôi mới có dịp nhìn thấy trên tờ khai lý lịch đi thi đại học của tôi đã được cán bộ tuyển sinh năm ấy ghi chú ở trên là “con ngụy quyền”.
 
Chẳng rõ dòng chữ ấy trên lý lịch có làm ảnh hưởng gì đến “sự nghiệp chính trị” của tôi không, chỉ biết sau khi ở lại trường thì tôi luôn bị lẹt đẹt, chậm chạp hơn những bạn bè cũng lứa trong việc xét biên chế chính thức, xét tăng lương, xét cử đi học, v.v.  Nhưng cũng chẳng hiểu tại sao tôi chưa bao giờ thắc mắc về những điều ấy cả, mà luôn chấp nhận đương nhiên bị đối xử tệ hơn, “vì mình là con ngụy, lý lịch lại xấu, anh chị đi di tản, định cư ở Mỹ” mà. Tôi luôn nghĩ như tôi mà được đi học, lại có việc làm trong nhà nước (thay vì phải đi buôn bán ở chợ như nhiều người khác cùng lý lịch), thì dù có bị kỳ thị đôi chút (!), lẹt đẹt đôi chút, cũng là đương nhiên, và thực ra là may mắn lắm rồi!
 
Nói thẳng thừng ra, thì chúng tôi còn sống sót đã là may, vì chúng tôi là bên thua cuộc!
 
Vâng, suốt mấy chục năm đó từ ngày 30/4/1975, ở phía bên thua cuộc là tôi và gia đình tôi, rồi các chú, các bác, cô dì cậu mợ và con cháu của họ hàng tôi và sau này là gia đình ông xã tôi – vốn là một Thanh niên xung phong (TNXP), đi theo lời kêu gọi của ông Võ Văn Kitệ (VVK) để tìm cách gột rửa lý lịch như Huy Đức (HĐ) đã viết trong chương về thanh niên xung phong – có biết bao nhiêu là bi kịch đã xảy ra.
 
Bà con tôi, bạn bè tôi và hàng xóm tôi có rất nhiều người phải đi học tập cải tạo, có người trốn trại cải tạo bị bắn chết, có người đi vượt biên bị bắt, khi công an còng tay đã nhảy xuống biển chết, có người đi vượt biên bị mất tích cả gia đình, có người bị đánh tư sản, tịch thu nhà cửa, mất toàn bộ gia sản nên phát điên, suốt ngày đi lang thang, nói năng lảm nhảm.
 
Ông xã tôi sau khi đi TNXP được ít lâu bị đưa sang Campuchia khi đang chiến tranh thảm khốc, khi ba chồng tôi bị bệnh mất thì ông xin phép về chịu tang cha rồi bỏ đi vượt biên luôn nhưng không thành, bị cắt hộ khẩu, cũng đã có lúc phải lê la ở chợ trời buôn bán thuốc tây.
 
Tôi và đứa em kế cũng đã từng được cha mẹ cho làm đơn đi “bán chính thức”, đóng tiền mỗi người cả chục cây vàng (chả biết do ai mách bảo, dẫn mối), nhưng vừa mới đi đến Vũng Tàu (giả dạng làm khách du lịch) thì được báo là “động, không xuống ghe được” nên lại về chờ.
 
Rồi ngay sau đó là vụ rồi chìm tàu ở SG (không rõ có phải là vụ Cát Lái trong sách của HĐ không?), vụ này tôi cũng biết rõ, vì lúc ấy ở khu Ông Tạ, Xứ An Lạc có nguyên cả một Hợp tác xã (HTX) đan len gồm mấy chục gia đình với cả trăm nhân mạng cùng đi và mắc nạn trong chuyến đi định mệnh ấy. Các xác chết được nhận về, đem về Nghĩa trang Chí Hòa (bây giờ là Công viên Lê Thị Riêng) “người nào người nấy đã trương lên, to như con bò”, tôi nghe mấy đứa hàng xóm kể như vậy khi chúng rủ nhau lên nghĩa trang để xem, chúng rủ cả tôi nhưng tôi sợ ma, không dám đi. Khăn tang trắng cả một xóm, rất thê lương. Chính vì vụ này mà ba tôi ngừng hẳn không còn bao giờ dám nghĩ đến chuyện cho con cái đi vượt biên nữa, nên tôi vẫn còn ở VN đến tận bây giờ.
 
Sau này, mỗi khi có dịp nghĩ đến những sự kiện đã xảy ra, thỉnh thoảng tôi vẫn tự hỏi, những nạn nhân xấu số của bên thua cuộc ấy đã nghĩ gì, và cảm nhận những gì, trong những phút giây đau đớn cuối đời?
 
Nhưng rồi thì người ta cũng phải quên đi để mà sống. Trong số bạn bè có lý lịch thuộc “phía bên kia” giống tôi (có lẽ phải khá hơn tôi một chút, vì ngoài việc thuộc về phe thua cuộc thì tôi còn là Bắc di cư, Công giáo, cha ngụy quyền, anh chị di tản), cũng có những người sau này vào Đảng, nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Nhiều người cố gắng học hành để đi làm cho công ty nước ngoài khi VN bắt đầu mở cửa, lương bổng tử tế, cuộc sống khá ung dung. Một số không nhỏ đi định cư ở nước ngoài theo diện HO của cha sau khi đi cải tạo về, hoặc lấy chồng, lấy vợ là con của những người HO và sau đó được bảo lãnh để đoàn tụ gia đình. Mọi việc rồi cũng nguôi ngoai, cuộc sống cứ tiếp diễn, bạn bè, đồng nghiệp, sui gia có nhiều người thuộc phe chiến thắng, là Đảng viên ĐCS …
 
Tưởng như cuộc chiến đã hoàn toàn qua đi, sự chia rẽ giữa những người Việt thực sự đã không còn… Mà cũng chẳng ai muốn nhớ đến hoặc nhắc đến những ngày tháng đen tối ấy để làm gì. Chỉ giữ ở trong lòng, vì nó là một phần cuộc đời mình, thế thôi.
 
Không ai trong chúng tôi lại có thể ngờ có ngày những ký ức và sự kiện lịch sử ấy lại được một người từ bên thắng cuộc viết ra. Những dòng chữ trong cuốn sách của HĐ được tác giả viết bằng giọng văn rất bình thản, khách quan, chẳng thấm vào đâu so với những ký ức đầy cảm xúc của chúng tôi, những người đã thực sự phải trải nghiệm những thí nghiệm của một chế độ mới đối với những người anh em thua cuộc của họ. Nhưng cũng chính vì giọng văn bình thản đó mà những sự vô lý đến không thể tưởng tượng và không thể tin được của những chính sách sau ngày “giải phóng” mới càng lộ rõ.
 
Những thông tin trong cuốn sách không làm tôi xúc động – vì chăc chắn các chi tiết mà tôi có thể kể ra từ kinh nghiệm cá nhân còn lâm ly và kỳ bí hơn nhiều – mà chỉ làm cho tôi thắc mắc, không biết đến bao giờ thì những người anh em thắng cuộc mới thực sự hiểu đầy đủ những người thua cuộc, và ý thức rõ những điều phi nghĩa, phi nhân mà họ đã làm đối với những người anh em kém may mắn của họ?
 
Nếu bên thắng cuộc không chịu thực tình tìm hiểu và không chân thành nhận lỗi, thì sẽ không bao giờ có sự hòa giải thực sự.

Để tồn tại, những người thua cuộc đã phải chấp nhận – dù muốn dù không – từ đó đến nay, đã cố nguôi ngoai để quên đi và chung sống, nên chắc chắn họ không cần sự hòa giải này. Giờ đây, những người thực sự cần hòa giải phải là bên thắng cuộc chứ không bao giờ là bên thua cuộc nữa. Bên thắng cuộc chỉ có một cơ hội duy nhất để có thể dễ dàng có được sự hòa giải thôi, đó là có sự độ lượng và công bằng đối với bên thua cuộc ngay khi họ vừa chiến thắng.
 
Vì khi đối xử bất công, và thực hiện chính sách trả thù với bên thua cuộc, lại trong suốt một thời gian dài như vậy, thì bên thắng cuộc đã cho phép bên thua cuộc tự giải thoát khỏi nỗi đau thua cuộc của mình bằng sự khẳng định chắc chắn rằng phe thắng cuộc chẳng qua thắng được là vì họ tàn ác hơn. Nỗi đau thua cuộc đã được gột rửa bằng niềm tự hào rằng chính mình mới là người có chính nghĩa.
 
 
 
Và tôi tự hỏi, liệu ai sẽ là người đầu tiên viết lên những trang sử VN đương đại từ cái nhìn phía của những người thua cuộc đây?

Vũ Thị Phương Anh 

Chỉ Có Người Hồi Giáo Mới Cứu Được Nhân Loại Khỏi Một Cuộc Tàn Sát - Sơn Tùng

December 22, 20120 Bình Luận
Chỉ Có Người Hồi Giáo Mới Cứu Được Nhân Loại Khỏi Một Cuộc Tàn Sát
Gần đây, nhiều người rất quan tâm tới bài viết của Tiến sĩ Tawfik Hamid, một trí thức Ai Cập, nhan đề “Từ trái tim của một người Hồi giáo” (From the heart of a Muslim).*
Qua bài viết này, tác giả đã can đảm trang trải những sự thật phát xuất từ đáy lòng ông, một tín đồ Hồi giáo chân chính, mà hậu quả có thể rất trầm trọng với ông, kể cả mạng sống, với đoạn mở đầu như sau:
“Tôi được sinh ra là người Hồi Giáo và đã sống suốt cuộc đời như một tín đồ Hồi Giáo.
Sau những cuộc tấn công khủng bố man rợ khắp nơi trên mặt địa cầu này qua bàn tay của những anh em Hồi giáo của tôi, và sau quá nhiều hành vi bạo lực của những tín đồ Hồi giáo ở nhiều nơi trên thế giới, tôi – một người Hồi giáo và là một con người, cảm thấy có trách nhiệm lên tiếng và nói ra sự thật để bảo vệ thế giới, kể cả người Hồi giáo, tránh khỏi một thảm họa đang tới gần và một trận chiến giữa các nền văn minh.
Tôi phải thừa nhận rằng giáo huấn hiện hành của Hồi giáo gây ra bạo lực và sự thù ghét đối với những người không phải là tín đồ Hồi giáo”.
TS Hamid nói tới những điều cấm kỵ trong thế giới Hồi giáo mà hình phạt là tử hình:
“Chúng ta, những người Hồi giáo là những kẻ cần phải thay đổi.  Cho đến nay, chúng ta vẫn chấp nhận chế độ đa thê, đàn ông bạo hành đánh đập phụ nữ và án tử hình đối với những người bỏ đạo Hồi để theo tôn giáo khác.
Chúng ta chưa từng bao giờ có được một lập trường rõ ràng và vững chắc chống lại quan niệm về nạn nô lệ hoặc chiến tranh, chống lại phương thức truyền bá tôn giáo của chúng ta bằng cách áp chế những kẻ khác vào đạo Hồi và buộc họ phải trả một loại thuế nhục nhã gọi là Jizia. Chúng ta đòi người khác phải tôn trọng tôn giáo của chúng ta, trong khi chúng ta lúc nào cũng lớn tiếng nguyền rủa (bằng tiếng Ả Rập) những kẻ ngoại đạo trong các buổi cầu nguyện vào ngày thứ sáu trong các thánh thất Hồi giáo.
Chúng ta truyền đi thông điệp nào cho con cháu của chúng ta khi chúng ta gọi những người Do Thái là ‘đồ hậu sinh của loài heo và khỉ’. Phải chăng đó là một thông điệp của tình thương và hòa bình, hay là một thông điệp của sự thù hận? Tôi đã từng đi vào nhà thờ và các hội đường ở đó họ đang cầu nguyện cho những người Hồi giáo. Trong khi đó thì chúng ta luôn luôn nguyền rủa họ, và dạy những thế hệ con cháu chúng ta phải gọi họ là ‘bọn bất trung’ và thù ghét họ.
Chúng ta lập tức nhảy dựng lên theo ‘phản xạ của đầu gối’ một cách tự động để bào chữa cho Tiên Tri Mohammed khi có ai đó tố giác ông là kẻ thích ấu dâm trong khi chúng ta lại hãnh diện về câu chuyện trong sách đạo Hồi của chúng ta kể rằng ông ấy đã cưới một bé gái bảy tuổi (tên là Aisha) làm vợ khi ông đã ngoài 50 tuổi.” 
Tác giả đã vạch ra trách nhiệm của Hồi giáo đối với những tội ác và các vụ khủng bố xảy ra trên thế giới từ hơn mười năm qua:
“Tôi cảm thấy buồn khi nói rằng nhiều người, nếu không phải là hầu hết chúng ta, đều hân hoan trong vui sướng sau vụ 11 tháng 9 và sau nhiều vụ tấn công khủng bố khác. Người Hồi giáo tố giác những vụ tấn công đó để gây ấn tượng tốt trước truyền thông báo chí, nhưng chúng ta lại khoan dung cho những kẻ khủng bố Hồi giáo đó và có thiện cảm với lý tưởng của họ. Cho đến nay, những vị lãnh đạo tối cao ‘lừng danh’ trong giáo quyền đã không hề ban bố một Fatwa hay là một giáo chỉ nào để tuyên bố rằng Bin Laden là một tên lạc đạo, trong khi đó thì một nhà văn, như Rushdie, lại bị tuyên bố là tên lạc đạo cần phải giết chết chiếu theo luật Sharia của Hồi giáo chỉ vì ông ta viết ra một cuốn sách chỉ trích đạo Hồi.
Những người Hồi giáo đã biểu tình để đòi thêm quyền tự do tôn giáo như chúng ta đã làm tại Pháp để chống lại lịnh cấm choàng khăn trùm đầu hejab, trong khi đó chúng ta đã không biểu tình với sự nhiệt cuồng như thế đối với một số quá lớn những vụ ám sát khủng bố. Chính sự im lặng tuyệt đối của chúng ta đối với những kẻ khủng bố đã khiến những kẻ ấy có thêm năng lực để tiếp tục thực hiện những hành vi xấu xa của chúng.
Chúng ta, những người Hồi giáo phải chấm dứt mang cái nguyên nhân gây ra các khó khăn của chúng ta gán lên đầu người khác hoặc lên sự xung đột giữa Do Thái và Palestine. Đây là một vấn đề lương thiện khi xác nhận rằng nước Do Thái là ánh sáng duy nhất của dân chủ, của văn minh, của nhân quyền trong khối các quốc gia Trung Đông.
Chúng ta đã xua đuổi những người Do Thái ra khỏi hầu hết các xứ Ả-rập mà không bồi thường gì cả hoặc thương xót để biến họ thành những ‘người Do Thái vô quê hương’ trong khi đó thì nước Do Thái đã chấp nhận cho hơn một triệu người Ả-rập được sống trong lòng của họ, xem họ như những công dân Do Thái để họ được hưởng đầy đủ quyền lợi của con người.
Ở nước Do Thái, những phụ nữ Ả-rập không bị đánh đập một cách hợp pháp bởi bọn đàn ông, và mọi người đều có thể thay đổi niềm tin của họ mà không sợ bị kết án tử hình bởi luật ‘lạc đạo’ của Hồi giáo, trong khi đó trong thế giới của Hồi giáo, không một ai được hưởng cái gì trong những quyền lợi đó.
Tôi đồng ý là những người dân Palestine đang đau khổ, nhưng họ đau khổ là vì những kẻ lãnh đạo của họ hư hỏng chứ không phải vì Do Thái.
Thật hiếm thấy những người Ả-rập đang sống tại Do Thái bỏ ra đi để về sống trong những nước Ả-rập. Ngược lại chúng tôi thấy hàng ngàn người dân Palestine vui sướng đi lao động tại nước Do Thái là ‘kẻ thù’ của họ. Nếu nước Do Thái đối xử tàn tệ với người Ả-rập như có kẻ đã rêu rao, thì hẳn chúng ta sẽ thấy được một hiện tượng trái ngược lại.
Chúng ta, những người Hồi Giáo, cần phải gánh vác những nan đề của chúng ta và đối mặt với chúng. Chỉ có lúc đó chúng ta mới có thể giải quyết được vấn nạn để bắt đầu một kỷ nguyên mới sống trong hòa hợp với tình nhân loại của con người.”
Tác giả đã kết thúc bài viết bằng cách nhắc lại đòi hỏi “những người Hồi giáo phải thay đổi.”
TS Tawfik Hamid
Hậu quả nào sẽ đến với TS Tawfik Hamid, không ai biết, nhưng có điều gần như chắc chắn là “những người Hồi giáo sẽ không thay đổi” trong khung cảnh địa lý chính trị ngày nay trên thế giới. Tiếng nói của Tawfik Hamid là tiếng kêu lẻ loi tuyệt vọng giữa một sa mạc của bạo lực và hận thù. Chưa thấy có những tiếng nói “từ trong tim” của những người Hồi giáo khác để có thể tạo thành một luồng gió lớn, đẩy lui khuynh hướng bạo lực đang chế ngự trong thế giới Hồi giáo.
Trong khi đó, với chủ trương hòa hoãn của giới lãnh đạo Hoa Kỳ và Tây phương hiện nay đối với Hồi giáo cực đoan, tới một lúc nào đó sẽ khó tránh khỏi một “trận chiến giữa các nền văn minh” như lo ngại của ông Hamid. Trước mắt là khả năng chế tạo vũ khí nguyên tử của Iran đang tới gần và Do Thái sẽ không khoanh tay ngồi chờ để bị hủy diệt. Cho đến nay, tất cả những sự “chế tài” của Hoa Kỳ và Tây phương đối với Iran đều vô hiệu và chỉ gặp sự thách thức ngang tàng từ Tehran.
Nhiều người đang nhớ tới bài học về thái độ nhu nhược của thế giới trước cuộc Thế Chiến II đã khuyến khích Hitler bạo tay thực hiện tham vọng ngông cuồng gây ra bao đau thương tang tóc cho nhân loại trong suốt sáu năm (1939-1945).
Như một sự đồng cảm ngẫu nhiên, trước khi bài viết của BS Tawfik Hamid được phổ biến vài tuần lễ, một trí thức người Việt ở hải ngoại, Tiến sĩ Nguyễn Anh Tuấn, một tín đồ Ki-tô giáo, đã phổ biến một bài tham luận dài 30 trang, nhan đề “Tiếng réo gọi hợp tác xây dựng Hoà Bình của Thánh kinh Hồi giáo trước làn sóng tôn giáo cuồng tín đang cổ súy hận thù bạo lực khắp nơi”.
Đây là một công trình nghiên cứu rất sâu rộng về Hồi giáo, đặc biệt là về Kinh Qur’an, và đã phát hiện nhiều điều ít người biết hay đã hiểu lầm về Kinh Qu’ran do bị diễn giải sai lạc, mà tác giả đã vạch rõ và giải thích trong tiểu đoạn “Chân tâm con người là hy vọng cho mọi vấn nạn”:
“Theo Thánh Kinh Hồi giáo chữ Tayammun của Ả Rập được lấy ra từ chữ Iman, có nghĩa là một điều được đề nghị, để chỉnh đốn, sửa sai một điều gì đó: cầu nguyện phải có sự thanh lọc tu trì để thánh hóa tâm hồn (purification) và thanh lọc thánh hóa tâm hồn là chìa khóa để dẫn tới cầu nguyện và đó là một phần của Iman và Iman được xây dựng trong sự trong sạch cũng như tẩy sạch thân xác là một sự sửa soạn cần thiết, một tâm hồn trinh bạch vô tì vết trong một thân xác trong sạch là điều được chú trọng trong Hồi giáo. Điều kiện đầu tiên của sự tẩy rửa thân xác là wadzu. Nhưng với một người không có nước để wadzu hoặc khi dùng nước có hại thì vẫn cần có một hành động thanh lọc từ chỗ làm sạch thân xác đến chỗ làm sạch tâm hồn đó chính là mục tiêu để cầu nguyện. Đó là mục đích của Tayammun bởi vì sự chú tâm của Tayammun là đi về với nội tâm sâu thẳm. Ở đó wadzu bao gồm cả 2 tay, phải rũ sạch đất bụi và vết nhơ bẩn, đi từ 2 tay đến mặt mũi rồi trở lại 2 tay từ trái qua phải (trích 7:45).
Những người Hồi giáo muốn đi đến để đạt được cứu cánh của đời người thì Thánh Kinh Hồi giáo cho biết như sau:
“Nhưng (chỉ có một con người được cứu rỗi) khi người đó tìm đến với ALLAH bằng tâm hồn trong sạch vô tì vết và thánh thiện” (trích 26:89).
Hồi giáo (Islam) có nghĩa là sự vâng phục (surrender), một người Hồi giáo là một người đã dâng hiến trọn vẹn đời sống cho ALLAH, vâng phục và tuân hành tất cả mọi mệnh lệnh của THIÊN CHÚA là con người phải cùng nhau xây dựng lên những cộng đồng ở đó con người sống với nhau và cư xử với nhau trên tinh thần Bình Đẳng, Công Lý và nhân từ. Người Hồi giáo khi gục mặt xuống đất cầu nguyện (salat) đã thể hiện trọn vẹn sự vâng phục của họ đối với ALLAH. Những người Hồi giáo được dạy là phải gục mặt xuống đất để giảm bớt tính kiêu căng, tự phụ và tự mãn của họ. Họ đã được dạy để bỏ bớt tính kiêu căng và ích kỷ, và luôn luôn nhớ rằng trước mặt ALLAH họ chẳng là gì cả. Để vâng phục theo đúng lời dạy của Thánh Kinh Qu’ran, những người Hồi giáo phải có bổn phận dành một phần lớn lợi tức của họ cho những kẻ nghèo khó trong việc làm từ thiện (jakat). Họ sẽ phải ăn chay trong tháng Ramadan để nhắc nhở chính họ về sự nghèo khó của bao kẻ khác, đó là những người thường không có đồ ăn và đồ uống.
Đạo đức quan trọng nhất của người Hồi giáo là thực thi Công Lý xã hội, họ được đòi hỏi xây nên cộng đồng (ummab), để mọi người thực thi lòng nhân từ, ở đó của cải phải được phân phối công bình. Đây là trách vụ quan trọng hơn bất cứ giáo lý nào THIÊN CHÚA đã dạy. Điều thiết yếu nhất đòi hỏi là người Hồi giáo phải sống theo lối sống mà THIÊN CHÚA muốn tất cả con người phải sống. Họ phải xây dựng xã hội chính trị để lo về an sinh xã hội trong đời sống của cộng đồng là một giá trị thiêng liêng của những tín hữu Hồi giáo. Nếu một cộng đồng phồn vinh, thịnh vượng thì đó là dấu hiệu cho thấy là người Hồi giáo đã sống theo Thánh ý của THIÊN CHÚA, bởi vì đó là cộng đồng Hồi Giáo thật sự. Và đó cũng là điều khiến con người phải vâng phục và tuân hành theo luật của Trời cao, từ đó sẽ đưa những người Hồi Giáo vào chỗ thiêng liêng cao cả.
Như thế bốn giá trị cốt lõi nền tảng của Thánh Kinh Qur’an muốn đem đến cho thế giới Hồi giáo là TỰ DO, BÌNH ĐẲNG, CÔNG LÝ VÀ LÒNG NHÂN TỪ trong đời sống chính trị và xã hội của cộng đồng Hồi giáo. Bốn giá trị này không chỉ có Hồi giáo mới có mà trong Do Thái giáo và Kitô giáo cũng có, và đã có trước Hồi giáo mấy ngàn năm. Trong việc phát triển văn hóa và lịch sử cho thấy, thế giới Hồi giáo đã không xây dựng được một cộng đồng lý tưởng như Thánh Kinh và THIÊN CHÚA đã đưa đến cho những người Ả Rập. Trong lúc Do Thái đã áp dụng luật của Moses tức TEN COMMANDMENTS và TORAK để xây dựng nên cộng đồng quốc gia Do Thái. Đây mới đúng là cộng đồng với sự quan phòng trực tiếp của THIÊN CHÚA.” …. ALLAH là tình yêu. Vì thế giáo lý của các chính giáo thường sử dụng ngôn ngữ khác nhau vì các dòng đạo lý xuất phát từ nhiều xứ sở khác nhau và ngôn ngữ khác nhau, nhưng nội dung giáo lý đều giống nhau và đều đề cập đến một ĐẤNG TỐI CAO cũng như đều nói đến CHÂN TÂM của con người. Con người sẽ bị coi là lạc đạo nếu họ đánh mất CHÂN TÂM của họ trong đời sống tôn giáo cũng như đức tin của họ.
Sự thật đầu tiên và trên hết là con người phải tìm được ánh sáng của CHÂN TÂM và CHÂN TÂM sẽ giải phóng họ. Ấn Độ giáo và Phật giáo tìm mọi cách để giúp chúng sinh phá bỏ bức màn vô minh và chúa Jesus cũng đến thế gian để cứu con người ra khỏi tội lỗi, hay ra khỏi nghiệp chướng và ra khỏi bóng tối vô minh bằng cách giúp con người tìm lại CHÂN TÂM, tức tìm lại ánh sáng trong tâm hồn và trí tuệ của họ. Khi con người tìm được ánh sáng thì con người là con cái của ánh sáng vì thế chúa Jesus thường nói: ‘Ta là ánh sáng thế gian và THIÊN CHÚA nói các con là ánh sáng của thế gian’.
Từ một ĐẤNG TẠO HÓA tức là người cha chung của tất cả nhân loại và từ CHÂN TÂM của con người chúng ta tìm ra được thế nào là vạn giáo nhất lý và sự đồng nguyên của tất cả 6 chính giáo (True Religion) trong gia đình nhân loại. Tất cả những giá trị giống nhau nơi các dòng đạo lý chính là luật thiên nhiên trong Trời đất. Tất cả đều là một gốc từ Trời mà xuống nên các tôn giáo không còn lý do để nhân danh tôn giáo mà dẫn đến những hận thù xung đột giữa tôn giáo này và tôn giáo khác nữa.”
Cũng như TS Tawfik Hamid, TS Nguyễn Anh Tuấn đã kêu gọi những người Hồi giáo hãy tự vấn và thay đổi:
“Thế giới Hồi giáo và các quốc gia Ả Rập phải tự hỏi chính mình xem:
* Chúng ta thực sự muốn gì?
- Chủ trương quá khích và cuồng tín để gây hận thù và bạo lực có thực sự giải quyết được các vấn nạn của Hồi giáo không?” – Tại sao Hoa Kỳ là ‘kẻ thù của ALLAH’ khi mà ‘kẻ thù’ ấy lại xây dựng được một quốc gia Tự Do, Bình Đẳng, Công Lý và nhân từ, còn chúng ta vẫn ôm ấp như một giấc mơ chưa thành sự thật? – Sự hiểu biết và kiến thức của chúng ta về nước Mỹ có đủ để xác định chính xác xem Hoa Kỳ là bạn hay thù của Hồi giáo? – Chủ trương phát động ‘Thánh Chiến’ để réo gọi hận thù bạo lực có làm sáng tỏ được ánh sáng văn minh của Hồi giáo hay chúng ta sẽ làm cho nền văn minh tinh thần của Hồi giáo sụp đổ toàn diện, có thực sự ALLAH muốn Hồi giáo phát động Thánh Chiến trong hận thù và bạo lực thật không? – Tại sao Thánh Kinh Qu’ran lại có quan niệm Thánh Chiến là con người phải tự phấn đấu với chính mình để tự thắng, đó là lời dạy dỗ then chốt nhất của văn minh Hồi giáo, phải chăng không còn ai nhớ nữa hay sao? Chẳng lẽ chúng ta không đem được những giá trị gì của văn minh Hồi giáo để đóng góp cho nền văn minh tổng hợp toàn cầu, mà chỉ biết đóng góp hận thù và bạo lực hay sao? ….. Trước tình thế căng thẳng và hỗn loạn tột cùng trong thế giới Hồi giáo, trên đây là một loạt tra vấn quan trọng và cần thiết mà chỉ có những người thông minh, sáng suốt, biết sử dụng sự thông minh sáng suốt và khôn ngoan để biến khung cảnh sống thành môi trường sáng tạo, cảm thông và thánh thiện theo đúng tinh thần Qur’an.”
Tác giả đã soi rọi, phân tích cặn kẽ Kinh Qur’an so chiếu với hiện tình thế giới để tìm lời giải đáp cho những câu hỏi trên đây, và cũng như TS Tawfik Hamid, TS Nguyễn Anh Tuấn đã trang trải trên giấy những gì phát xuất từ trái tim của một người Ki-tô giáo chân chính. Rất cao quý và lý tưởng.
Hai lời “réo gọi” cao quý và lý tưởng đến từ hai tâm hồn trí thức của hai tôn giáo từng xảy ra những xung đột đẫm máu trong quá khứ và có thể lôi kéo nhân loại vào một cuộc tàn sát trong tương lai, mà chỉ có người Hồi giáo mới ngăn chặn được, nếu họ tỉnh thức và chấp nhận “thay đổi”.
Sơn Tùng
Virginia, cuối năm 2012

www.vietthuc.org



From the heart of a Muslim

I was born a Muslim and lived all my life as a follower of Islam.
After the barbaric terrorist attacks done by the hands of my fellow Muslims everywhere on this globe, and after the too many violent acts by Islamists in many parts of the world, I feel responsible as a Muslim and as a human being, to speak out and tell the truth to protect the world and Muslims as well from a coming catastrophe and war of civilizations.
I have to admit that our current Islamic teaching creates violence and hatred toward Non-Muslims. We Muslims are the ones who need to change. Until now we have accepted polygamy, the beating of women by men, and killing those who convert from Islam to other religions.
We have never had a clear and strong stand against the concept of slavery or wars, to spread our religion and to subjugate others to Islam and force them to pay a humiliating tax called Jizia. We ask others to respect our religion while all the time we curse non-Muslims loudly (in Arabic) in our Friday prayers in the Mosques.
What message do we convey to our children when we call the Jews “Descendants of the pigs and monkeys”.. Is this a message of love and peace, or a message of hate?
I have been into churches and synagogues where they were praying for Muslims. While all the time we curse them, and teach our generations to call them infidels, and to hate them.
We immediately jump in a ‘knee jerk reflex’ to defend Prophet Mohammed when someone accuses him of being a predophile while, at the same time, we are proud with the story in our Islamic books, that he married a young girl seven years old (Aisha) when he was above 50 years old.
I am sad to say that many, if not most of us, rejoiced in happiness after September 11th and after many other terror attacks.
Muslims denounce these attacks to look good in front of the media, but we condone the Islamic terrorists and sympathize with their cause. Till now our ‘reputable’ top religious authorities have never issued a Fatwa or religious statement to proclaim Bin Laden as an apostate, while an author, like Rushdie, was declared an apostate who should be killed according to Islamic Shania law just for writing a book criticizing Islam.
Muslims demonstrated to get more religious rights as we did in France to stop the ban on the Hejab (Head Scarf), while we did not demonstrate with such passion and in such numbers against the terrorist murders.
It is our absolute silence against the terrorists that gives the energy to these terrorists to continue doing their evil acts. We Muslims need to stop blaming our problems on others or on the Israeli/Palestinian conflict. As a matter of honesty, Israel is the only light of democracy, civilization, and human rights in the whole Middle East.
We kicked out the Jews with no compensation or mercy from most of the Arab countries to make them “Jews-Free countries” while Israel accepted more than a million Arabs to live there, have its nationality, and enjoy their rights as human beings. In Israel , women can not be beaten legally by men, and any person can change his/her belief system with no fear of being killed by the Islamic law of ‘Apostasy,’ while in our Islamic world people do not enjoy any of these rights. I agree that the ‘Palestinians’ suffer, but they suffer because of their corrupt leaders and not because of Israel.
It is not common to see Arabs who live in Israel leaving to live in the Arab world. On the other hand, we used to see thousands of Palestinians going to work with happiness in Israel , its ‘enemy’. If Israel treats Arabs badly as some people claim, surely we would have seen the opposite happening.
We Muslims need to admit our problems and face them. Only then we can treat them and start a new era to live in harmony with human mankind. Our religious leaders have to show a clear and very strong stand against polygamy, paedophilia, slavery, killing those who convert from Islam to other religions, beating of women by men, and declaring wars on non-Muslims to spread Islam.
Then, and only then, do we have the right to ask others to respect our religion. The time has come to stop our hypocrisy and say it openly: ‘We Muslims have to Change’.


Dr. Tawfik Hamid