Saturday, June 28, 2014

NÓNG !! "Chúng ta đang ở trong một thời kỳ cực kỳ nguy hiểm" - Hoàng Thủy thực hiện

Theo VnExpress

Ảnh bên:Ông Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới Chính phủ cho rằng Trung Quốc đang thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược mềm, Việt Nam cần phải khởi động bộ máy tập hợp trí thức, đoàn kết trí tuệ để đấu tranh. Ảnh: NH.

"Chúng ta đang ở trong một thời kỳ cực kỳ nguy hiểm, thậm chí như là đang trong thời chiến vì cuộc chiến tranh này không tiếng súng nhưng đã gây tác hại cho chúng ta ở tất cả các mặt", ông Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ trả lời VnExpress.

- Trung Quốc ngày càng hung hăng khi sử dụng cùng lúc nhiều tàu đâm húc vào tàu thực thi pháp luật của Việt Nam. Ông đánh giá thế nào về những hành động trên?

- Từ khi hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc duy trì hàng trăm tàu, máy bay trong đó có cả tàu và máy bay quân sự hộ tống. Họ liên tục đâm va, phun vòi rồng vào tàu của lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam. Gần đây, những hành động của Trung Quốc càng trở nên ngang ngược, hung hãn, đặc biệt là sau chuyến đi của Dương Khiết Trì đến Việt Nam.

Điều này chứng tỏ Trung Quốc quyết tâm triển khai cuộc xâm lăng kiểu mới. Họ không thể biện hộ cho việc này bởi mọi hành vi đều thể hiện đó là một cuộc xâm lược mềm. Trung Quốc dùng mọi biện pháp buộc Việt Nam phải đối phó trên nhiều mặt trận. Họ hạ đặt giàn khoan trái phép, xây dựng đường băng ở đảo Gạc Ma, điều giàn khoan Nam Hải 09 đến cửa vịnh Bắc Bộ, tăng cường hoạt động ngăn cản gây thiệt hại lớn cho lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam...

Quyết tâm của Trung Quốc là không bao giờ thay đổi. Trung Quốc đang tìm cách lợi dụng tình thế quốc tế và khu vực, những khó khăn của Việt Nam để đạt được ý muốn hợp thức hóa yêu sách vô lý của họ trên biển Đông.

- Giàn khoan Nam Hải 09 đã được Trung Quốc điều đến vùng cửa vịnh Bắc Bộ - vùng biển chưa phân định, hành động này làm gia tăng căng thẳng như thế nào thưa ông?

- Một giàn khoan Hải Dương 981 đã gây nhiều phản ứng của Việt Nam, quốc tế và khu vực, giờ Trung Quốc lại đưa thêm giàn khoan vào vùng chồng lấn, nơi hai bên đang thỏa thuận, có cơ chế đàm phán để giải quyết vấn đề. Đó là hành vi coi thường luật pháp quốc tế bởi theo công ước Luật biển 1982, ở vùng chồng lấn hai bên phải ngồi lại đàm phán với nhau, trong quá trình đó, không bên nào được làm tổn hại đến lợi ích của bên đang đàm phán với mình.

Hành động này của Trung Quốc không chỉ làm gia tăng căng thẳng trên biển Đông mà còn thể hiện sự bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp những thỏa thuận đã đạt được giữa Việt Nam và Trung Quốc.

- Gần đây Trung Quốc đã phát hành hàng loạt bản đồ trong đó thể hiện đường lưỡi bò bao trùm lên biển Đông trong đó Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cũng được họ đưa vào hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất mới. Vậy giá trị pháp lý của những bản đồ này như thế nào?

- Việc đưa đường lưỡi bò vào bản đồ không phải bây giờ Trung Quốc mới làm mà họ đã đưa vào nhiều bản đồ, từ sơ đồ đơn giản nhất đến những bản đồ chuyên ngành như hành chính, địa hình, địa vật, tự nhiên... Trước đây họ làm bản đồ chiều ngang thì có dùng vũ đồ để vẽ đường lưỡi bò. Nhưng gần đây họ thể hiện bản đồ theo chiều dọc để thể hiện luôn đường lưỡi bò gắn liền mà không cần chia tách.

Trong những bản đồ mới phát hành, có một điểm không thay đổi so với trước là đường lưỡi bò. Khi mới ra đời, bản đồ đường lưỡi bò có 11 đoạn, sau đó bỏ đi 2 còn 9 đoạn và bây giờ là 10 đoạn. Bản đồ này không có giá trị pháp lý nào vì đường lưỡi bò không căn cứ vào bất cứ một quy định nào của luật pháp quốc tế đặc biệt là công ước Luật biển 1982 mà họ là thành viên.

Việc liên tục xuất bản bản đồ là một trong những biện pháp để Trung Quốc tạo ra nhận thức đặc biệt đối với người dân của họ. Nhà cầm quyền Trung Quốc muốn làm điều này để người dân trong nước tin rằng họ có quyền ở vùng biển mà họ gọi là Nam Hải, rằng việc Trung Quốc đang hạ đặt giàn khoan tác nghiệp là việc hoàn toàn bình thường trong vùng biển thuộc chủ quyền của họ như bản đồ đã vẽ. Đó chính là biện pháp tuyên truyền nhồi sọ mà Trung Quốc đã sử dụng nhiều năm qua. Trong lịch sử nhân loại, các thế lực cường quyền gây ra cuộc chiến tranh đã từng sử dụng biện pháp này.

Nhiều học giả thế giới cho rằng đây là kiểu chiến tranh xâm lược bằng bản đồ của Trung Quốc. Họ vẽ ra bản đồ một cách tùy tiện, liên tục, tự xác định lãnh thổ với tư duy áp đặt, phi khoa học, bất chấp luật pháp quốc tế. Nhiều học giả Trung Quốc cũng đã phản đối rằng nếu việc vẽ bản đồ một cách tùy tiện thế này thì bất cứ một nước nào cũng có thể đưa những vùng họ thấy có lợi vào bản đồ nước mình.

Bản đồ mới của Trung Quốc đã có Mỹ phản đối. Việt Nam cũng cần có tiếng nói để thế giới biết rằng Trung Quốc đang sử dụng thủ thuật bản đồ để xâm lấn lãnh thổ và bảo vệ cho yêu sách phi lý của mình
 
Tàu Trung Quốc liên tục chủ động đâm va, ngăn cản tàu thực thi pháp luật của Việt Nam gần khu vực họ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981. Ảnh: Thanh Tùng.

- Bất chấp luật pháp Quốc tế là cụm từ được lặp lại khá nhiều về nhiều hành động của Trung Quốc thời gian này. Theo ông, Trung Quốc sẽ đối mặt vấn đề này như thế nào?

- Bất kể nước nào khi bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp thỏa thuận với các quốc gia thì sẽ bị cô lập. Trên thực tế, Trung Quốc đã bị cô lập rồi. Riêng chuyện đường lưỡi bò, trên bất kỳ diễn đàn nào Trung Quốc cũng đều bị chất vấn và họ rất lúng túng. Thậm chí ngay trong những văn bản luật pháp của Trung Quốc có những lập luận rất kỳ quặc như đây là con đường ra đời trước công ước Luật biển nên không bị chi phối. Đây là điều vô cùng sai trái, thế giới sẽ bóc trần tất cả những thủ đoạn của Trung Quốc.

- Với những gì đang diễn ra, ông dự đoán thế nào về diễn biến trên thực địa trong những ngày tới?

- Trung Quốc đang tính toán đến bước đi gây ra cuộc chiến tranh xâm lược mềm thì không bao giờ dừng lại. Chúng ta phải ngăn chặn bước đi này và không mắc mưu Trung Quốc - đó là những cái bẫy về mặt pháp lý, chính trị ngoại giao, kinh tế, hành động trên thực địa.

Trung Quốc đã mưu toan tính toán mọi thứ. Đây là chiến dịch xâm lăng kiểu mới, không chỉ ở giàn khoan 981 mà còn mũi tiến công nguy hiểm hơn là sân bay Gạc Ma, giàn khoan Nam Hải 09. Lúc đầu còn có nhiều băn khoăn, phải chăng Trung Quốc có động thái như vậy là để thăm dò, nhằm mục đích quân sự chính trị? Thế nhưng Trung Quốc ngày càng chứng tỏ hành động này còn nhằm vào mục tiêu kinh tế, khai thác, vơ vét nguồn tài nguyên dầu khí trên biển Đông.

Họ nhắm vào những nơi Việt Nam, Indonesia, Philippines... đang khai thác dầu khí, tạo ra sự tranh chấp, để các quốc gia nếu phản ứng yếu ớt, không giải quyết tận gốc thì họ sẽ cùng khai thác.

Đối với Việt Nam, hành vi của Trung Quốc nhằm gây khó khăn trong nước: Thị trường chứng khoán, tiền vàng bất ổn, trong nước xáo trộn, chủ đầu tư khó khăn, việc đánh cá của ngư dân bị ảnh hưởng, đồng thời hạn chế thông thương hàng hải quốc tế. Trung Quốc đang đe doạ ngăn chặn tàu của Việt Nam ở phạm vi 10 hải lý quanh giàn khoan - đó là hành động đe dọa nền an ninh an toàn hàng hải quốc tế. Cuộc xâm lăng này không có tiếng súng nhưng họ đang áp dụng mọi lực lượng vũ trang để triển khai chiến dịch.

- Theo ông, Việt Nam cần phải làm gì lúc này?

- Chúng ta đã và đang đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, không chỉ dừng ở công hàm gửi cho Trung Quốc mà còn gửi lên Liên Hợp Quốc. Hiện nay, sự việc đã không chỉ còn là hai nước mà đã liên quan đến cả thế giới, vì vậy Việt Nam cần tăng cường nhờ tới Liên Hợp Quốc.

Để người dân nhận thức rõ bước đi, hành động của Trung Quốc, truyền thông cần phải tuyên truyền mạnh mẽ; chỉ đạo phải thống nhất, không để các lực lượng khác lợi dụng, kích động, tạo báo động không cần thiết làm giảm uy tín và hiệu suất của cuộc đấu tranh. Cần làm cho nhân dân Việt Nam nhận thức được chúng ta đang ở trong một thời kỳ cực kỳ nguy hiểm, thậm chí như là đang trong thời chiến vì cuộc chiến tranh này không tiếng súng nhưng đã gây tác hại cho chúng ta ở tất cả các mặt kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp lý.

Việt Nam cũng nên nhờ đến các cơ quan tài phán quốc tế trong những nội dung có thể thực hiện đơn phương, không nên kéo dài hơn nữa vì càng để lâu Trung Quốc càng có thời gian thực hiện mưu đồ. Và khi câu chuyện đến mức khó có thể đẩy lùi được thì rất nguy hiểm. Việc này cần phải tính toán nhưng không cần thiết phải tính toán quá lâu, để sự việc đi quá xa. Lúc đó chúng ta phải bị động, chạy theo thì rất nguy hiểm.

Bên cạnh đó, mỗi người dân phải ý thức rằng chúng ta đang trong thời kỳ nguy hiểm, vận mệnh, lợi ích quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng, cần phải có tiếng nói thống nhất. Việt Nam cần huy động sức mạnh đoàn kết, không chỉ là cơ bắp mà còn là trí tuệ. Chúng ta đấu lý nên cần lập tức chuyển động bộ máy thu hút các học giả, trí thức trong và ngoài nước để tập hợp sức mạnh trí tuệ, lí lẽ. Quan trọng nhất là đoàn kết dân tộc vì lợi ích chung của quốc gia trước nguy cơ, hiện hữu về sự xâm phạm đến lợi ích sống còn của đất nước.
........
Tên bài của Quê Choa. tên gốc: Ông Trần Công Trục: 'Trung Quốc đang triển khai mọi lực lượng để xâm lăng'
http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=29353

NÓNG !! Tin động trời :Khu kinh tế Vũng Áng bất ngờ đòi tự trị = Khu kinh tế do Trung Quốc đầu tư lớn ở Hà Tĩnh bất ngờ đòi tự trị




Một bản tin kinh tế rất nhỏ trên các trang báo Việt Nam ngày 25/06 không làm nhiều người chú ý, nhưng đã nhanh chóng gây sửng sốt cho những ai quan tâm về thời sự và chính trị ở Việt Nam. Nội dung của bản tin cho biết khu kinh tế Formosa, Vũng Áng, Hà Tĩnh của Việt Nam đột ngột gửi thư lên Trung ương Hà Nội và đòi trở thành đặc khu tự trị với nhiều quyền hạn vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp bình thường.

Tin tiết lộ cho biết Ban lãnh đạo khu kinh tế Formosa vừa có văn bản gửi Phó Thủ tướng CSVN Hoàng Trung Hải yêu cầu cho thiết lập đặc khu kinh tế tự trị. Theo văn bản này, Tổng giám đốc công ty Hưng Nghiệp Formosa Dương Hồng Chí, vốn là một người gốc Hoa, lý giải việc thiết lập đặc khu kinh tế nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện, nước... nói một cách khác, yêu cầu này có nghĩa muốn tách vùng Vũng Áng, Hà Tĩnh, trở thành như một vùng tự trị trong lòng Việt Nam.

Hiện Hà Nội chưa có câu trả lời cho sự việc này, và qua đây cũng cho thấy sự bối rối và chia rẽ rất rõ trong nội bộ. Vùng Vũng Áng có nhiều công nhân Trung Quốc và vốn đầu tư cũng của Trung Quốc. Thư đòi tự trị lại đưa cho phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, được coi là nhân vật thân cận với Trung Cộng, đang nằm trong bộ máy lãnh đạo cao cấp của chế độ CSVN.
Lâu nay, khu kinh tế Vũng Áng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) - khu công nghiệp lớn nhất Bắc Trung Bộ bị đồn đoán là nơi tập hợp lực lượng bí ẩn của chính quyền Trung Quốc tại Việt Nam. Vừa qua, bạo loạn ngày 14 tháng 5 đã làm cho Trung Quốc rút đi hơn 4000 công nhân và kỹ sư về nước, nhưng số lượng này vẫn chỉ là một phần nhỏ.

Hiện nay còn khoảng 10.000 người Trung Quốc ở Vũng Áng, Hà Tĩnh. Từ lâu nay, người Trung Quốc đến đây xây dựng con đường riêng, khu phố riêng, lấy vợ Việt... biến vùng này trở thành một China Town ở một cứ điểm trọng yếu của Việt Nam. Đáng lo là phần lớn công nhân ở đây đều không có giấy tờ để kiểm soát, thậm chí dân trong vùng còn cho biết rất nhiều nhóm người Trung Quốc ở đây bí mật vũ trang, phong cách không khác quân đội.

Giữa lúc tình hình Việt Nam đang rối ren, nội bộ đảng CS đang đánh nhau kịch liệt, việc đột ngột vùng kinh tế Vũng Áng đòi tự trị đang là một thách thức sống còn với Đảng CSVN, mà hầu hết mọi người đều tin rằng đó là một đòn phép mới của Trung Quốc trong âm mưu xâm lược hoặc kiểm soát Việt Nam. Nếu đây là vùng tự trị, sớm muộn gì các khu người Trung Quốc ở Tây Nguyên cũng sẽ lên tiếng đòi đặc cách như vậy. Việc này đồng nghĩa Việt Nam đã nằm gọn trong tầm kiểm soát của Bắc Kinh

(SBTN)
    
  #2   Report Post  
Cũ hôm nay, 10:30 PM
Tướng 2 sao


Default

Đặc khu kinh tế– Quỷ kế nhãn tiền?

Trung Ngôn

Từ vài tháng nay, nghe nói Tập đoàn Formosa Đài Loan chi nhánh Vũng Áng, Hà Tĩnh đã biến thành “con ngựa thành Troia” trong tay Trung Nam Hải. Điều đó thật chẳng có gì là lạ với một dự án thuộc loại “công nghệ đen” khổng lồ, cơ sở hạ tầng sản xuất kềnh càng, đồ sộ, chiếm một diện tích 3-4 ngàn ha, sử dụng hàng vạn nhân công, lại tiếp nối một cảng nước sâu vừa thuận lợi cho sản xuất kinh doanh kiếm lời lúc bình thường, vừa lập tức biến thành căn cứ hải lục quân theo mục đích đã định sẵn. Những người khảo sát xác định vị trí dự án của cả hai bên thật thông minh, hiểu biết đã đặt cho nó vào đúng một vị trí “nhạy cảm”như một “tử huyệt” án ngữ một khu vực phòng thủ lợi hại vào bậc nhất trải dài từ Nghệ Tĩnh tới Quảng Bình,Thừa Thiên, Huế, xưa kia gọi là vùng Thuận Hóa mà Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ ra cho Chúa Nguyễn là: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Chính vì thế nên dù dự án này nhất định phải về tay người Hoa Lục như một định mệnh, không thể khác, vì một bên cần kiếm nhiều tiền, còn một bên thì coi đây là món hàng vô giá, đắt mấy cũng phải mua cho bằng được.

Gần đây nhân sự kiện lộn xộn tại Bình Dương và một vài nơi, Formosa Hà Tĩnh đã đưa yêu cầu lập Đặc Khu Kinh Tế Vũng Áng trực thuộc Văn phòng CP, đồng thời nêu yêu sách với nhiều ưu đãi đặc biệt như nhà đầu tư bậc “bố” chứ không phải một đối tác bình thường. Rõ ràng đây là hành động “ép” phía đang yếu thế khi cái giàn khoan oan nghiệp HD-981 đang nghễu nghện giữa Biển Đông của VN. Được biết yêu sách phi lý này người gửi cũng khá khôn khéo đưa tận tay PTT Hoàng Trung Hải. Sự việc rồi đây sẽ “hạ hồi phân giải”. Các nhà kinh tế tên tuổi của đất nước cũng đã nêu nhiều ý kiến phản biện nhiều chiều. Người viết xin không dám “múa rìu qua mắt thợ” mà chỉ xin nêu vài nét sơ lược theo nhận thức kiểu “ếch ngồi đáy giếng”.

Từ lâu, hầu như đã là công trình hay dự án TQ đầu tư hay trúng thầu thì họ kiếm lời ghê gớm. Phía VN chịu nhiều thua thiệt, nhưng đặc biệt nguy hại là ở đâu có mặt người TQ thì ở đó là lãnh địa bất khả xâm phạm của họ. Các cơ quan công quyền VN tự nhiên mất quyền kiểm soát, giám sát, mặc cho họ muốn làm gì thì làm. Nếu nay mai xuất hiện các đặc khu kinh tế, lại là các khu như Vũng Áng với hàng chục vạn người TQ thì có phải là đã tạo ra nhiều Crưm, liệu Văn phòng CP có quản lý được không?

Ở đây tính chất nguy hiểm của nó còn gấp bội. Mỗi một đặc khu trên đất liền sẽ gấp bao nhiêu lần cái giàn khoan HD-981. Mỗi một đặc khu, mỗi một dự án của TQ, phải chăng sẽ là một căn cứ quân sự khi cần, khó có thể khác. Chính vì thế lợi dụng chính sách đầu tư quá thông thoáng và buông lơi cảnh giác của ta, TQ đã ồ ạt cho đội quân thứ 5 khoác áo thương nhân tràn sang VN. Trước mắt, họ kiếm tiền làm suy yếu nền kinh tế, phá hoại tận gốc nền kinh tế, rồi đầu độc dân VN từ tinh thần đến vật chất, phá hủy môi trường, làm cho giống nòi VN tàn lụi.

Một điều nguy hại ít được nhắc đến là trong hàng nửa thế kỷ qua họ đã tạo dựng được một đội ngũ tay sai trung thành và một tầng lớp không nhỏ thân Trung cộng trong các tổ chức, các cơ quan đảng, nhà nước. Đây là bọn hai mang, dân có thể nhận ra, nhưng khó trừ khử, nhất là những kẻ có quyền, có chức. Khi cuộc chiến trên đất liền nổ ra chắc chắn hàng ngàn pháo đài Trung cộng trên khắp đất nước sẽ phát hỏa, hàng chục vạn người TQ đang có mặt tại VN cùng với bọn Việt gian, bọn bám gót Tàu sẽ là đội quân còn nguy hại hơn cả những binh đoàn thiện chiến.

Để chặn đứng mưu đồ xâm lấn lãnh thổ, biến các dự án thành các pháo đài quân sự, di dân xuống phía Nam theo chủ trương đã từng nói toẹt ra từ thời Mao Trạch Đông thông qua con đường giao lưu thương mại ngày càng đưa nhiều người sang VN, lấy vợ, sinh con, lập làng, lập phố, cần quốc hữu hóa có bồi hoàn đối với các dự án có vị trí chiến lược như Formosa và tương đương. Các công trình dự án khác phía VN phải thực hiện việc giám sát, buộc tuân thủ đúng mục đích ghi trong hợp đồng hoặc trong giấy phép đầu tư. Chấm dứt tình trạng để mất chủ quyền đã diễn ra lâu nay. Nếu vi phạm, cương quyết rút giấy phép hoặc đình chỉ hợp đồng. Tổng rà soát các đối tượng là người TQ nói chung, trục xuất các đối tượng nhập cảnh trái phép, buộc hồi hương các đối tượng đưa sang không đúng quy định. Các đối tượng còn lại phải được quản lý nghiêm ngặt mọi sự di chuyển, mọi mối quan hệ với các giới chức cũng như dân thường VN.

Phát động quần chúng tố giác những kẻ có biểu hiện làm tay sai hoặc thân Trung cộng. Trong các cơ quan đảng, nhà nước nói chung nên lập ra các ban giám sát gồm những người thực sự trung thành với đất nước với dân tộc để rà soát, phát hiện bọn tình báo, bọn Việt gian để có kế hoạch xử lý, giáo dục những người thân Trung cộng và những người chưa phân biệt rõ bạn, thù.

Cùng với các biện pháp trên cần nói rõ cho nhân dân hiểu hành động trước mắt và âm mưu lâu dài của TQ đối với nước ta, giảm sự phụ thuộc kinh tế vào TQ và, tẩy chay các hàng hóa, thực phẩm độc hại nhằm đầu độc người dân VN. Nếu dám làm và kiên quyết làm được những điều trên, cùng với nhiều giải pháp mà các bậc CM lão thành, giới trí thức, học giả trong, ngoài nước đã tâm huyết góp ý thẳng thắn, chân thành, chắc chắn VN sẽ vượt qua được cuộc đối đầu quyết liệt với chủ nghĩa bá quyền Đại Hán.

T.N
Tác giả gửi BVN
Reply With Quote Multi-Quote This Message Quick reply to this message Thanks
  #3   Report Post  
Chưa đọc hôm nay, 11:20 PM
Tướng 5 sao
 
Ngày Gia Nhập: Dec 2010
Vị trí: Góc Trời Tự Do
Số Bài: 1,582
Thanks: 2,879
Được cảm ơn 1,453 lần trong 757 bài
Angry

Khốn nạn Tàu khựa. Chúng nó (tàu khưa) sẽ xúi dục dân VN ở vùng đó áp dụng hai chữ "Dân Chủ" đòi 'trưng cầu dân y' như ở Ukraina ...

Vừa nghe lửa giận phừng phừng.
Toàn thân huyết quản đang hừng hực sôi.
Hừm !!
Đả đảo Trung cộng xâm lăng. Đả đảo vc bán nước diệt tc & vc tiêu diệt tc & vc
__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)

"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"

PHÁP - Gay Pride tại Pháp : Giới LGBT vận động cho luật nhận con nuôi

Thứ bảy 28 Tháng Sáu 2014
Mặt tiền Tòa đô chính Paris ttreo cờ cầu vồng, biểu tượng của giới LGBT - RFI / Tuấn Thảo - Pascal Maurice
Mặt tiền Tòa đô chính Paris ttreo cờ cầu vồng, biểu tượng của giới LGBT - RFI / Tuấn Thảo - Pascal Maurice

Tuấn Thảo RFI
Sau các thành phố tại Bỉ, Đức, Áo, Ai Len, Thụy Sĩ, Na Uy, đến lượt thủ đô Pháp tổ chức vào ngày hôm nay (28/06/2014) cuộc tuần hành Gay Pride, mà theo ban tổ chức quy tụ cả trăm ngàn người tham gia, cho dù thời tiết năm nay không mấy thuận lợi cho một sinh hoạt ngoài trời.

Được gọi vắn tắt là Gay Pride, cuộc tuần hành thường niên này thật ra tập hợp cộng đồng LGBT (lesbian, gay, bi, transgender) gồm giới đồng tính nữ cũng như nam, lưỡng tính và hoán tính (tức chuyển đổi giới tính). Đoàn tuần hành đã khởi động vào lúc 14 giờ, giờ Paris, và sẽ kéo dài cho đến chiều tối, kết thúc bằng một buổi trình diễn ca nhạc trên đường phố.
So với những năm trước, lộ trình năm nay có phần thay đổi, thay vì đi từ khu phố Montparnasse (quận 15) đến quảng trường Bastille (quận 4), đoàn tuần hành năm 2014 bắt đầu đi từ quảng trường trước mặt công viên Luxembourg (quận 6) cho đến quảng trường République (quận 11), nơi dựng lên một sân khấu lớn ở ngoài trời dành cho buổi biểu diễn dành cho mọi giới. Tòa đô chính Paris tích cực ủng hộ việc tổ chức tuần hành và kể từ một tuần nay có treo cờ cầu vồng biểu tượng của giới LGBT, trên mặt tiền Hôtel de Ville.
Cuộc tuần hành Gay Pride tại Paris lần này diễn ra trong một bối cảnh khá đặc biệt. Một năm sau khi nước Pháp thông qua luật hôn nhân đồng tính, ‘‘tuần trăng mật’’ giữa cộng đồng LGBT với chính phủ đảng Xã hội coi như đã kết thúc. Giới 
Sau nhiều lần do dự, đảng Xã hội lùi bước, không chịu thông qua hai dự luật liên quan đến việc cho phép các cặp đồng tính nhận con nuôi, hay có con qua phương pháp thụ tinh nhân tạo. Điều đó có thể giải thích vì sao, mặc dù thời tiết xấu, giới LGBT năm nay vẫn tích cực vận động dư luận và kêu gọi tất cả mọi người ủng hộ tham gia cuộc tuần hành.
Riêng về luật hôn nhân đồng tính tại Pháp, một năm sau khi luật này được thực thi, đã có khoảng 7.000 ngàn cặp đồng tính tổ chức đám cưới, tức là chỉ bằng 3% so với các số liệu chính thức về hôn nhân nói chung. Theo viện thống kê Insee, tính từ giữa năm 2013 đến giữa năm 2014, đã có khoảng 240.000 hôn lễ chính thức tại Pháp.

tags: Pháp - Xã hội - Đồng tính - cộng đồng LGBT

TỘI PHẠM - CHÂU Á - Bán phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc : Thêm một báo động

Thứ sáu 27 Tháng Sáu 2014
DR

Trọng Thành RFI
Hãng thông tấn AFP, ngày 25/06/2014 có bài tố cáo tệ nạn buôn phụ nữ vùng biên giới phía bắc Việt Nam sang Trung Quốc, một thực trạng nhiều năm nay liên tục được báo chí và giới bảo vệ nhân quyền báo động. Đường biên giới dài hơn 1.300 km giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như nhiều nước láng giềng Đông Nam Á, là nơi hoành hành của các đường dây « buôn người ». Nạn buôn người qua biên giới dường như vượt khỏi khả năng kiểm soát của chính quyền Việt Nam, dù trong thời gian gần đây thực trạng nhức nhối này được chú ý nhiều hơn.

Theo một con số thống kê của chính quyền Việt Nam, được Unicef dẫn lại, trong 10 năm gần đây, có đến 22.000 phụ nữ và trẻ em là nạn nhân của các đường dây « buôn người » sang Trung Quốc, do bị lừa đảo hay cưỡng ép, để ép buộc làm vợ, đưa vào nhà chứa hay vì các mục tiêu khác. Một bộ phận lớn nạn nhân là người các dân tộc thiểu số. Một nghiên cứu năm 2011 của Child Exploitation and Online Protection Center, phối hợp với đại sứ quán Anh tại Việt Nam cho thấy, trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2009, tới 60% số người bị bán ra nước ngoài là sang Trung Quốc. Báo cáo về thực trạng buôn người 2014 mới công bố của chính phủ Hoa Kỳ, ghi nhận những nỗ lực đáng kể của Việt Nam, nhưng tiếp tục khẳng định hiện tượng "Phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán sang các nước ở châu Á vì mục đích cưỡng ép tình dục – đặc biệt là Trung Quốc, Cam-pu-chia, Malaysia, và Nga".
Nhiều nhà quan sát cho rằng khó biết được chính xác con số thực tế phụ nữ bị đưa bất hợp pháp sang Trung Quốc là bao nhiêu, vì tại nhiều vùng nghèo khó, xa xôi, nhiều trường hợp bị bắt cóc hay bị lừa sang Trung Quốc không được ghi nhận.
Theo giới chuyên gia và hoạt động nhân quyền, không chỉ Việt Nam, mà các phụ nữ Lào, Cam Bốt, Miến Điện hay Bắc Triều Tiên cũng là các nạn nhân của những đường dây buôn người đưa sang Trung Quốc, quốc gia đang ở trong tình trạng mất cân bằng dân số nghiêm trọng. Chính sách ép buộc mỗi gia đình chỉ được có một con và hủ tục trọng nam khinh nữ, khiến hàng triệu đàn ông Trung Quốc hiện nay không tìm được vợ, là hai trong số những nguyên nhân chính của tệ nạn này.
Ông Michael Brosowki, người sáng lập và chủ tịch Quỹ trẻ em Rồng Xanh (Blue Dragon Children's Fondation), một tổ chức phi chính phủ hoạt động tại Việt Nam, các phụ nữ Việt Nam thường bị bán sang Trung Quốc để làm vợ hay vào các động mại dâm, với khoản tiền lên tới 5.000 euro. Kể từ năm 2007, Hiệp hội Rồng Xanh đã giải cứu 71 phụ nữ, là nạn nhân « buôn người ». Một nỗ lực lớn nhưng ắt hẳn còn rất nhỏ so với số lượng nạn nhân.
Trong một thời gian dài, nạn buôn phụ nữ và trẻ em sang Trung Quốc không được chú ý thích đáng tại Việt Nam, trong khi đó, theo ông Phil Robertson, Giám đốc khu vực Châu Á của tổ chức Human Rights Watch : “Chính quyền Trung Quốc đã dìm vấn đề này trong im lặng”. Theo ghi nhận của một nhà hoạt động xã hội tại Việt Nam, chính quyền Trung Quốc rất ít hợp tác trong việc hỗ trợ tìm kiếm những người « bị bán » sang Trung Quốc.
Nghèo đói, bần cùng và sự lừa dối của người thân
Những lời kể của các nạn nhân được giải cứu trở về Việt Nam cho thấy, phụ nữ đặc biệt tại các vùng hẻo lánh thường là nạn nhân của các đường dây đưa người qua biên giới, bởi họ « thiếu thông tin » về hiểm họa đáng sợ này. Theo các nhà hoạt động xã hội, những kẻ mang lại tai họa cho các thiếu nữ rất thường khi là thân nhân hay bạn bè của chính nạn nhân.
AFP đã tiếp xúc với một số nạn nhân, trong đó có Kiab, một thiếu nữ H’mông, người vừa trở về Việt Nam, sau khi trải qua một tháng tại nhà « chồng », cho biết chính người anh trai đã lừa cô sang Trung Quốc để bán.
Hiện tại, rất nhiều gia đình các khu vực miền núi phía bắc Việt Nam nơm nớp sống trong nỗi lo sợ con gái, cháu gái trong gia đình bị bắt sang Trung Quốc.
Theo AFP, chính quyền Việt Nam cho biết đã tiến hành nhiều chương trình giáo dục tại các vùng nông thôn gần biên giới, để cảnh giác các em gái không nên tin vào những người lạ. Nhiều nhà hoạt động xã hội chống nạn buôn người tại Việt Nam ghi nhận, trong hiện tại, cảnh sát và chính quyền Việt Nam đã nhìn nhận « một cách rất nghiêm túc » về vấn đề này.
Ông Nguyễn Tường Long, Chi cục trưởng Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội Lào Cai, cho biết cuộc sống bần cùng, tình trạng thiếu đói là hoàn cảnh của hơn mười em gái các dân tộc thiểu số, vừa được giải cứu từ Trung Quốc, hiện đang được chăm sóc tại một trung tâm hỗ trợ của tỉnh. 
Một số nhóm xã hội chống nạn buôn người tại Việt Nam cho rằng, thật khó mà báo động được các thiếu nữ về các nguy cơ rình rập họ, khi như chính thân nhân và bạn bè lại thường là những kẻ cố tình « bán » đứng con em mình hay tiếp tay cho các đường dây buôn người. Nhiều người cho rằng cần có các trừng phạt nặng hơn đối với thủ phạm các đường dây buôn người, thậm chí cần truy tố và xét xử ngay tại địa phương, để nâng cao ý thức của cộng đồng.
Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em  rất trầm trọng tại Việt Nam, nhất là sang Trung Quốc, cần đến những phối hợp từ nhiều phía để có thể được ngăn chặn và đẩy lùi, đặc biệt những nỗ lực để nhận thức sâu hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn về thực trạng này.
Đưa người sang các ổ mãi dâm và các luồng nhập cư khác sang Trung Quốc. Ảnh UINIAP (United Nations Inter-Agency Project on Human Trafficking's)
tags: Châu Á - Theo dòng thời sự - Việt Nam - Trung Quốc - Hôn nhân - buôn người - Tội phạm - Biên giới

VIỆT - ÚC - Một Việt kiều Úc bị kết án tử hình vì ma túy

Thứ bảy 28 Tháng Sáu 2014
Tại Việt Nam, người sở hữu 600g heroin có nguy cơ bị lãnh án tử hình.(DR)
Tại Việt Nam, người sở hữu 600g heroin có nguy cơ bị lãnh án tử hình.(DR)

Thụy My RFI
Hãng tin AFP hôm nay 28/06/2014 cho biết, một Việt kiều Úc đã bị lãnh án tử hình vì toan mang ra khỏi Việt Nam 4 kí lô heroin. Ông Phạm Trung Dũng, 37 tuổi, đã bị bắt với hai chiếc va-li có chứa ma túy tại sân bay Tân Sơn Nhất, định về Úc cùng với vợ và hai con, vào tháng 5/2013.

Trước tòa án Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phạm Trung Dũng khai có hai người đàn ông không rõ lai lịch hứa trả 40.000 đô la để vận chuyển giùm heroin. 
Việt Nam là một trong những quốc gia có luật lệ nghiêm khắc nhất đối với tội buôn bán ma túy. Tất cả những ai bị bắt quả tang sở hữu từ 600g heroin trở lên hay 20kg thuốc phiện đều có thể bị lãnh án tử hình. Trong tháng Sáu, đã có 6 bị cáo bị kết án tử hình vì tội buôn ma túy. 
Theo báo chí và số liệu mà AFP có được, hiện đang có 700 tử tội đang chờ ngày bị hành quyết. Đa số bị án tử vì buôn bán, vận chuyển ma túy, trong đó có vài chục người nước ngoài. Từ tháng 7/2011, chính quyền Việt Nam đã thay thế việc xử bắn bằng biện pháp dùng thuốc độc, được cho là "nhân đạo" hơn.
tags: Úc - Việt Nam - Xã hội - Ma túy

Hai chữ Việt Nam - Phạm Minh-Tâm (Danlambao

Việt Nam, Việt Nam…
hai tiếng gọi thật êm đềm tha thiết
Nghe ngọt ngào nhưng buốt giá tận trong tim…

Người ta thường nói rằng thời gian là liều thuốc có thể chữa lành mọi vết thương nói chung, rồi khi vết thương lành thì hết đau… nhất là về tâm lý và tinh thần. Kinh nghiệm này đã sai đối với người Việt Nam và đặc biệt là khối người Việt Nam có tinh thần quốc gia sống trên phần lãnh thổ Miền Nam từ sau Hiệp định Genève.

Càng đọc kỹ lại lịch sử cận đại và nhìn vào hoàn cảnh đất nước hiện nay càng thấy rõ ràng là kể từ khi có cái chủ thuyết cộng sản du nhập, quê hương Việt Nam bắt đầu mang thêm tai ách của một cái nghiệp chướng bên cạnh những khổ nạn đến từ chế độ nô lệ ngoại lai. Miền Đất Mẹ chẳng những đã bị bầm giập với các vết thương do ngoại nhân chia cắt mà còn mỗi ngày thêm những vết nội thương nhức nhối hơn, bởi chính một số người Việt Nam vong thân, mất gốc gây nên. Cái số người này nếu còn có thể nói chung là “đồng bào”, là anh em theo nghĩa của huyền sử một bọc trăm trứng thì đấy chính là những đứa con bất hiếu, bất mục và phá gia chi tử… mà cứ động mở miệng ra thì toàn là lưỡi cú diều uốn nắn ngôn từ thành những khẩu hiệu trí trá như những vết cắn xước da, nát thịt anh em. Đến nay thì miền Đất Mẹ đã giống như một thân thể bị làm độc thành lở loét vì những vết thuơng do các đứa con mất nết kết bè lập đảng gây ra trong hơn ba phần tư thế kỷ nay. 

Cái mô hình xã hội chủ nghĩa mà ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã thêm vào hai chữ Việt Nam để cưỡng gán cho đất nước, dùng nó làm đạo bùa ma quái dối gạt bao lớp người Việt bấy lâu, nay chỉ còn là tờ văn tự bán nước với chữ ký của gần ba triệu đảng viên lớn nhỏ. Cái đám người cộng sản này đã biến hai chữ Việt Nam thành một nhãn hiệu thật tội nghiệp, thật đau xót cho tổ tiên, cho gần chín chục triệu con dân còn lại.

Những thứ phù phép chính trị của người cộng sản Việt Nam đã tận dụng như đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội bình đẳng giữa người với người để không còn bất công, bóc lột, đàn áp… vân vân… và… vân vân… giờ đây chỉ còn là sự thật trần trụi của cái bánh vẽ với các đường nét vụng về đã nhoè nhoẹt thành tỳ ố. Người dân đã nhìn thấy đủ hết hai mặt của một tấm phông vẽ. Những gì là thực sự bất công; là thực sự bóc lột; là những thủ đoạn nham hiểm và bạo lực để đàn áp dân chúng… cũng chính là nền tảng của chế độ hiện nay. Và cũng từ đó suy ra, bất cứ cái gì đã được nêu lên thành khẩu hiệu thì đó là cái không có thật trong cuộc sinh hoạt của xã hội Việt Nam kể từ khi những người cộng sản nắm quyến. 

Cho đến nay, khối dân tộc gần chín chục triệu đã chia nhau bao nhiêu kinh nghiệm xương máu với những ung nhọt càng ngày càng xưng tấy lên... cắn rứt hết những con người Việt Nam nào miệng còn thơm mùi sữa mẹ Âu cơ với một tấm lòng đầy trắc ẩn về tiền đồ của đất nước, của dân tộc. 

Ai đến miền Bắc Việt Nam sau năm 1954 và cả miền Nam sau năm 1975 đều nhận thấy cái khẩu hiệu “không có gì quý hơn độc lập, tự do” luôn luôn được đem vẽ vời ở khắp nơi; từ những mặt tiền cơ sở uy nghi bề thế của chế độ đến những bức tường loang lổ khắp hang cùng ngõ hẻm, quả là trâng tráo và mỉa mai. Nó chẳng khác gì một lời xác nhận với cả nước là thứ quý hiếm này ở đây không có đâu. Thành vậy mà phải có những người mạnh dạn quyết đòi cho có, quyết đấu tranh để tìm cho được cái thật hiếm hoi này.

Năm nay là năm thứ 39 Miền Nam tự do mất vào tay đảng cộng sản. Năm nay cũng là năm thứ 39 cả nước cùng chung nhau một cái ách bằng chữ nghĩa thậm xưng là “thống nhất” để cả nước khốn khổ; để cả nước dắt díu nhau làm nô lệ Tầu. Đã 39 năm những người Việt ở Miền Nam bỏ nước ra đi sống đời du mục kiểu mới; lang thang khắp cùng thế giới mà chưa có ngày về. 

Dân Do thái trong thời gian bị mất nước, lang thang đủ nơi xứ lạ quê xa nhưng chắc chắn họ không khi nào quên về thân phận của họ là những người dân mất nước. Bởi thế, như một nỗi thao thức khó nguôi, họ đã nhắc nhở cho nhau mối tình hoài hương bằng lời chào mang tròn ý ước hẹn “Năm tới ta về Jérusalem – L’an prochain à Jérusalem”. Thế rồi họ đã về, về trong vinh quang đẫm đầy mồ hôi, máu và nước mắt nóng. 

Chúng ta mỗi người Việt Nam, cách riêng người dân của phần đất tự do còn lại sau hiệp định chia cắt năm 1954, còn lại ở trong nước hay ngoài nước sau cuộc đổi đời 30/4/1975, tưởng cũng đã nếm đủ những tủi hờn nơi mỗi cuộc đời; đã đếm đủ những mất mát, những đổ vỡ từ hậu quả về một cuộc phế hưng của dân tộc và nhất là cũng thật thấm thía cho một bài học lịch sử với những giá trị bị lật ngược; những trật tự bị đảo lộn; những sinh hoạt nền tảng từ trong nhà đến ngoài xã hội; những mất còn rối tung… cứ như thời gian bị quay ngược vòng kim đồng hồ. Một bài học lịch sử vừa mở ra.

Các danh nhân như Winston Churchill hay George Santayana và nhiều người nữa đã từng chia sẻ chung một kinh nghiệm rằng “Những ai không học những kinh nghiệm từ lịch sử thì sẽ tái diễn nó”. Học không phải chỉ là nhớ suông hay để mang nặng hận thù mà là để nhắc nhở cho từng thế hệ kế thừa rằng gắn bó với quá khứ không phải chỉ để tự hào, hãnh diện về những chiến thắng kiêu hùng của tiền nhân anh dũng mà còn là cơ hội để những người trong hiện tại phải đấm ngực ăn năn về những điều ê chề đáng tủi hổ mà mỗi người đều chung trách nhiệm… để lấy đó làm gương mà giảm bớt đi những tai ương, những kiếp nạn có thể tránh cho đất nước. 

Bài học lịch sử của Việt Nam hiện nay không những chỉ học mà còn phải thuộc nằm lòng nữa. Học để rồi truyền lại cho con cháu như những bản chúc thư của hàng hàng lớp lớp người đã ngã xuống trên giải đất chữ S. Của cả một dân tộc đã nếm đủ mùi vị đau thương của chiến tranh vừa do ngoại bang xâm chiếm, nhưng cũng vừa bởi tham vọng của một số người đã làm nên trang sử nội chiến. Kết quả là đất nước như một thị trường bỏ ngỏ cho các siêu cường thi đua thử nghiệm và rao bán vũ khí. Như một tấm vải để người ta nhuộm thử mầu cờ sắc áo. 

Những người trẻ Việt Nam của thế hệ 1945 – 1975 đã phải oằn vai dưới gánh nặng của một giai đoạn lịch sử nghiệt ngã. Rồi sự chia cắt đã đem đến cuộc nội chiến tối tăm nhất của đất nước suốt 20 năm. Rồi chỉ thoáng một cái là nửa miền đất nước như rơi vào định mệnh giống như câu Thánh vịnh “con như người thợ dệt, đang mải dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ…” Song ở đây lại là một định mệnh không có phần tâm linh mà chỉ là những áp đặt oan khiên của trò chơi chính trị… Chỉ như một thoáng ngủ gục ơ hờ, một cái vấp chân vừa ngã xuống chưa kịp gượng dậy thì đã tối tăm cả mặt mũi vì cơn lốc chủ nghĩa trườn tới mà lúc mở được mắt ra nhìn mới biết rằng đã chậm. 

Bây giờ cũng đã 39 năm trôi qua và hình như cũng đã có những người không còn muốn nhớ gì nữa để buông bỏ quá khứ. Nếu chỉ nhìn cái mốc điểm 30/4/1975 như là một khúc quanh của lịch sử phải chấp nhận theo lẽ biến thiên thường tình thì xét cho cùng, người ta muốn quên cũng đúng thôi. Song nếu nhớ ra rằng cái ngày lịch sử này là kết quả tất yếu phải đến chỉ vì những quan niệm lầm lạc, những cố chấp không chính đáng theo phe nhóm, những tham vọng bất cập của cá nhân và tập thể, những tà niệm đầy sân si… mà đã chôn vùi miền tự do còn lại của đất nước vào chung một hố thẳm diệt vong thì có quyền quên hay không? Và tại sao lại phải quên khi vì vậy mà cả nước đã phải hấng chịu nó như là một thử thách của nhận thức, như một cái giá đã phải trả quá đắt về cái gọi là ý hệ này, ý thức nọ? Lại nữa, bản thân mình còn đây, con cháu mình đang cần phải được biết về một nguồn cội và dân tộc phải sinh tồn trong độc lập, tự do, no ấm thì có nên quên hay không? Thái độ buông xuôi của mỗi người phải chăng sẽ như lời Đức Hưng Đạo Vương kết tội là… "khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù…” vậy.

Ngày 30/4 năm tới là đúng 40 năm Miền Nam bị mất tự do, cả nước bị xiềng chung một cái cùm chủ nghĩa và gần chín chục triệu đồng bào mang danh con Hồng cháu Lạc sẽ bị chôn chung trong cái hố diệt vong. 

Tuy nhiên, hơn lúc nào hết, từ trong nước ra đến khắp nơi ở hải ngoại, căn bệnh thờ ơ, vô cảm vẫn đang lây lan và càng ngày càng phát tác như một khối u ác tính. Đây không đơn giản là một thứ dịch mà còn nguy hiểm hơn tội ác vì đã đồng loã với tập đoàn bán nước, buôn dân. 

Trong một năm này, ước chi mỗi người Việt Nam lưu vong khắp nơi trên thế giới sẽ chịu bắt đầu hỏi nhau khi gặp gỡ: “Bốn mươi năm rồi đủ chưa”.... Rồi từ câu hỏi này, sẽ tuỳ vào câu trả lời nơi thâm tâm mỗi người mà kết nên lời hẹn ước “Năm tới ta về Sài gòn, về Việt Nam” bằng quyết tâm như David Ben Gourion, thủ tướng đầu tiên của Do thái đã nói “Một quốc gia thì phải xây dựng bằng mồ hôi và nước mắt”.

Có vậy mới hy vọng hai chữ Việt Nam không còn bị ghép vào với những tên gọi đảng cộng sản hay nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa. Cùng trong một hướng tới này, các danh xưng cộng đồng Người Việt ở nơi này, nơi khác sẽ hân hoan góp vào cho hàng chữ Quốc gia Việt Nam được phục hưng trên trường quốc tế, như những vì sao đêm tắt đi nhường chỗ cho một ngôi sao mai bừng sáng.

Hiện Đại Hóa Và Dân Chủ - Nguyễn Cao Quyền

 June 28, 20140 Bình Luận
2014 APR 29 WE'RE THE WORLD.300
Hiện đại hóa là một thuật ngữ dùng để chỉ một tiến trình chuyển biến từ trạng thái cổ điển sang trạng thái hiện đại. Thuật ngữ này được dành cho các xã hội đang ở trong thời kỳ chuyển biến này.
Các sử gia liên hệ hiện tượng hiện đại hóa với các hiện tượng đô thị hóa, kỹ nghệ hóa và phổ quát hóa giáo dục. Khi hiện tượng hiện đại hóa xuất hiện trong một xã hội thì cá nhân càng ngày càng trở nên quan trọng và dần dần thay thế gia đình hay cộng đồng ở vị trí đơn vị chủ thể của xã hội (fundamental unit of society).
Lý thuyết hiện đại hóa thường được coi như “kim chỉ Nam” cho những quốc gia đang phát triển như trường hợp của Trung Quốc. Tác giả Gian Chungdan, trong tập nghiên cứu nhan đề “Chinese studies in history” (2009) viết: “Sự hiện đại hóa Trung Quốc phải được rút ra từ những kinh nghiệm và bài học của những quốc gia khác”. Khi tiến trình hiện đại hóa bắt đầu tác động thì các vấn đề tín ngưỡng và văn hóa dần dần trở thành kém giá trị.
Lý thuyết hiện đại hóa
Theo thuyết “hiện đại hóa” thì xã hội nào cũng có thể phát triển từ trạng thái “cổ điển” sang trạng thái “hiện đại” và sự chuyển biến đó thường đi theo một lộ trình. Quốc gia càng hiện đại bao nhiêu thì càng giàu mạnh bấy nhiêu, dân tộc được hưởng nhiều tự do hơn và mức sống của dân chúng cũng cao hơn. Hiện đại hóa có thể coi như một “tiến trình” hoặc một sự “công phá” (offensive) cũng không sai.
Trong ý nghĩa công phá nó bao gồm những phát triển và cơ hội cho con người định hình và kiểm soát, hay nói khác, những sự phát triển này có thể điều chỉnh và phê bình. Hiện đại hóa bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 19 nhưng chỉ trở thành một đề tài quen thuộc trong học giới kể từ thế kỷ 20. Hiện đại hóa đối nghịch với truyền thống vì truyền thống cản trở phát triển và tiến bộ.
Những người ủng hộ thuyết hiện đại hóa chia làm hai nhóm: nhóm lạc quan và nhóm bi quan. Người lạc quan tin rằng những trở ngại đối với tiến trình hiện đại hóa, nếu có, thì cũng chỉ là tạm thời và sẽ bị vượt qua. Người bi quan, trái lại, cho rằng những trở ngại đó khó lòng mà vượt thoát.
Hiện đại hóa trong thực tiễn
Hoa Kỳ
Vào đầu thế kỷ 20, nhóm cấp tiến tại Hoa Kỳ là những người chủ trương hiện đại hóa xông xáo nhất. Họ tin rằng khoa học kỹ thuật, chuyên môn và giáo dục là những giải pháp hữu hiệu cần áp dụng để giải quyết tình trạng yếu kém của một quốc gia.
Người Mỹ cấp tiến cổ võ quyết liệt sự mở mang và kỹ nghệ hóa đô thị. Họ tin tưởng vào khả năng của con người có thể cải tiến môi trường và điều kiện sống, có thể phát triển kinh tế và thăng tiến xã hội, có thể làm tốt hơn trong lãnh vực chuyên môn và trong lãnh vực cai trị. Hiện tượng hiện đại hóa tại Hoa Kỳ phát triển và thành công nhanh nhất.
Đức Quốc
German Sonderweg (con đường phát triển ngoại lệ của Đức) có một lịch sử sôi động. Các học giả cho rằng con đường đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến chủ nghĩa Quốc Xã và là thảm họa cho nước Đức vào giữa thế kỷ 20. Con đường đó bắt đầu từ 1860 đến 1890 khi hiện tượng hiện đại hóa bắt đầu xuất hiện.
Sonderweg không phải là con đường phát triển của Tây Phương. Hoàn cảnh đặc biệt về lịch sử của nước Đức và những sự kiện được coi như là những tiền đề đưa đến chủ nghĩa Quốc Xã đã là những trở lực cho vấn đề phát triển kinh tế và dân chủ và tạo điều kiện thuận lợi cho nạn phát xít lan tràn.
Mẫu hình Sonderweg đã là động lực thúc đẩy ba ngành nghiên cứu về lịch sử Đức Quốc hiện đại: lịch sử của thế kỷ 19; lịch sử của giai cấp tư sản; sự so sánh với các nước Tây Phương. Các nghiên cứu này, đến nay, đã được coi như chấm dứt. Tuy nhiên, người Đức vẫn chưa đưa ra được một giải thích thỏa đáng nào về hiện tương hiện đại hóa của quốc gia họ.
Pháp Quốc
Trong tác phẩm “ Sự hiện đại hóa của nước Pháp nông nhiệp 1880-1914” (The Modernization Of Rural France 1880-1914) (1976) tác giả Eugene Weber đã mô tả sự hiện đại hóa của nông thôn nước Pháp từ thời kỳ lạc hậu cô lập sang thời kỳ phát triển với một tinh thần quốc gia rõ rệt vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Ông nhấn mạnh đến vai trò của đường sắt, của các trường học cộng hòa, của chế độ động viên quân sự. Weber nhận xét là cho đến thời điểm 1900 thì tinh thần quốc gia của người Pháp phải được coi như rất yếu ớt tại các tỉnh lỵ. Tinh thần này chỉ được vực dậy đưới thời đệ tam cộng hòa. Quyển sách được hoan nghênh rộng rãi nhưng nhiều người cho rằng tinh thần quốc gia Pháp thật sự đã lan tỏa tới các tỉnh lỵ trước năm 1870.
Á Châu
Vấn đề hiện đại hóa của các nước Á Châu đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm. Sách vở đã nói nhiều về sự hiện đại hóa của Nhật Bản vào thế kỷ 19 dưới thời Minh Trị Thiên Hoàng, của Trung Quốc và Ấn Độ vào thế kỷ 20. Các cuộc nghiên cứu này đều mô tả sự du nhập các tiến trình phát triển khoa học và kỹ thuật vay mượn từ Phương Tây.
Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu đi vào tiến trình hiện đại hóa từ cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911, tức là từ khi nhà Thanh, triều đình cuối cùng của Trung Quốc chấm dứt. Trước khi triều đình này bị lật đổ, đã có một thời kỳ (1902-1908) trong đó nhà Thanh tiến hành một số cải cách theo mẩu hình của Tây Phương, nhưng những cải cách đó không những không thành công mà còn đưa đến hậu qủa là cuộc Cách Mạng Tân Hợi đã nổ ra.
Tiếp theo là Phong Trào Ngũ Tứ 4-5-1919 (May 4th Movement 1919). Cả cuộc Cách Mạng Tân Hợi lẫn Phong Trào Ngũ Tứ đều chủ trương hiện đại hóa. Tuy nhiên từ đầu thế kỷ 20 cho đến năm 1949 chiến tranh đã liên tục xảy ra (chiến tranh Trung-Nhật, chiến tranh Quốc-Cộng) nên tiến trình hiện đại hóa đã bị đình hoãn.
Khi Đảng CSTQ chiếm được chính quyền vào năm 1949, Mao Trạch Đông lấy Liên Xô làm mẫu hình để hiện đại hóa đất nước. Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại (1958-1961) bắt chước mẩu hình “kế hoạch ngũ niên của Liên Xô” để phát triển, kỹ nghệ hóa và tập thể hóa xã hội. Bước Nhảy Vọt thất bại và tiếp theo là cuộc Cách Mạng Văn Hóa (1966-1976) cũng thất bại theo.
Phải đợi đến khi Đặng Tiểu Bình lên ngôi (1978) và áp dụng chương trình “bốn hiện đại hóa”: nông nghiệp, kỹ nghệ, quốc phòng, khoa học kỹ thuật, dựa trên những mẩu hình của Tây Phương, thì công cuộc hiện đại hóa mới thành công. Đặng đã phi tập thề hóa kinh tế nông thôn, chấp nhận kinh tế tư nhân, thiết lập các khu kinh tế đặc biệt, kêu gọi đầu tư ngoại quốc và khuyến khích thị trường tự do.
Sau khi Đặng chết, những thế hệ tiếp theo cũng vẫn đi theo con đường mà Đặng đã vạch ra. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở thành kinh tế thị trường nhưng chế độ chính trị thì không có gì thay đổi. Đây là điểm đặc biệt của hiện tượng hiện đại hóa trên lãnh thổ Trung Hoa.
Sang thế kỷ 21, tiến trình hiện đại hóa này vẫn còn đang tiếp tục và Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới sau Hoa Kỳ. Nền kinh tế Trung Quốc hiện nay bắt đầu phải đối mặt với một với một số vấn đề nan giải như nạn tham nhũng lan rộng bất khả trị, hố cách biệt giàu nghèo ngày càng loãng rộng và ô nhiễm môi trường tác hại trầm trọng.
Đại Hàn Dân Quốc
Đại Hàn Dân Quốc bắt đầu hiện đại hóa từ thế kỷ 19. Những nhà cải cách lưỡng lự giữa hai mẫu hình: Hoa Kỳ và Nhật Bản. Phe cải cách được giáo dục bởi Tây Phương và theo Thiên Chúa Giáo nghiêng về mẫu hình của Hoa Kỳ nhưng họ chỉ là thiểu số. Đa số còn lại nghiêng về mẫu hình của Nhật Bản.
Nhìn chung thì mẫu hình hiện đại hóa của Nam Triều Tiên mang bốn sắc thái: hiện đại, thuộc địa, dân tộc và Thiên Chúa Giáo. Trong bốn sắc thái đó, hai dấu ấn Tây Phương (hiện đại) và Nhật Bản (thuộc địa) hiện lên rõ nét nhất. Giữa hai dấu ấn này ảnh hưởng của Đông Phương (Nhật Bản) có vẻ sâu đậm hơn nên tiến trình hiện đại hóa chuyển biến hơi chậm chạp.
Bắt đầu từ 1945, Hoa Kỳ đã có những phát triển tích cực nhằm giúp đỡ Nam Triều Tiên hiện đại hóa, biến Nam Triều Tiên thành một quốc gia-nhà nước (nation state) với một nền kinh tế năng động.
Những tác nhân đã đóng góp tích cực vào tiến trình hiện đại hóa Nam Triều Tiên, đến từ Hoa Kỳ gồm có: quân đội Hoa Kỳ, chương trình hợp tác kinh tế Hoa Kỳ-Triều Tiên, chương trình tái thiết Triều Tiên của Liên Hiệp Quốc và một số tổ chức phi chính phủ mang tên: The Presbyterian Church, The YMCA, Boy Scouts and The Ford Foundation.
Nhiều người Triều Tiên lưu vong sang California và Hawaii (Hoa Kỳ) cũng hồi hương và mang theo cung cách làm ăn hiện đại cho thương giới và cho chính phũ Đại Hàn Dân Quốc.
Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey)
Thổ Nhĩ Kỳ vào thời Mustapha Kemal Ataturk (1920-1930) đã tích cực lao mình vào một chương trình hiện đại hóa mang tên “Kemalism”. Hàng trăm học giả và chuyên viên Tây Phương đã tình nguyện sang giúp đỡ. Những người này cùng với những nhà trí thức Thổ đã triển khai một mẫu hình hiện đại hóa thành công.
Châu Mỹ La Tinh
Từ ngày thâu hồi độc lập các quốc gia Châu Mỹ La Tinh đã không để mất thời giờ và lao ngay vào vấn đề hiện đại hóa. Nhiều kế hoạch cụ thể đã được thi hành ngay từ năm 1964. Mặc dầu không tuyệt đối giống nhau, nhưng nhìn chung thì kế hoạch nào cũng bao gồm một số nét chính sau đây: đường hướng phát triển, kế hoạch nhà nước, vai trò của các chuyên gia và biện pháp ổn định chính trị. Tất cả các kế hoạch hiện đại hóa đều thành công và mang dấu ấn của những cải cách Tây Phương.
Hy Lạp (Greece)
Hiện tượng hiện đại hóa tại Hy Lạp xuất hiện bắt đầu từ thập kỷ 1960 trên hai lãnh vực nghệ thuật và khoa học kỹ thuật. Trên lãnh vực nghệ thuật, nhất là đối với các bộ môn âm nhạc, phim ảnh, ca nhạc, người ta thấy rõ rệt dấu ấn của ảnh hưởng Hoa Kỳ. Trên lãnh vực văn học cũng vậy, ảnh hưởng của Hoa Kỳ nổi trội nhất.
Cách mạng kỹ nghệ và sự cấp tiến hóa (radicalization) xã hội đã đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề phát triển. Nhìn chung tất cả các bộ môn như: hội họa, thơ văn, kiến trúc, chính trị và tôn giáo .. môn nào cũng tiến triển nhanh chóng, đồng bộ và trở nên phong phú kể từ khi Thế Chiến II chấm dứt.
Phi Châu (Africa)
Tại Phi Châu tiến trình hiện đại hóa phát triển chậm chạp và ảnh hưởng của nó không bao trùm mọi quốc gia trong phần đất này của thế giới. Tại một vài quốc gia, chẳng hạn như Nigeria vấn đề hiện đại hóa không những không làm lợi cho đất nước mà còn làm tiêu hao rất nhiều tài nguyên của quốc gia.
Tài nguyên dầu hỏa hoàn toàn ở trong tay các công ty ngoại quốc trong đó hãng SHELL là hãng quan trọng nhất. Nhờ các công ty này mà đất nước Nigeria được kỹ nghệ hóa một phần rất nhỏ và lợi tức khai thác dầu mỏ thu về chỉ là 1/15 lợi tức các công ty ngoại quốc được hưởng.
Thật ra những chuyển biến tại Phi Châu có nhiều phần là Tây Phương hóa hơn là hiện đại hóa. Khi thực dân Anh, Pháp sang đô hộ vùng này, họ xóa bỏ các bộ lạc và tập trung dân bản xứ thành từng quốc gia theo kiểu Tây Phương. Do đó mà ảnh hưởng của Tây Phương có phần áp đảo.
Các khu vực kinh tế (national park) được thành lập sau khi các bộ lạc bị giải tán. Vì có sự thay đổi này nên các nền văn hóa bộ lạc bị tiêu tan và các thế hệ cá nhân sau này hoàn toàn bị ảnh hưởng của Tây Phương. Sinh hoạt bộ lạc không còn nữa và thay thế vào đó là một lối sống hoàn toàn xa lạ nhập cảng từ các nước Anh và Pháp.
* * *
Hiện đại hóa và dân chủ
Các học giả cho rằng dân chủ luôn luôn đi theo hiện đại hóa, chỉ cách nhau bằng một thời gian hoặc dài hoặc ngắn. Các hiện tượng phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, đô thị hóa, bình dân hóa giáo dục và thịnh vượng gia tăng, đã quện chặt với nhau và trở thành yếu tố chính yếu thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước (Seymour Martin Lipset).
Luận thuyết này bị chỉ trích nhiều vào thập kỷ 1960. Các nhà phê bình cho rằng luận thuyết đó căn cứ quá nhiều vào lịch sử Âu Châu và không quan tâm gì mấy đến lịch sử của các nước thuộc thế giới thứ ba. Mặc dầu có sự phê bình này, sự xuất hiện gần đây của hiện tượng dân chủ tại Nam Triều Tiên, Đài Loan, Nam Phi đã củng cố lại phần nào giá trị của luận thuyết đó.
Tuy nhiên, nếu phân tích lịch sứ của nước Đức thì ta thấy là sau vụ hiện đại hóa vào thế kỷ 19, dân chủ đã không xuất hiện trong thế kỷ tiếp theo . Chính vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu khác (Inglehart &Welgel, 2009) ̣ cho rằng để dân chủ có thể xuất hiện, chỉ riêng yếu tố hiện đại hóa sẽ không đủ mà còn phải thêm cả hai yếu tố văn hóa và xã hội.
Nhà nghiên cứu Peerenborn (2008) thì thấy rằng phải thêm cả yếu tố pháp tri (rule of law) thì dân chủ mới chóng thành hình. Đồng thời cũng không loại bỏ được yếu tố sau cùng là: một mức độ nào đó về phát triển kinh tế. Philippines, Bangladesh, Thailand, Indonesia chưa thực sự trở thành dân chủ vì kinh tế chưa đạt được mức độ đòi hỏi. Một số quốc gia khác đang phát triển cũng ở trong tình trạng này.
Cuộc tranh luận về mối liên hệ giữa hiện đại hóa và dân chủ vẫn chưa chấm dứt. Hiện đại hóa là một ý niệm dễ gây lẫn lộn với Tây Phương hóa. Thật ra thì hiện đại hóa thường đòi hỏi phải gỡ bỏ nền văn hóa địa phương hay quốc gia để thay thế bằng một nền văn hóa mang nặng tính Tây Phương.
Giờ đây một phiên bản mới về hiện đại hóa đã xuất hiện và người ta đồng thời cũng đã chuyển đề tài tranh luận sang một lãnh vực khác: lãnh vực nhân quyền, song song với việc lấy trường hợp của Trung Quốc làm đối tượng nghiên cứu. Vấn đề này sẽ được bàn tới một cách rộng rãi hơn trong bài viết tiếp theo.
Nguyễn Cao Quyền
Tháng 6 năm 2014
 www.vietthuc.org

Friday, June 27, 2014

ĐIỂM BÁO RFI: PHÁP - VIỆT - Triệu phú gốc Việt tại Pháp muốn mua tháp Eiffel

Thứ sáu 27 Tháng Sáu 2014

Nhà triệu phú Pháp gốc Việt Chuc Hoang.
Nhà triệu phú Pháp gốc Việt Chuc Hoang.
DR

Thụy My
Phụ trang kinh tế của nhật báo Le Monde hôm nay có bài viết mang tựa đề « Chúc Hoàng, nhà triệu phú của tháp Eiffel » với giòng giới thiệu : « Ở tuổi 70, người kỹ sư Pháp gốc Việt kín tiếng ra khỏi bóng tối khi đưa ra đề nghị OPA đầu tiên » : ông muốn mua lại cổ phiếu của Công ty quản lý tháp Eiffel.

Dành hẳn một trang báo lớn cho bài viết, phía trên là chân dung nhà triệu phú gốc Việt mới chụp ngày 25/06/2014 tại Paris, Le Monde nhận định trong nhiều thập kỷ qua, ông Chúc Hoàng vẫn ẩn mình phía sau một số công ty như Tổng công ty thương mại Phương Đông, MI29 hay Quỹ địa ốc Wilson, nên ít ai chú ý đến.
Nhưng trong những năm gần đây, ông đã mua cổ phần của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, như Bigben Interactive, chuyên phân phối các món phụ kiện dành cho game video. Thế là ông Chúc Hoàng « bị » tạp chí kinh doanh Challenges phát hiện, tính toán giá trị các cổ phiếu của ông và xếp ông vào danh sách 200 doanh nhân giàu nhất nước Pháp.
Theo Challenges, doanh nhân gốc Việt này đứng thứ 176 với khối tài sản được ước tính khoảng 290 triệu euro. Nhưng Le Figaro cho rằng trên thực tế còn cao hơn nhiều vì tất cả những gì ông sở hữu chưa được xác định hết. Nhất là nhà triệu phú kín đáo đang chuẩn bị một hoạt động OPA, thuật ngữ tài chính để chỉ việc trả giá thu mua cổ phiếu nhằm nắm toàn quyền kiểm soát một công ty. Đích nhắm là một cái tên gây chấn động : Công ty tháp Eiffel !
Được thành lập để khai thác ngôi tháp nổi tiếng thế giới, công ty tháp Eiffel trở thành một công ty địa ốc sở hữu nhiều diện tích văn phòng ở Paris và vùng phụ cận, nhưng hiện nay đang ngập trong nợ nần. Cuối năm 2012, ông Chúc Hoàng bắt đầu quan tâm đến công ty này, tham gia góp vốn vào năm 2013.
Nhưng hai nhà lãnh đạo công ty đã bán lại cổ phần cho ông không giữ lời hứa trước đó là dành hai chỗ trong ban quản lý. Bất mãn trước thái độ ấy, ông kiện hai cựu lãnh đạo vì tham ô, khẳng định họ đã thủ lợi quá đáng. Và khi công ty SMABTP muốn nắm đa số cổ phần công ty tháp Eiffel, ông phản đối hoạt động OPA này bằng cách đề nghị mua lại với giá 344 triệu euro. Thế là SMABTP đành phải nâng giá cổ phiếu muốn mua lại là 58 euro/cổ phiếu, tăng 21%.
Là cổ đông lớn nhất đang nắm 30% vốn, ông Chúc Hoàng có thể thu được món lợi nhuận dồi dào. Nhưng ông vẫn chưa hề cho biết có từ bỏ ý định mua lại công ty hay không, để các đối thủ hồi hộp đến giờ phút chót. Luật sư của ông cho biết , nhà triệu phú chơi thuần thục môn bài tẩy từ năm lên 10 tuổi rất thích phân tích chiến lược và chiến thuật. Một người bạn cũ nhận xét: « Ông luôn luôn lật đi lật lại các phương án, chọn lựa cách tốt nhất và giữ được cái đầu lạnh, không biểu lộ buồn vui. Đối với công ty tháp Eiffel, ông muốn là người thắng lợi dù chọn giải pháp nào đi nữa ».
Le Monde cho rằng « Nhà triệu phú tháp Eiffel » sẽ là một danh xưng vẻ vang cho con người sinh ra cách ra Paris hàng 10.000 km, cụ thể là ở Thái Bình, có cha là thẩm phán thời Đông Dương thuộc Pháp. Sang du học ở Paris từ tuổi thiếu niên, ông tốt nghiệp trường Bách Khoa nổi tiếng của Pháp năm 1969. Chúc Hoàng kể : « Vì tôi có khuôn mặt châu Á nên đôi khi bị gọi là ‘người Hoa’, nhưng tôi là người Pháp gốc Việt ». Được tặng thưởng Bắc đẩu Bội tinh, hiện ông là một trong những nhà tài trợ chính của trường Bách Khoa, và một quỹ học bổng dành cho sinh viên Việt Nam đang mang tên ông.
Tờ báo kể lại quá trình gầy dựng nên gia sản : ông lần lượt mua lại các công ty đang lỗ lã, đến khi các đơn vị này làm ăn khấm khá trở lại thì ông trở nên giàu có. Lúc Tổng thống cánh tả François Mitterand được bầu lên năm 1981, Chúc Hoàng nói : « Cả đời tôi phải chạy trốn cộng sản. Lần này thì họ lại tóm được tôi, thế là hết ! ».
Ông bèn tìm cách bán đi những gì mình có, nhưng ông chỉ bán được một nửa tức nhượng lại quyền khai thác và vẫn sở hữu bất động sản. Thất bại này lại giúp ông giàu to, vì sau đó nếu giới chủ nước Pháp lao đao thì giá trị địa ốc lại tăng vùn vụt. Chúc Hoàng cười bảo: « Rốt cuộc, ông Mitterand đã cứu tôi ».
Tàu dọ thám Nga dòm ngó vùng biển nước Pháp
Nhật báo Le Figaro báo động « Các tàu gián điệp Nga ‘đánh hơi’ vùng duyên hải nước Pháp », cho rằng hai chiếc tàu Nga ngoài khơi Fos-sur-Mer mang hơi hướm của cuộc chiến tranh lạnh cũ.
Theo Le Figaro, đó là những người khách không mấy kín đáo và thật ra họ cũng chẳng thèm giấu diếm. Từ hôm 20/6, hai chiến hạm của Nga gồm một chiếc chuyên thu thập tin tức và tàu hộ tống, chiếc tàu chống tiềm thủy đĩnh Amiral Levchenko, đã hiện ngoài khơi Fos-sur-Mer, thuộc vùng Bouches-du-Rhône, cách duyên hải Pháp 18 hải lý. Do quy định lãnh hải quốc gia là 12 hải lý, sự hiện diện chưa từng có này không phải là bất hợp pháp.
Tuy nhiên, việc hai chiến hạm Nga xuất hiện tại vùng biển cận kề Địa Trung Hải không thể không quan tâm trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Ukraina, với sự căng thẳng giữa hải quân Nga và phương Tây, mang ra đại dương làn gió của cuộc chiến tranh lạnh trước đây. Một nguồn tin thông thạo nhận định : « Các chiến hạm này không hung hăng, nhưng cố tình phô trương. Rõ ràng Nga muốn gởi đến chúng ta một thông điệp, rằng họ cũng có thể làm những gì chúng ta làm được ».
Matxcơva trả đũa việc Pháp gởi đến Hắc Hải các tàu thám sát những hoạt động của Nga, phù hợp với Công ước quốc tế Montreux, cho phép các chiến hạm nước ngoài được triển khai tại vùng biển này trong thời gian không quá 21 ngày. Từ một, hai năm qua, hải quân Nga tăng cường hoạt động tại Địa Trung Hải. Còn hai chiếc tàu trên đây, theo Le Figaro, có thể đang theo dõi các tàu ngầm tấn công đậu ở căn cứ hải quân Toulon của Pháp, cách đó chỉ 75 hải lý.
Ai Cập : Nhà nước quân sự đi ngược lại Nhà nước pháp quyền
Nhìn sang Ai Cập, xã luận của Le Monde nói về « sự tùy tiện và bất công » tại đất nước Ả Rập lớn nhất thế giới này nhận định, chế độ mới của Thống chế Abdel Fattah Al Sissi không hề là một Nhà nước pháp quyền.
Nêu ra các bản án từ 7 đến 12 năm tù giam dành cho ba nhà báo của kênh truyền hình Al Jazira trong tuần này trong khi chẳng có chứng cớ nào rõ rệt, tờ báo cho rằng chính quyền Ai Cập trước hết muốn răn đe báo chí.
Bị bắt cách đây một năm, đó là những phóng viên kinh nghiệm : Peter Greste người Úc từng làm việc cho BBC, Mohamed Fahmy mang hai quốc tịch Canada và Ai Cập đã làm cho CNN và New York Times, Bahar Mohammed cộng tác với Asahi Shimbun của Nhật. Còn bốn sinh viên Ai Cập làm việc với họ bị phạt đến 7 năm tù giam. Mục tiêu thứ hai, theo Le Monde, là trả thù Qatar, vương quốc sở hữu kênh Al Jazira và tài trợ cho chính quyền Huynh đệ Hồi giáo trước đây.
Al Sissi đã thiết lập một chính quyền quân sự độc tài bên bờ sông Nil. Sự tùy tiện, hăm dọa, trấn áp đã trở thành chuyện thường ngày, nạn tra tấn quay trở lại, tư pháp nằm trong tay giới quân sự, các bản án tử hình được tuyên đến hàng trăm. Theo một tổ chức nhân quyền Ai Cập, hiện có 41.000 tù nhân chính trị, số khác cho rằng con số này là 16.000 người.
Mỹ-Iran : « Kẻ thù của kẻ thù ta là bạn ta »
Liên quan đến Cận Đông, bài bình luận của nhật báo Le Monde mang tựa đề « Washington – Teheran đang xích gần lại ? » so sánh ván cờ đảo lộn bất ngờ hiện nay khi Hoa Kỳ và kẻ thù truyền kiếp Iran lại đang có cùng một đối thủ là quân thánh chiến EIIL đang kiểm soát một phần Irak và Syria, với việc Nixon bắt tay Mao Trạch Đông để đối phó với Liên Xô cũ trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Iran là người bảo trợ chính quyền Bagdad và những thánh tích đạo Hồi siit, mà tổ chức Nhà nước Hồi giáo tại Irak và Trung Đông muốn trả đũa, còn Hoa Kỳ coi sự hiện diện của phe thánh chiến tại Cận Đông là mối đe dọa cho an ninh của mình. Mối nguy hiểm chung này cũng là mục tiêu chung của nước Cộng hòa Hồi giáo và « Đại Satan Mỹ ». Và vì EIIL cũng hoành hành tại Syria, nên hai cuộc nội chiến này cũng chỉ là một, mà một nhà báo Anh gọi là « Syrak ».
Viễn cảnh sự xích lại gần giữa Mỹ và Iran làm các đồng minh truyền thống của Hoa Kỳ tại Cận Đông lo ngại. Ả Rập Xê Út tố cáo Mỹ phản bội, còn Israel cho đây là vô trách nhiệm.
Suarez « nức tiếng giang hồ » vì đòn “cẩu xực”
Trên lãnh vực thể thao, cú ngoạm của cầu thủ vơ-đét Uruguay là Luis Suarez vào lưng một hậu vệ Ý trong trận đấu vòng loại World Cup với đội Ý hôm thứ Ba 24/6 không ngớt gây bàn tán trên mặt báo từ mấy ngày qua. Tờ Le Figaro có bài « Suarez, ‘kẻ ăn thịt người’ bị loại khỏi Cúp bóng đá thế giới », còn tờ Le Monde phân tích thêm về « Luis Suarez, người bị bệnh dại tái phạm của Uruguay ».
Tờ báo nhắc lại, trước đây Suarez đã có hai nạn nhân. Một là cầu thủ Maroc Otman Bakkal, bị cắn vào cổ, người thứ hai là hậu vệ người Sec của đội Chelsea, Branislav Ivanovic, bị ngoạm vào bắp tay. Theo bác sĩ Thomas Fawcett, chuyên gia tâm lý thể thao : « Đây không phải là hành động có tính toán, mà là một sự đáp trả do xúc động nhất thời, không suy nghĩ. Hành động cắn người thường là dấu hiệu của sự bất mãn, một cách trả lời tiêu cực khi căng thẳng lên đến cao độ ».
Không chỉ có chiêu « cẩu xực », mà Suarez cũng đã từng sử dụng « đôi bàn tay thần thánh » như Maradona, để chận đường bóng của đối thủ, khiến sau đó Uruguay thắng Ghana qua đá phạt đền trong trận tứ kết World Cup 2010, và Luis Suarez sau đó trở thành cầu thủ bị ghét nhất tại châu Phi. Lúc ở tuổi thiếu niên, anh chàng từng húc đầu vào bụng trong tài, sưu tập được nhiều thẻ vàng cùng với các bàn thắng ; và sau này đi đá các nơi cũng từng đánh nhau với huấn luyện viên và đồng đội. Nhưng chàng « bad boy » này cũng là tác giả nhiều cú ghi bàn đẹp, gây áp lực thường xuyên lên các hậu vệ đối thủ, nên việc Suarez bị kỷ luật sẽ là thiệt hại vô cùng lớn cho Uruguay.
tags: Việt Nam - Pháp - Châu Á - Kinh tế - Xã hội - Việt kiều - kinh doanh - Điểm báo - Cổ phiếu - Chứng khoán - Tài chính