Saturday, July 30, 2011

Giới quân đội Trung Quốc khẳng định cần ít nhất ba hàng không mẫu hạm

TRUNG QUỐC - 
Bài đăng : Thứ bảy 30 Tháng Bẩy 2011 - Sửa đổi lần cuối Thứ bảy 30 Tháng Bẩy 2011

Hàng không mẫu hạm "Varyag", ở cảng Đại Liên, 17/04/2011 (Reuters)
Hàng không mẫu hạm "Varyag", ở cảng Đại Liên, 17/04/2011 (Reuters)
 
Chỉ ít ngày sau khi Bộ Quốc phòng Trung Quốc thừa nhận đang đóng chiếc tàu sân bay đầu tiên, Bắc Kinh khẳng định thêm tham vọng phát triển hải quân qua tuyên bố của thiếu tướng La Viện, rằng Trung Quốc cần ít nhất hàng không mẫu hạm để bảo vệ lợi ích chiến lược của mình.
Nhật báo Tin tức Bắc Kinh trích lại phát biểu hôm qua của tướng La Viện một nhà nghiên cứu hàng đầu của Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc: « Nếu nhìn vào các nước láng giềng của chúng ta, Ấn Độ từ nay đến năm 2014 sẽ có ba tàu sân bay, Nhật Bản đến năm 2014 cũng sẽ có ba chiến hạm tương đương với tàu sân bay, vậy thì tôi cho rằng Trung Quốc phải có tối thiểu ba chiếc tàu sân bay nếu chúng ta muốn bảo vệ quyền và lợi ích hàng hải của mình một cách hiệu quả ».
Tham vọng có tàu sân bay của quân đội Trung Quốc đã được biết đến từ nhiều năm nay. Năm 1998, Bắc Kinh mua lại chiếc vỏ tàu sân bay cũ của Ukraina về để nâng cấp trang bị thành chiếc tầu sân bay đầu tiên của mình. Thời gian gần đây khi mà các tranh chấp trên biển giữa Trung Quốc với các nước láng giềng có chiều hướng gia tăng, thì Bắc Kinh liên tục đưa ra thông tin úp mở về việc hạ thủy con tàu sân bay đầu tiên này.
Trong bối cảnh các nước láng giềng của Trung Quốc đang lo ngại về việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự, kế họach đóng tàu sân bay sẽ càng làm rõ thêm hình ảnh một nước Trung Quốc hiếu chiến, vì vậy bộ Quốc phòng Trung Quốc đã phải công khai giải thích tham vọng đóng tàu sân bay của mình.
Hôm 27/7/2011, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cho biết nước này sẽ sử dụng chiếc tàu sân bay đầu tiên được nâng cấp từ vỏ tàu mua của Ukraine cho mục đích huấn luyện và nghiên cứu. Theo các nhà quan sát thì như vậy Trung Quốc đã công khai kế hoạch đóng tàu sân bay, và chắc sẽ không chỉ là một chiếc.
Trong một cuộc họp báo chung mới đây với Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Mike Mullen, Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức cho rằng việc cường quốc châu Á có một tàu sân bay là cần thiết và ông còn so sánh rằng Mỹ cũng đang có 11 hàng không mẫu hạm. "Trung Quốc là một nước lớn nhưng lại chỉ có một số chiếc tàu, mà hầu hết là loại nhỏ. Điều này không tương xứng với tầm vóc của một đất nước như Trung Quốc".
Nếu như thông tin xung quanh chiếc tàu sân bay đầu tiên đang được các nước láng giềng của Trung Quốc theo dõi với mối quan ngại đặc biệt, thì Hoa Kỳ, ngày hôm qua, đã hoan nghênh việc Trung Quốc công khai dự án tàu sân bay, coi đó là một bước tiến lớn tới sự minh bạch hơn giữa hai nước.

tags: Châu Á - Trung Cận Đông

Không thể chế hóa Hiến pháp quy định về biểu tình – Đó là lỗi của Nhà nước

Khánh An, phóng viên RFA

2011-07-30
“Biểu tình là quyền của công dân đã được quy định trong Hiến pháp Việt Nam. Việc không thể chế hóa Hiến pháp bằng những quy định cụ thể là lỗi của nhà nước” – Đó là khẳng định của TS Luật sư Trần Đình Triển trong cuộc trả lời phỏng vấn của Khánh An về khía cạnh luật pháp liên quan đến việc người dân xuống đường biểu tình và bị bắt bớ, đánh đập trong các chủ nhật vừa qua.
RFA screen shot
Đại úy công an tên Minh đứng trên xe đạp liên tục vào mặt một thanh niên đi biểu tình chống Trung Quốc hôm 17-07-2011 tại Hà Nội.

Vi phạm pháp luật

Trước hết, LS Trần Đình Triển cho biết việc bắt bớ, đặc biệt là hành động đạp vào mặt người đi biểu tình, của những người mang danh nghĩa là “thi hành công vụ” là một hành vi trái pháp luật. Ông nói:
bieutinh-5-thg-6-sgon-250.jpg
Sinh viên Paul Nguyễn Minh Nhật tham gia biểu tình bị bắt một cách thô bạo lên xe.(ngày 5 tháng 6, 2011). Source blog anhbasag.
LS Trần Đình Triển: Khi tổ quốc lâm nguy thì rất cần tiếng nói, những hành động của công dân. Việc người ta tụ tập để thể hiện tấm lòng của mình đối với quê hương, đất nước là những hành động hợp pháp và cần phải được tôn vinh. Nhưng trong trường hợp này họ thể hiện tấm lòng yêu nước của mình mà lại bị đối xử tàn tạ như vậy là hết sức đau buồn và hành vi đó là hành vi vi phạm pháp luật.
Chúng tôi rất trân trọng những việc làm công vụ. Công vụ là gì? Là phải đặt lợi ích của nhà nước lên trên hết. Ở đây, công vụ lại đi chống lại những hành động yêu đất nước mà đã được hiến pháp ghi nhận thì công vụ cái gì?
Thứ hai, việc công vụ thì phải có quyết định và phải nói cho dân biết họ đang thi hành công vụ. Nhưng ở đây lại mặc áo quần thường mà hành hạ dân như vậy thì đây là một sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Khánh An: Trong hành động vi phạm pháp luật này thì người điều động hay cơ quan quản lý có trách nhiệm như thế nào?
Nhưng ở đây lại mặc áo quần thường mà hành hạ dân như vậy thì đây là một sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
LS Trần Đình Triển
LS Trần Đình Triển: Về đường lối của đảng và pháp luật của nhà nước lâu nay chúng ta cũng thấy trên báo chí, kể cả công tác thanh tra, kiểm tra kiểm soát thì đều nói rằng cán bộ làm sai thì lãnh đạo cũng phải chịu trách nhiệm liên đới.
Trong hành động vừa rồi (đạp vào mặt người đi biểu tình), tôi thấy đã xảy ra cách đây vài tuần nhưng vẫn đang thấy một sự im ắng, chưa thấy khởi tố vụ án hay khởi tố bị can, cũng chưa thấy nêu lên sự việc cần phải xử lý thái độ của một nhóm người vừa qua chống lại tấm lòng yêu nước của người dân như thế nào. Trách nhiệm của người thủ trưởng, nếu như họ là cán bộ thì trách nhiệm của người lãnh đạo của cơ quan đó phải chịu trách nhiệm trước đảng, trước nhà nước, trước nhân dân như thế nào thì tôi vẫn chưa thấy thể hiện và chưa được thông tin.
Tôi thấy sự việc như vậy cần phải được làm sáng tỏ và công khai mạnh mẽ cho dân để chúng ta ngăn chặn những hành động mà tôi cho là côn đồ. Tôi dùng chữ “côn đồ” là bởi vì một hành vi giữa con người với con người mà giơ cả chân để đạp vào mặt một con người khác thì tôi cho rằng về mặt đạo đức là đã thoái hóa chứ đừng nói gì về mặt pháp luật thì đương nhiên là vi phạm rồi. Giữa con người với con người, tôi cảm thấy có một cái gì đó nó buồn và đau đáu trong tim. Ai nhìn thấy cảnh đó cũng khó mà cầm lại cảm xúc của mình.

Hành động côn đồ

Bieu-tinh-caminh-200.jpg
Đại úy công an tên Minh (đánh dấu đỏ), người đạp vào mặt anh Đức hôm 17/7/2011. RFA file
Khánh An: Vâng, luật sư có nhắc đến hành động “côn đồ” cũng như những nhóm người không phải là người “thi hành công vụ” nhưng lại được sử dụng trong việc giữ gìn trật tự an ninh và trấn áp người biểu tình, vậy theo luật sư, những hành động côn đồ hay những nhóm người không có trách nhiệm mà được sử dụng thì những mối nguy của nó là gì?
LS Trần Đình Triển: Chúng ta phải đặt ra ở đây một tầm nhìn. Việc người ta tập trung đông để phản đối sự xâm hấn của Trung Quốc trong thời gian qua là một hành động hợp hiến.
Thứ hai, tôi nghe qua thông tin và sự đồn đại trong nhân dân thì họ thể hiện tấm lòng của mình một cách hết sức văn minh bằng khẩu hiệu, rất trật tự, không gây nên một cái gì mất trật tự cả. Việc họ thể hiện tấm lòng yêu nước một cách êm ái như vậy mà kể cả nếu có những nhóm tội phạm lợi dụng vào trong đó để chống lại tấm lòng yêu nước của họ thì cần phải khởi tố vụ án và truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn nếu giả sử có những cán bộ được phân công nhiệm vụ để nhằm dẹp bỏ những việc thể hiện lòng yêu nước thì tôi cho rằng đó cũng là trái pháp luật.
Tôi dùng chữ “côn đồ” là bởi vì một hành vi giữa con người với con
người mà giơ cả chân để đạp vào mặt một con người khác thì tôi cho rằng
về mặt đạo đức là đã thoái hóa chứ đừng nói gì về mặt pháp luật thì
đương nhiên là vi phạm rồi.

LS Trần Đình Triển
Tóm lại, một là không phải công chức mà lợi dụng việc đó để chống lại lòng yêu nước của người dân thì cũng cần phải khởi tố, truy tố. Nếu là công chức mà không được công bố thông với dân họ là cán bộ thì người nào chỉ đạo việc đó, cư xử hành động với dân như vậy, thì cũng cần phải khởi tố để truy cứu trách nhiệm hình sự. Có như vậy, chúng ta mới gìn giữ được lòng yêu nước của người dân đối với từng tấc đất của tổ quốc.
Cũng đặt ra một vấn đề là nếu giả sử có người nào đó lợi dụng vào đám đông mà gây rối trật tự hay chống phá lại trật tự an toàn xã hội thì những người đó cũng cần phải xử lý. Nhưng xử lý cũng cần phải bằng những người cán bộ công chức thật sự để xử lý chứ không thể là người ta đang thể hiện tấm lòng yêu nước của mình mà đổ cho họ là gây rối trật tự hoặc làm việc nọ việc kia đánh đồng vào một mớ để xử lý dân như vậy là không thể chấp nhận được.
Khánh An: Trong trường hợp người bị hại, người bị đạp vào mặt, mà không khiếu kiện thì có cần phải đưa ra xét xử, điều tra vụ này không?
LS Trần Đình Triển: Quy định về việc xem xét những hành vi gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự nói chung, việc người bị hại có làm đơn hay không không phải là yếu tố bắt buộc, mà người ta phải thông qua nhiều nguồn thông tin khác mà nhân dân thấy rằng có những hành vi chống lại hay gây ra những điều nguy hại cho người khác thì cơ quan bảo vệ pháp luật phải có trách nhiệm xác minh, điều tra để xem xét, chứ không phải chỉ chờ người bị hại làm đơn.

Đã được ghi nhận trong điều 69 của Hiến pháp năm 1992

Biểu tình tại Hà Nội 24 tháng 7- AFP photo
Biểu tình tại Hà Nội 24 tháng 7- AFP photo
Khánh An: Dạ vâng, trong một số trả lời của các cơ quan chức năng đối với người biểu tình có nói hiện nay Việt Nam chưa có luật biểu tình, cho nên việc đi biểu tình là không được phép. Vậy theo luật sư, vấn đề luật biểu tình hiện nay ở Việt Nam đã có thể hiện hay chưa? Nhiều ý kiến cho rằng nhà nước nên chấp nhận biểu tình như là một quyền của công dân thì luật sư có ý kiến thế nào về việc này?
LS Trần Đình Triển: Nếu ai trả lời như thế thì tôi hoàn toàn bác bỏ. Ở Việt Nam, quy định về quyền được biểu tình của công dân được ghi nhận trong điều 69 của Hiến pháp năm 1992 là “công dân được quyền biểu tình theo quy định của pháp luật”. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, chỉ cần một câu đó thôi thì bản thân họ đã có quyền rồi. Còn việc thể chế hóa hiến pháp từ năm 1992 đến nay bằng một nghị định, pháp lệnh hay một đạo luật, đó là trách nhiệm của nhà nước.
Ở Việt Nam, quy định về quyền được biểu tình của công dân được ghi nhận
trong điều 69 của Hiến pháp năm 1992 là “công dân được quyền biểu tình
theo quy định của pháp luật”.

LS Trần Đình Triển
Nhà nước không công bố, không đưa ra những quy định cụ thể thì người dân được quyền căn cứ vào hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất là “quyền được biểu tình theo quy định của pháp luật” thì họ được quyền chứ không phải là không được quyền. Còn việc không thể chế hóa hiến pháp bằng những quy định cụ thể, đó là lỗi của nhà nước, của cơ quan làm luật, cơ quan quản lý nhà nước. Công dân chỉ biết thực hiện theo quy định của hiến pháp và hiến pháp đã có quy định. Cho nên nói rằng Việt Nam không có quy định (về việc biểu tình) là không đúng.
Khánh An: Vâng, Khánh An cám ơn LS. Trần Đình Triển rất nhiều.
Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/institutionalize-peoplesright-fordemo-kan-07302011152751.html

Những trở ngại của bản Thực hiện Tuyên bố về ứng xử Biển Đông

Việt Hà, phóng viên RFA

2011-07-30
Việc ASEAN và Trung Quốc ký bản hướng dẫn thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông gần đây được coi là một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng lòng tin giữa các bên nhằm hướng tới một bộ quy tắc về ứng xử có tính ràng buộc.
AFP
Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bên lề hội nghị trên đảo Bali vào ngày 22 Tháng Bảy năm 2011.
Giữa lúc những căng thẳng trên biển Đông vẫn chưa hoàn toàn lắng dịu, liệu những nỗ lực xây dựng lòng tin giữa các bên có thành hiện thực? Việt Hà có bài tìm hiểu và tường trình.
Bản hướng dẫn thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông ký hôm 21 tháng 7 vừa qua tại Bali, Indonesia được ca ngợi là một bước đột phá quan trọng nhằm làm giảm căng thẳng trong khu vực đang tăng cao. Bản hướng dẫn được coi là một trong các biện pháp nhằm xây dựng lòng tin giữa các bên, điều mà cả ASEAN và Trung Quốc đã tìm kiếm trong suốt một thời gian dài từ ngay trước khi bản tuyên bố về ứng xử của các bên (còn được gọi là DOC) được ký vào năm 2002.

Thiếu ràng buộc về pháp lý

Theo giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á, thì bản hướng dẫn này dù không có tính ràng buộc về pháp lý nhưng lại khuyến khích các nước tham gia vào các dự án nghiên cứu chung như một cách để xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn:
“Những người đưa ra bản hướng dẫn này đưa ra một số các dự án hợp tác và các biện pháp xây dựng lòng tin và những tuyên bố được đưa ra tại hội nghị các ngoại trưởng hay diễn đàn khu vực liên quan đến bản hướng dẫn này là kêu gọi các bên xây dựng lòng tin, hợp tác trong các dự án hàng hải, bảo vệ nguồn cá, môi trường. Đây là các ý tưởng mà một khi bạn có tham gia thì bạn sẽ có những mối lợi lớn hơn là các mâu thuẫn.”
001_GR257876-200.jpg
Bản đồ khu vực trong vùng biển Đông, nơi Chính phủ Philippines cho rằng các tàu quân sự Trung Quốc đã đổ vật liệu xây dựng trái phép.
Chỉ hơn một tuần sau khi bản hướng dẫn được ký, Philippines hôm 29 tháng 7 đã kêu gọi các nước ASEAN hợp tác phát triển trên khu vực đang tranh chấp trên biển Đông.
Người phát ngôn bộ Ngoại giao Philippines, Raul Hernandez thông báo đề xuất của Phi về việc xác định các khu vực không tranh chấp và đang tranh chấp. Theo đó các khu vực không tranh chấp và đã xác định thuộc chủ quyền nước nào thì nước đó được quyền khai thác toàn bộ, còn khu vực tranh chấp sẽ là khu vực hợp tác phát triển chung.
Đề nghị này của Phi phát xuất từ một tiền lệ hợp tác trước đó gây nhiều tranh cãi trên biển Đông.
Vào năm 1994, Philippines và Việt Nam đã ký tham gia hoạt động phối hợp nghiên cứu về khoa học trên biển Đông gọi tắt là JOMSRE. Đây được coi là một biện pháp xây dựng lòng tin giữa hai bên. Sau đó vào năm 2005, hai nước đồng ý hợp tác cùng với Trung Quốc trong hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển gọi tắt là JMSU.
Theo giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á, thì bản hướng dẫn này dù không có tính ràng buộc về pháp lý nhưng lại khuyến khích các nước tham gia vào các dự án nghiên cứu chung như một cách để xây dựng lòng tin.
Tuy nhiên vào tháng 6 năm 2008, sau 3 năm hợp tác nghiên cứu, dự án với Trung Quốc chấm dứt mà không được gia hạn bởi những khó khăn liên quan đến chủ quyền của các bên. Tại Philippines lúc đó đã có nhiều tiếng nói phản đối hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học chung này vì cho rằng đã vi phạm hiến pháp của Philippines.
Tổng thống Philippines Benigno Aquino trong bài phát biểu tại Bộ Ngoại giao hồi đầu tháng 7 đã nói việc chính quyền của bà tổng thống Arroyo cho phép Trung Quốc tham gia vào JMSU đã làm cho tình hình tại biển Đông thêm phức tạp và có nhiều nghi ngờ về tính hợp hiến của hoạt động này.
Người phát ngôn của Tổng thống Phi, Edwin Lacierda, hồi đầu tháng 7 cũng nói rằng hoạt động hợp tác chung JMSU từ năm 2005 đến 2008 đã cho Trung Quốc cơ hội vào Bãi Cỏ Rong thuộc Trường Sa mà Philippines đòi chủ quyền. Ông cho rằng những vụ lấn chiếm của Trung Quốc ở khu vực Trường Sa chỉ bắt đầu sau khi JMSU được ký kết.

Vấn đề đường lưỡi bò

luoi-bo-250.jpg
Bản đồ biển Đông với vùng “Lưỡi Bò” của Trung Quốc áp đặt. RFA graphic map.
Mặt khác, ngay cả nếu đề nghị mới về hợp tác phát triển của Philippines được ASEAN chấp nhận thì lại khó được Trung Quốc chấp nhận bởi vấn đề nằm ở cái lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông mà quốc tế thường gọi là đường đứt khúc 9 đoạn. Người phát ngôn của tổng thống Phi giải thích:
“Đường đứt khúc 9 đoạn cho phép Trung Quốc đòi chủ quyền trên vùng lãnh hải thuộc về Phippines. Nếu mà dựa vào lý thuyết của Trung Quốc (vùng lưỡi bò) thì họ cũng sẽ muốn đòi một phần chủ quyền của Phi. Và đó chính là mâu thuẫn.”
Theo quan điểm của Trung Quốc mà cùng phát triển trong khu vực đường lưỡi bò thì không chấp nhận được bởi các nước xung quanh, kể cả Việt Nam.
TS Trần Trường Thủy
Ngay chính một đại diện của Việt Nam là tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu biển Đông của Việt Nam cũng cho rằng vùng lưỡi bò mà Trung Quốc đòi chủ quyền là không thể chấp nhận được, dù Việt Nam có muốn nối lại các hoạt động nghiên cứu chung với Trung Quốc và các nước trong khu vực:
“Trong khi các bên không giải quyết được tranh chấp thì các bên cùng gác lại tranh chấp để cùng phát triển hay cùng khai thác các tiềm năng. Việt Nam đã tham gia rất nhiều và về nguyên tắc là ủng hộ các giải pháp cùng phát triển. Vấn đề là để tìm ra các khu vực cũng như phương thức hợp tác thì cần phải có sự đồng thuận của tất cả các bên liên quan. Theo quan điểm của Trung Quốc mà cùng phát triển trong khu vực đường lưỡi bò thì không chấp nhận được bởi các nước xung quanh, kể cả Việt Nam.”

Còn tùy thuộc vào Bắc Kinh

ministers-yang-jiechi-pham-gia-khiem-07212011-250.jpg
BT Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì (phải) bắt tay với BT Ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm (trái) tại Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN trên đảo Bali vào ngày 21 Tháng Bảy năm 2011. AFP photo.
Trong khi đó, những căng thẳng trên biển Đông trong những tháng đầu năm nay lại góp phần làm cho sự hợp tác phát triển trong khu vực này lại càng thêm khó khăn. Mở đầu là vụ tàu hải giám Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Philippines gần quần đảo Trường sa vào hồi tháng 3 năm nay. Tiếp đó vào các ngày 26 tháng 5 và 9 tháng 6, các tàu hải giám Trung Quốc liên tục cắt cáp các tàu thăm dò của Việt Nam trong khu vực 200 hải lý thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những sự kiện này đã kéo theo một loạt các phản ứng từ các nước có liên quan như các cuộc tập trận trên biển của Việt Nam và Philippines.
Giáo sư môn quan hệ quốc tế thuộc trường đại học De La Salle của Philippines, ông Renato Cruz De Castro cho rằng những căng thẳng này đang cản trở các hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học:
Điều đó có thể xảy ra nếu có sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên, nhưng với những gì đang diễn ra hiện tại thì sẽ phải mất rất nhiều thời gian và nỗ lực từ Trung Quốc thì mới có thể thực hiện được các hợp tác này.
GS Renato Cruz De Castro
“Điều đó có thể xảy ra nếu có sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên, nhưng với những gì đang diễn ra hiện tại thì sẽ phải mất rất nhiều thời gian và nỗ lực từ Trung Quốc thì mới có thể thực hiện được các hợp tác này. Chúng tôi không chống lại các hoạt động hợp tác nhưng để làm được phải có sự tin tưởng lẫn nhau. Cho nên theo tôi căng thẳng phải giảm trước khi chúng ta có được các hoạt động hợp tác chung như vậy.”
Bản hướng dẫn thực hiện tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông mặc dù được ca ngợi là một bước tiến quan trọng trong xây dựng lòng tin giữa các nước mà đặc biệt là giữa ASEAN và Trung Quốc nhưng lại không hẳn đã làm hài lòng các nước nhỏ bởi bản hướng dẫn hoàn toàn không có tính ràng buộc, và do đó không đảm bảo ngăn chặn được những hành động gây thêm căng thẳng trên biển Đông từ phía Trung Quốc.
Các phân tích gia cho rằng việc ký bản hướng dẫn này dù đã tạo ra một môi trường hợp tác nhưng để có thể thực sự xây dựng được lòng tin như mong muốn của những người soạn thảo thì mọi sự vẫn còn phụ thuộc vào ý muốn chính trị của Bắc Kinh.

Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/obstacles-to-confid-bldg-in-so-cn-sea-vha-07302011122544.html

Tỷ lệ sai – đúng của chóp bu

Gần đây, chỉ cần vào Google gõ cụm câu:“Sai thì phải sửa, làm 10 việc tốt cũng có thể có một việc sai. Nếu cách chức hết thì lấy ai làm việc. Cứ nói theo quy định của pháp luật, nhưng pháp luật cũng có cái đạo, cứ dẹp đi là bầu không kịp” thì sẽ thấy “tuyên ngôn sáng ngời” của ông Nguyễn Sinh Hùng – một chóp bu đương thời của Việt Nam, trong bộ tứ “Hùng – Dũng – Sang – Trọng”.


 
Câu này được nhiều người so sánh với câu nói bất hủ của cựu Thủ tướng thời Việt Nam Cộng hòa, Trần Văn Hương:“Trị hết tham nhũng thì lấy ai mà làm việc”.
 
Cái tỷ lệ mà ông Hùng đưa ra rất chi là ngoạn mục: làm 10 việc tốt có một việc sai.
 
Điều này giúp liên ta liên tưởng đến những con số cũng không kém khác mà ông từng đưa ra:“GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi”.
 
“Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050”. (Câu này cũng dễ dàng nhìn thấy xuất xứ trên Google)
 
Khoan hãy bàn đến việc làm thế nào để đưa ra được con số (vốn sinh tử) này, từ cảm tính cá nhân, hay từ một nghiên cứu khoa học nào đó.
 
Mà chúng ta hãy để ý đến cái tỷ lệ: 10 đúng 1 sai.
 
Có thật là 10 đúng 1 sai không? Hay 10 đúng thì cũng có 10 cái sai tương tự? Thậm chí sai đúng khó phân định, nhiều khi sai nhiều hơn đúng? Đã là cảm tính suy luận thì kiểu nào cũng được.
 
Nhưng ở đây, xin giả dụ cái tỷ lệ 10 đúng 1 sai này là hoàn toàn đúng. Thì câu hỏi đặt ra là: mỗi năm các vị chóp bu này làm được bao nhiêu việc tốt, việc đúng?
 
Thật là nghịch lý, khi mà người dân luôn trông chờ giới chóp bu của mình phải đúng và tốt, thì ở đây phải làm ngược lại. Bởi nếu chóp bu mỗi năm, hay mỗi nhiệm kì làm được 1.000 việc tốt, thì theo tỷ lệ này, người dân phải gánh thêm 100 việc sai.
 
Mà cái tốt bổ ích cho người dân ở đâu không thấy, trong khi cái xấu cái sai thì cứ lù lù ra đó, gây thiệt hại vô chừng. Vụ thua lổ của Vinashin hay việc tổ chức phung phí lễ hội 1.000 năm Thăng Long là một minh chứng nhãn tiền, chỉ cần một việc sai như vậy, người dân phải bù lổ với việc còng lưng đóng thuế.
 
Vậy thì bên cạnh 1 việc sai như Vinashin, 10 việc tốt của giới chóp bu là gì? Và liệu 10 việc tốt ấy, nếu có, nó có cứu vãn hay là cán cân với việc sai kia không?
 
Nhìn rộng ra, khi một vị Phó Thủ tướng (bây giờ là Chủ tịch Quốc hội) có thể hành xử kiểu: 10 đúng 1 sai, thì các chóp bu khác có được thụ hưởng tỷ lệ vàng này không? Đương nhiên là được, vì quyền lực được phân bổ, nên mỗi vị sẽ sai đúng trong khu vực quyền lực của mình. Tuy không thể hiện trực tiếp, nhưng họ được âm thầm cho thấy trong khu vực quyền lực riêng, mỗi người gần như bất khả xâm phạm. Bởi, Bộ Chính trị có bao nhiêu người thì ở đó có bấy nhiên gia trang quyền lực riêng. Tuy vậy, phe cánh vẫn được thể hiện, nên ngoài quyền lực riêng, họ còn chia ra vài ba nhóm quyền lực chung, nên ngoài các gia trang riêng, họ còn có các gia trang chung, mà chuyện sai đúng trong mỗi gia trang thiệt khó phân xử.
 
Kết quả của điều này càng cho thấy cái tỷ lệ mà ông Hùng đưa ra thật là ngoạn mục. Bởi, cùng trong Bộ Chính trị với nhau, nếu quyền lực giáo dục sai (mà thường là sai, đã quá rõ) thì quyền lực kinh tế hay các quyền lực khác có can thiệp hay can gián được không? gần như không. Bởi, như đã nói, ngoài thế giới quyền lực riêng, họ còn có các phe cánh quyền lực chung che chở, đâu dễ gì lên tiếng về nhau.
 
Chính vì vậy, khi mà chóp bu có một việc sai và được sửa sai trong “êm đềm”, thì các hệ thống quyền lực trực thuộc cũng sẽ “noi gương” để sai theo. Bởi, trong hệ thống lãnh đạo nhà nước độc quyền, làm đúng dễ có lợi cho dân, trong khi làm sai, thì chắc chắn chỉ có lợi cho riêng bộ máy cầm quyền hiện tại. Quan nhất thời (một vài nhiệm kì), nên sai mà không xử, tội gì không làm; cái khổ chỉ là ở “dân vạn đại”.
 
Năm 2006, khi Việt Nam rục rịch chuyện tinh giảm biên chế, ông Đặng Như Lợi (Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội) cho biết: “Hiện nay, công nhân viên chức hành chính sự nghiệp có khoảng 1.779.000 người, trong đó cán bộ công chức hành chính quản lý nhà nước, gồm Đảng, mặt trận, các tổ chức đoàn thể, kể cả cấp xã là khoảng gần 544.000 người. Số còn lại là các đơn vị sự nghiệp, gồm giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học… Dân số của ta 84 triệu dân, bộ máy gồm 544.000 người thì có gọi là cồng kềnh không?”
 
Gần 1,8 triệu nhân sự (số liệu năm 2006), nếu hưởng ứng theo lời kêu gọi của chóp bu, cứ làm 10 việc tốt thì có thể làm 1 việc sai, việc xấu? Thì mỗi năm chúng ta có bao nhiêu việc xấu, việc sai?
 
Giả dụ một con số khiêm nhường và lý tưởng, mỗi năm mỗi nhân sự nhà nước chỉ làm một việc sai, thì Việt Nam có khoảng 2 triệu việc sai. Dân số gần 90 triệu, chia bình quân, thì 45 người phải gánh một việc sai.
 
Tôi không biết ngoài xã hội có đúng với con số thuần túy tính toán này không, chứ bây giờ mà tìm một người dân không chịu tác động từ một việc sai của bộ máy nhà nước, thì e đỏ con mắt, vì quá khó.
 
Cái sai hiện diện nhiều đến mức mà người dân không còn tin và không còn nhìn thấy cái đúng ở đâu nữa. Vì sợ “bầu không kịp” (như lời ông Hùng), nên cái sai được ủng hộ để mà sai, hoặc cứ lấy đúng bù sai, nên việc sai vẫn cứ là miên viễn.
 
Cho nên, nhìn dưới góc độ “triết lý”, lời nói của ông Nguyễn Sinh Hùng thật sâu sắc, đầy thời sự tính, nó đúng như câu mà cổ nhân đã đúc kết: “Thượng bất chính, hạ tất loạn”.
 

SĨ PHU BẮC HÀ HAY SĨ PHU “BÁC” HỒ?!

Qua 7 cuộc xuống đường biểu tình phản đối việc Trung Cộng (TC) hống hách chiếm đất, lấn biển với sự “đồng thuận” của Đảng và Nhà Nước CSVN, có một ông”trí thức” ở hải ngoại viết bài “Sĩ phu Bắc Hà và phiên phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ 2-8-2011” kêu gọi “sĩ phu Bắc Hà” hãy chứng tỏ tư cách kẻ sĩ của tầng lớp “Sĩ Phu Bắc Hà” ngày nay nhân dịp xử phúc thẩm vụ án Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (CHHV) vào ngày mồng 2 tháng 8 năm 2011.
Không biết ở miền Bắc hiện nay có ai tự nhận mình là “Sĩ Phu Bắc Hà” – sẽ chứng minh “tư cách kẻ sĩ” theo lời kêu gọi của “ông trí thức” ở hải ngoại trong vụ toà án CSVN xử phúc thẩm Tiến sĩ CHHV hay không.
Bài viết này không có mục đích tranh luận mà chỉ muốn tìm hiểu hiện nay ở Việt Nam, nói chung, và ở miền Bắc, nói riêng, có còn những người được gọi là “Sĩ Phu” hay không?
*
Như nhiều người biết, ngay từ thập niên 50, những vị trí thức nổi tiếng tại Pháp đã về Việt Nam (VN) để kháng chiến chống Pháp theo lời kêu gọi của ông Hồ Chí Minh; nhưng tất cả đều bị bạc đãi, trù dập.
Nguyễn Hữu Đang, người xây dựng lễ đài để HCM đọc “Tuyên ngôn độc lập” đã bị tù đày vì vụ án Nhân văn – Giai phẩm. Về cuối đời đã “tạo” cho mình một nơi trú ẩn là một “lõm” vừa bằng thân mình ở cạnh một buội tre làng. Theo giải thích của ông, thì nơi đây cũng sẽ là nấm mồ của ông khi ông qua đời! Sinh kế của ông là lượm các bao thuốc lá để đổi cóc, nhái từ lũ trẻ để nấu bữa ăn hàng ngày.
Những kẻ dính líu đến vụ án Nhân văn Giai phẩm thì bị “đấu” không ông nào ngóc đầu lên được. Đến gần chết mới dám nói: “Bây giờ đã không còn sợ nữa” – như nhạc sĩ Văn Cao. 
Các trí thức như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, nhà nghiên cứu Triết học Marxsist Trần Đức Thảo thì bị Đảng trù dập tan nát cả cuộc đời và đã phải sống trong cảnh nghèo khổ cho đến chết (* Xin xem phụ bản về Trần Đức Thảo ở cuối bài viết này).  
Theo tác giả VHT thì:
“Sĩ phu Bắc Hà, là khái niệm chung chỉ người trí thức thời xưa ở Hà Nội, hay miền Bắc nói chung, trong thời kỳ phong kiến VN. Sở dĩ có khái niệm này, hay danh xưng trân trọng này, là vì họ biểu thị, ngay từ thời xưa, sự hiểu biết, trình độ nhận thức thế sự, đặc biệt nhất là sĩ khí của mình. Nhưng rồi thời đại của sĩ phu Bắc Hà cũng đã thật sự chấm dứt để chuyển thành “thời đại Hồ Chí Minh”. (do LM in đậm)
Thời đại Hồ Chí Minh có nghĩa là thời đại mới mà mọi người trong nước, nhất là người miền Bắc, người Hà Nội nói riêng, chỉ biết “nói theo” Bác, theo Đảng. Thế thì làm gì còn, và cần gì đâu, để cần có sĩ phu Bắc Hà nữa. Gần một thế kỷ qua, cũng đã chứng minh được hết mọi điều đó rồi còn gì”.
Thế nhưng tại sao “ông trí thức” tác giả bài “Sĩ phu Bắc Hà và phiên phúc thẩm Cù Huy Hà Vũ (2-8-2011)” lại đặt câu hỏi:
“Liệu rằng nỗi khiếp sợ đó ngày nay có còn đè bẹp được giới trí thức VN nói chung, hay giới “Sĩ phu Bắc Hà” nói riêng không?”
Và cũng chính tác giả “lên gân” tự trả lời:
“Chắc chắn là không! Bao nhiêu kiến nghị yêu cầu đảng thực hiện những chính sách cải tiến đất nước, bảo vệ tổ quốc, xây dựng đời sống nhân dân tốt đẹp hơn cho thấy giới trí thức VN ngày nay đã lộ bỏ được nỗi khiếp sợ đeo đẵng hằng mấy thập niên kỷ qua và dũng cảm đem kiến thức của mình vào đời sống”.
Không biết nhận xét của “ông trí thức” tác giả bài viết về “Sĩ phu Bắc Hà” có đúng hay không; nhưng Lão Móc biết, có một ông trí thức ở trong nước, ông viết bài tự nhận là mình sợ hãi và hèn là Giáo sư Hà Văn Thịnh.
Bài viết của ông này nguyên văn như sau:
“Cả tuần ngồi trên xe cùng sinh viên đi tham quan thực tế, mệt nên chỉ lướt qua mạng vài tin chính rồi lăn ra ngủ. Hôm nay thì có thì giờ nên xem đủ, xem hết những gì 7 ngày qua chưa xem. Đoạn băng do PGS TS NGĐ gửi qua email đã làm tôi không cầm được nước mắt. Vừa khóc, tôi vừa tự nhắc mình rằng đừng khóc kẻo người ta lại bảo ông điên này hay khóc.
Đó là những giọt nước mắt tủi hổ vì thấy mình không bằng lũ trẻ chi mươi mười lăm tuổi. Chúng nó hầu như chưa biết cách ăn mặc, chẳng hề biết cách tạo dáng, nhưng Dáng đứng Việt Nam của những đứa trẻ đó thì không bút mực nào tả nổi. May ra, chỉ có ống kính thần của các nhiếp ảnh gia mới làm cho lòng người xúc động đến thế. Vì chẳng biết gì về nghệ thuật nhiếp ảnh, tôi kính đề nghị nghệ sĩ nào có lòng , có tài hãy cho lên mạng một bức ảnh như thế để làm “Dáng đứng Việt Nam” cho thời đại mới. Tôi khóc vì đã quá hèn, không dám bỏ ra dù chỉ ít giờ ngày Chủ Nhật để đi cùng các cháu, các em biểu tình ở Hà Nội. Quá hèn vì không dám cổ vũ cho nghĩa cử biểu tình đúng đắn của bổn phận và trái tim ấy vì sợ mang tiếng kích động chống phá nhà nước XHCN.
Chao ôi, thật là buồn và đau đớn trong cái thời yêu nước phải xin phép, yêu nước phải sợ hãi, trí tuệ của hàng triệu người phải thua vua tập thể – những vị vua mà tài năng chưa hề được minh chứng bao giờ!
Tôi chưa thấy thời nào mà lũ trí thức chúng tôi ươn hèn đến thế. Xã hội đầy rẫy những cái sai nhưng nói đến cái sai thì hầu như ai cũng phải nhìn quanh và phải thầm thì.
Những người bạn của tôi như PGS TS TTTL, PGS TS ĐB… thì nói rằng phản đối những cái sai là ngu ngốc, là bẻ nạng chống trời, là “có thay đổi được gì đâu”. Tôi đã khóc vì thấy mình ngu xuẩn. Ừ, tại sao không lo bảo vệ cái bát cơm của mình mà lại đi lo chuyện đâu đâu? Tôi đã khóc vì thấy mình không bằng lũ trẻ. Chúng nó hồn nhiên vô tư đến thế (BBC cho biết nhiều ông bố bà mẹ khuyến khích con đi biểu tình yêu nước). Thật đáng tự hào khi có những người bố, người mẹ và những đứa con như thế. Nếu Tổ quốc Việt Nam có hàng triệu người như thế thì làm sao có thể run rẩy và khiếp sợ trước cái ác, cái ngu cứ nhũng nhiễu, hoành hành?
Tôi đã khóc vì muôn điều khó nói. Nhưng, sau khi lau nước mắt, tôi đã mỉm cười. Cười vì thấy bình minh đang tỏa rạng. Mặt trời đang lên. Tôi muốn nó sẽ sáng bừng ngay nhưng đó chỉ là ước mong. Cái gì cũng có thời gian và cái giá của nó: Mặt trời “mọc” được là nhờ sự vận động của hàng triệu thiên thể. Trong cái hằng hà sa số của tổng thể “xã hội” tự nhiên ấy, không “ai” có quyền đứng yên. Tất nhiên, giống như xã hội loài người, các thiên thể lớn hơn sẽ luôn có vai trò quan trọng hơn. Chẳng hạn, nếu trí thức mà tham tiền, ngậm miệng thì ai sẽ mở miệng cho đây? Tôi đã khóc vì xấu hổ khi phải thú nhận rằng mình ích kỷ và sợ hãi”.
(Tôi đã khóc, Hà Văn Thịnh, Qui Nhơn ngày 26-7-2011).   
*
Chuyện gì mà tréo cẳng ngổng như thế?
-“Ông trí thức” hải ngoại thì nhất định là có “Sĩ phu Bắc Hà” và  theo bài  viết của ông ta thì: “nỗi khiếp sợ ngày nào không còn đè bẹp được giới “sĩ phu Bắc Hà”.
-Ông trí thức VHT thì bảo làm gì còn có “Sĩ phu Bắc Hà” trong cái mà ông ta gọi là “thời đại Hồ Chí Minh” là thời đại mà mọi người đều phải nói theo Bác và Đảng”; tức là không phải là “Sĩ phu Bắc Hà” mà là “Sĩ phu “Bác” Hồ”!
-Ông Giáo sư Hà Văn Thịnh thì viết hẳn ra giấy trắng mực đen là: “Tôi đã khóc vì xấu hổ khi phải thú nhận rằng mình ích kỷ và sợ hãi”.
Như vậy dân đen chúng tôi không biết phải gọi các vị trí thức tham dư 7 cuộc biểu tình vừa qua tại Hà Nội bằng danh xưng nào: 
SĨ PHU BẮC HÀ hay SĨ PHU “BÁC” HỒ?!
LÃO MÓC

PHỤ BẢN:
TRẦN ĐỨC THẢO, NGƯỜI TRÍ THỨC LẦM ĐƯỜNG!
NGUYỄN THIẾU NHẪN
Cách đây 18 năm, ngày 28-4-1993, trước linh cửu của giáo sư Trần Đức Thảo, Trịnh Ngọc Thái, Đại sứ của Hà Nội tại Paris đã đọc một thông báo vừa được Hà Nội gửi qua, nguyên văn như sau:
“Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học Tổng hợp cùng di quyến thương tiếc loan tin: Giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo sinh năm 1917 tại xã Phong Tháp, Từ Sơn, Hà Bắc, nguyên Đại diện Việt kiều tại Pháp, Ủy viên ban Liên viện Paris, thành viên ban Phụ trách Nghiên cứu Sử Địa, giáo sư trường Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Hà Nội, chuyên viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chuyên viên cấp cao của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Huân chương Độc lập hạng nhì, đã nghỉ hưu, sau một thời gian lâm bệnh đã được Đại sứ nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc, nhưng do tuổi cao bệnh nặng, đã từ trần vào lúc 8 giờ 10 phút, giờ Paris tại bệnh viện Broussais Paris, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ hỏa táng tại Paris ngày 28-4-93, lễ truy điệu giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo được cử hành lúc 10 giờ ngày 28-4-93 tại giảng đường trường đại học Tổng hợp Hà Nội”.
Giáo sư Trần Đức Thảo là một nhà Triết học nổi tiếng. Theo cuốn “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, học giả Hoàng Văn Chí kể rằng: Trần Đức Thảo là con cụ Trần Đức Tiến, một tiểu công chức tòng sự tại sở Bưu Điện Hà Nội. Lúc còn trẻ học ở Lycée Albert Sarraut ông tỏ ra hết sức thông minh. Các thầy dạy ông, nhất là giáo sư Ner đã phải kêu lên là không chấm nỗi bài của ông.  Ông đỗ Tú tài Pháp, ban Triết học năm 1935. Năm sau ông đỗ đầu trong kỳ thi vào Normal Supérieure ở bên Pháp. Sau đó ông đỗ Thạc sĩ Triết học và dạy ở Đại học Sorbonne.
Những tài liệu này có một vài chi tiết hơi khác với các nguồn tài liệu khác.
Lúc đầu ông theo chủ nghĩa Existentialisme của Jean Paul Sartre, nhưng từ năm 1946, ông thiên về chủ nghĩa Marx và gia nhập đảng Cộng sản Pháp. Trong một cuộc phỏng vấn, ông cho biết: “Tôi là người nghiên cứu về chủ nghĩa Marx, tôi không phải là người Cộng sản, tôi không hề xin vào đảng Cộng sản Việt Nam”.
Nhưng có một điều chúng ta có thể khẳng định mà không sợ nhầm lẫn là: Trần Đức Thảo là một người yêu nước. Năm 1945, khi thực dân Pháp chuẩn bị trở lại Đông Dương, trong một cuộc họp báo, một ký giả Pháp đã hỏi ông:
“Nếu mai đây quân đội Pháp trở lại Đông Dương thì họ sẽ được dân chúng Đông Dương đón tiếp ra sao?”
Ông đã trả lời không do dự: “Bằng những phát súng”.
Câu trả lời trên đã nói lên tâm tư của ông đối với đất nước, và đã trở thành hiện thực. Quân đội Pháp đã phải đối đầu với cuộc kháng chiến của toàn dân Việt Nam, mở đầu với những phát súng ngày 23-9-1945 tại Sàigòn.  
Nhưng cũng vì câu trả lời này mà ông và một số thân hữu đã bị chính quyền của De Gaule bắt giam vào khám lớn La Santé trong ba tháng. Khi còn trong tù ông đã viết một bài báo nhan đề “Về vấn đề Đông Dương” gửi đăng trên tờ Les Temps Modernes, là một tờ báo chuyên về văn chương và triết học của phe tả (số ra tháng 2 năm 1946).
Đầu thập niên 50, dư luận đặc biệt chú ý tới 5 buổi tranh luận giữa Jean Paul Sartre và Trần Đức Thảo. Cuộc tranh luận giữa hai triết gia nổi tiếng này, đã được thỏa thuận trước là sẽ ghi lại và xuất bản, theo nguyên văn cuộc tranh luận giữa hai người. Nhưng cuộc tranh luận đã đi đến chỗ gay gắt vì những bất đồng ý kiến quá cách biệt giữa đôi bên. Việc xuất bản do đó bị ngưng lại và đưa đến việc thưa kiện giữa hai người.
Vụ thưa kiện đang được Toà án thụ lý thì Trần Đức Thảo quyết định về nước trực tiếp chống Pháp. Vì theo ông: “… Chiến tranh đã bùng nổ ngày càng căng thẳng… thế nên sau nhiều đêm suy nghĩ đắn đo, tôi quyết định bỏ hết để đi về”. Và ông đã về thật, bỏ hết quyền lợi vật chất và danh vọng. Những bạn bè thân thiết cho đây là một quyết định sai lầm, vì liệu một nhà nghiên cứu triết học sẽ làm được gì trong bưng biền kháng chiến vất vả và eo hẹp. Ông cũng đã nghĩ đến điều đó và ông tâm sự: “Nếu chuyến trở về này mà không làm được gì thì cuộc đời tôi kể như chết từ hôm nay”. Rồi ông rời Paris đi Prague, thủ đô Tiệp Khắc, qua Moscow, Bắc Kinh về Việt Bắc. Đó là thời điểm cuối năm 1951.
Và đây, Tô Hoài kể về những ngày đầu của nhà nghiên cứu Triết học Marxist Trần Đức Thảo ở Việt Bắc:
“… Trần Đức Thảo ở Pháp về Việt Bắc… Trần Đức Thảo còn viết cả bài quy định giai cấp tiểu thương, tiểu chủ cho các nhân vật Thúc Sinh, Mã Giám Sinh trong truyện Kiều. Trần Đức Thảo hồn nhiên, hăng hái bằng các sinh hoạt của anh lúc ấy. Thảo đem cho hết đồ Tây, Thảo mặc áo nâu, đi chân đất. Chúng tôi ngủ không màn, mặc dầu chúng tôi ở rừng đầu sông Lô, đêm đến muỗi nhiều như trấu. “Về muộn mà, tớ phải luyện tập gian khổ cho kịp với các cậu”. Trần Đức Thảo nói đứng đắn thế. Chẳng bao lâu, Thảo lăn đùng ra sốt rét xanh tái…” (Tô Hoài, Cát Bụi Chân Ai).
Nhưng cũng trong lúc đó, ông cũng choáng váng trước “hiện thực Marxist” mà ông lần đầu tiên tiếp xúc. Trước hết, ông nhận ra rằng những người lãnh đạo ở Việt Bắc lúc ấy không coi ông là người trong tổ chức của họ. Ông được giao cho những công tác lặt vặt và trái chuyên môn. Qua năm 1953, ông được bố trí cho ngồi dịch các bài nói, bài viết của Trường Chinh, người lúc ấy đang được coi là lý thuyết gia số một của Đảng. Và cũng từ mùa hè 1953 ông trực tiếp tham gia cuộc “chỉnh huấn” dưới sự cố vấn của các cán bộ Trung Quốc. Quan điểm thịnh hành lúc bấy giờ của cuộc “chỉnh huấn” và “cải cách ruộng đất” ở vùng do Việt Minh kiểm soát là quan điểm hoàn toàn Maoist, rập khuôn Trung Quốc.
Trước những hành động cuồng tín của một số cán bộ cấp trung và cấp thấp, khi gặp những lãnh tụ tương đối có trình độ, ông mạnh dạn đặt vấn đề thì được họ phũ phàng trả lời: “Đó là ý kiến của lãnh đạo, phải tuyệt đối chấp hành, còn thắc mắc tức là có tư tưởng lệch lạc”.
Về Hà Nội, Trần Đức Thảo được cử giữ chức Chủ nhiệm khoa Sử trường Đại học Hà Nội. Cuối năm 1956, một người trong nhóm “Nhân văn” là Nguyễn Hữu Đang (người đã dựng lễ đài Độc Lập tại Hà Nội năm 1945) đến gặp Trần Đức Thảo và nhờ viết bài. Ông nhận lời, và trên Nhân văn số 3, ngày 15-10-1956, có bài viết của ông nhan đề “Nỗ lực phát triển Tự do, Dân chủ”. Tiếp theo đó là bài “Nội dung Xã hội và hình thức Tự do” trên “Giai phẩm mùa Đông”. Hai bài viết có tác dụng như hai quả bom nổ giữa lòng Hà Nội. Ngay lập tức ông bị cách chức, bị lôi ra kiểm điểm cùng với tất cả những ai có liên quan đến “Nhân văn” và “Giai phẩm mùa Đông” như Trần Dần, Phùng Quán, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trương Tửu, Lê Đạt… Cá nhân Trần Đức Thảo nói riêng và nhóm “Nhân văn – Giai phẩm” nói chung bị bọn văn nô, bồi bút theo lệnh Đảng tấn công liên tục suốt hai năm trời.
Phạm Huy Thông, tiến sĩ, một trong những trí thức hàng đầu của miền Bắc lúc bấy giờ đã viết bài: “Một triết gia phản bội chân lý: Trần Đức Thảo” đăng trên báo Nhân Dân số ra ngày 4-5-1958, lúc cuộc đấu tố bước vào thời kỳ cao điểm. Bài viết buộc tội Trần Đức Thảo hết sức gay gắt, nhiều chi tiết bịa đặt, dựng đứng để bôi xấu cá nhân ông:
“… Thật ra thành tích học thuật cũng như thành tích chính trị của Thảo ở Pháp trước đây, nhìn lại toàn là những thành tích bất hảo. Mất gốc rễ dân tộc, Thảo chỉ say mê với văn học Hy Lạp, với triết học duy tâm từ Pờ-la-tông đến Hê-ghen với những phương pháp suy luận trừu tượng, hình thức. Trở nên môn đệ của Giăng-Pôn-Xác, Thảo đã tham gia những hoạt động văn hóa và chính trị phản động của nhóm Thời Nay, do Xác chỉ huy, nêu cao thuyết “sinh tồn” – một thuyết phản động về triết học và chính trị, chủ yếu nhằm chống lại phong trào cộng sản ở các nước phương Tây. Dưới chiêu bài sinh tồn, người ta thấy tập họp đủ mọi hạng phá hoại, Tờ-rốt-kít vô chính phủ cùng mọi cở sa đọa về chính trị…” (Phạm Huy Thông, bài báo đã dẫn).
Nhưng nhà trí thức Phạm Huy Thông, một người từng du học ở Pháp, đã không dừng lại ở đó:
“… Ngay từ năm 1945, Thảo công kích những người đem tư tưởng Marxist truyền bá cho kiều bào, công nhân, cho rằng công nhân không có văn hóa, không tiếp thu được hay tiếp thu một cách máy móc thì nguy hiểm… Thảo phỉ báng chính sách ngoại giao của ta mà Thảo cho là đầu hàng, phản bội. Nói về hiệp ước sơ bộ 6-3-1945, Thảo đã phụ họa với bè lũ Tơ-rốt-kít chống lại chính phủ của ta và đã thốt ra những lời thóa mạ thô bỉ, rất hỗn xược đối với các lãnh tụ của ta… Bọn Tơ-rốt-kít đã có lần gây một vụ đổ máu thê thảm ở trại Ma-đát gần Mác-Xây, để đe dọa những kiều bào ủng hộ kháng chiến, khiến hàng chục kiều bào thiệt mạng, hàng trăm kiều bào bị tàn phế, thương tật. Nhiều người đã lên tiếng nói rằng không phải Thảo không có trách nhiệm gì trong vụ khiêu khích bẩn thỉu này…” (PHT, bbđd).  
Sau khi nói xấu Trần Đức Thảo đủ điều (mà chúng tôi không thể nêu hết ra đây), Phạm Huy Thông xoay ra “chụp mũ, quy kết chính trị” nhà triết học này:
“… Mùa Thu 1956, tưởng thời cơ đã đến. Từ số 3 trở đi, báo Nhân văn chuyển hướng sang chính trị một cách rõ rệt. Bài “Nỗ lực phát triển tự do, dân chủ” của Trần Đức Thảo được đăng trong số báo ấy, mở đầu cho sự chuyển hướng và được nhóm Nhân văn coi như cương lĩnh của mình… Trần Đức Thảo ở trong đại học và ở ngoài đại học lúc nào cũng lớn tiếng đòi trả chuyên môn cho chuyên môn, đòi trục xuất chính trị ra khỏi chuyên môn… Qua thư của Hoàng Cầm và nhiều tài liệu khác nữa, cho thấy đường lối chính trị của nhóm Nhân văn là do Trần Đức Thảo trực tiếp và chủ yếu vạch ra…” (PHT, bbđd).
Ta thấy rõ ông trí thức Phạm Huy Thông đã tự đánh mất những liêm sỉ tối thiểu của một nhà trí thức khi dựng đúng những chi tiết mà chỉ cần đọc lướt qua, ai cũng thấy ngay là bịa đặt.
Tố Hữu, người chỉ đạo công tác tư tưởng và văn hóa, văn nghệ thời bấy giờ, phụ trách việc đấu tố triệt hạ nhóm “Nhân văn – Giai phẩm”. Trong bài đấu tố nhóm này, ông cai thầu văn hóa, văn nghệ đã nhiều lần nhắc đến tên Trần Đức Thảo:
“… Chúng vu khống Đảng ta là ‘chủ nghĩa cộng sản phong kiến’ bóp nghẹt tự do, chúng vu khống những người cộng sản là ‘khổng lồ không tim’ chà đạp con người… xuyên tạc những quan hệ giai cấp trong xã hội, Trần Đức Thảo cũng đã cố tạo thế đối lập giữa lãnh đạo ‘kìm hãm tự do’ và quần chúng lao động ‘đòi tự do’… Tất cả những luận điệu của chúng rõ ràng không nhằm mục đích nào khác là chống lại lợi ích của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, kích thích chủ nghĩa cá nhân thối nát, tạo nên miếng đất tốt cho những hoạt động khiêu khích, phá hoại của chúng, hòng làm thất bại cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc…” (Tố Hữu, Báo cáo tổng kết cuộc tranh đấu chống nhóm phá hoại “Nhân văn – Giai phẩm” trong hội nghị Ban chấp hành hội Liên Hiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam họp lần thứ III tại Hà Nội ngày 4-6-1958). 
Đó không phải là lần nhắc đến tên Trần Đức Thảo duy nhất trong bài nói của Tố Hữu. Ở một đoạn khác, Tố Hữu nói:
“… Trần Đức Thảo cố bịa ra cái “hạt nhân duy lý”, là một hỏa mù cốt để xóa nhòa ranh giới giữa cái đúng và cái sai, giữa cách mạng và phản cách mạng…” (Bđd).
Và cuối cùng, như một công thức bất di bất dịch để đúc kết các bài viết, bài nói, Tố Hữu kết luận:
“… Lấy đường lối văn nghệ của đảng Lao động Việt Nam làm vũ khí chiến đấu, giới văn nghệ chúng ta hãy tiến lên tiêu diệt tận gốc đường lối văn nghệ phản động của nhóm Nhân văn – Giai phẩm”. (Tố Hữu, bài nói đã dẫn).
Số phận của nhóm “Nhân văn – Giai phẩm” đã được định đoạt: mất quyền công dân, bị tuớc đoạt tất cả, bị cưỡng bức lao động ở một vùng quê. Nhiều năm sau mới được trở lại Hà Nội, sống nghèo nàn với tài sản đắt giá nhất là một chiếc xe đạp cũ kỹ. Vợ ông, Tiến sĩ Tâm lý giáo dục Nguyễn Thị Nhì, bị áp lực của Đảng và Nhà nước đã ly dị ông để kết hôn với Nguyễn Khắc Viện, một người bạn thân của ông ở Pháp. Bác sĩ Viện lúc ấy đang là con cưng của Đảng.     
Nhà nghiên cứu Triết học Marxist, Giáo sư Thạc sĩ Trần Đức Thảo đã sống trong tăm tối nghèo khổ cùng cực trong 30 năm. Sau khi Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền và tung ra chiêu bài cởi mở năm 1987, ông Thảo mới được viết trở lại. Lúc này ông đã già. Năm 1991, ông được cho qua Pháp ngắn hạn. Hết hạn, ông vẫn ở lại, sống vô cùng túng quẫn. Bị cúp tiền, ông lén nấu ăn lấy thì bị cúp gas, cúp điện. Thấy vậy, Hội Những Nhà khoa học Pháp (Société des Hommes de Sciences) để tỏ lòng ngưỡng mộ đã quyết định trợ cấp cho ông vô hạn định mỗi tháng 10,000 Francs (2,000 USD). Nhưng ông vừa nhận được tấm ngân phiếu đầu tiên vào ngày hôm trước, thì hôm sau ông qua đời.
Lời nói từ giã bạn bè ở Pháp trước khi về nước của giáo sư Trần Đức Thảo đã trở thành một lời tiên tri bi thảm. Tài năng của ông không có chỗ để phát huy dưới chế độ Cộng sản. Chế độ đó đã làm thui chột một tài năng triết học có “tầm cở quốc tế” như nhà triết học nổi tiếng Louis Althusser (bạn và là học trò của Trần Đức Thảo) nhận định.
Nhưng đã để lại cho chúng ta một tấm gương của một nhà trí thức không cúi đầu trước sai lầm của những người đang nắm giữ quyền lực. Và qua cái chết của ông, trong hoàn cảnh vô cùng túng quẩn đã cho mọi người thấy sự giả trá, bịp bợm cùng cực của Cộng sản Hà Nội qua bản thông báo của họ. “Được đại sứ quán của nước ta tại Pháp tận tình chăm sóc…” Câu nói láo trắng trợn này được Đại sứ Hà Nội Trịnh Ngọc Thái đọc lên một cách hết sức trơn tru khiến người ta phải nóng mặt.
Không có điếu tang. Bởi bài điếu tang giáo sư Trần Đức Thảo nếu được viết một cách đứng đắn sẽ là những cái tát ngược vào mặt chế dộ.
“Khi sống, con chẳng cho ăn
Khi chết, con lại làm văn tế ruồi!
NGUYỄN THIẾU NHẪN

Nhân đọc bài “Vì sao biểu tình ở Hà Nội thành công hơn ở Sài Gòn”

RFA 30.07.2011

Đã 5 trên 8 buổi sáng chủ nhật vừa rồi, tôi lại hòa mình vào dòng thác cuồng nộ của những người Hà Nội biểu tình chống lại những hành động gây hấn của Trung Quốc.
NXD’s blog
Sáng Chủ nhật 24-7-2011, hàng trăm người tiếp tục biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội.
Không khí biểu tình ở Hà Nội cũng có những lúc thăng lúc trầm, có lần bị bắt bớ đàn áp mà cũng có những buổi thắng lợi rực rỡ như hôm 24/7 vừa qua. Mỗi một lần biểu tình trở về tôi lại vội vàng theo dõi tình hình xuống đường ở Sài Gòn với một tâm trạng bồn chồn mong đợi để rồi sau đó lại thất vọng vì không khí Sài Gòn quá căng. Quả là không thể so sánh được với khí thế của buổi sáng 5/6.
Chưa một lần xuống đường ở Sài Gòn, nhưng qua những thông tin trên mạng và kinh nghiệm biểu tình của chính mình trong những lần xuống đường ở Hà Nội, tôi xin chia sẻ thêm vài ý kiến về bài “Vì sao biểu tình ở Hà Nội thành công hơn ở Sài Gòn” của Khánh An, phóng viên RFA.

Chăm sóc kỹ?

Tôi không đồng ý với nhận định của phóng viên Khánh An rằng lực lượng an ninh công an Sài Gòn chăm sóc người biểu tình kỹ hơn. Thực tế thì ngay từ ngày biểu tình đầu tiên 5/6 cho đến buổi thứ 7 ngày 17/7, tuần nào ở Hà Nội, người biểu tình yêu nước luôn luôn được chăm sóc chu đáo. Tuần nào cũng có bắt bớ, đánh đập, trước ngày chủ nhật tuần nào cũng có đe dọa, ngăn cản những nhân sĩ trí thức có uy tín hay những bạn trẻ to mồm nhất, những hạt nhân của phong trào. Nhưng Hà Nội khác Sài Gòn ở chỗ càng bắt bớ, sức phản kháng của người yêu nước càng mạnh. Bằng cớ là ngay sau ngày 17/7 với hàng loạt vụ đàn áp mạnh mẽ nhất từ phía chính quyền, thì ngày 24/7 người Hà Nội đã lại tập hợp đông đảo hơn, nhiệt huyết hơn bao giờ hết. Và chính quyền đã phải xuống nước trước khí thế của Hà Nội 24/7.

Hà Nội có nhiều “gốc gác”?

Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bạn trẻ Sài Gòn cho rằng, “… Ngoài Hà Nội đa số là gốc gác không, lại được sự hỗ trợ của tầng lớp trí thức và cựu cán bộ, chiến sĩ nhiều.” Thực tế thì ở Hà Nội, tôi bắt gặp rất nhiều thanh niên sinh viên, có cả những anh, chị công nhân còn mặc nguyên bộ quần áo bảo hộ, không thể nói rằng những con người nhiệt huyết ấy xuống đường chỉ vì có một cái “gốc gác” nào đó bảo kê. Bản thân tôi cũng chẳng có chút gốc nào cả. Ah quên ở Hà Nội đúng là có một bác có gốc chắc luôn (blogger Gốc Sậy). Nói vậy để thấy rằng chẳng có một cái “gốc gác” nào có thể khiến công an an ninh chùn tay (gương tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ sờ sờ ra đó), chỉ có điều là ta có chiến thắng được sự sợ hãi của chính chúng ta hay không?

Nhân sĩ trí thức Sài Gòn đâu rồi?

saigon-bieu-tinh-06052011-250.jpg
Nhóm nhân sĩ trí thức ở Sài Gòn biểu tình chống Trung Quốc, ngày 05/06/2011. Photo courtesy of Cao Lập.
Tôi chỉ đồng ý với bạn trẻ Sài Gòn nói trên ở cái vế thứ hai. Đúng là tầng lớp nhân sĩ trí thức Hà Nội rất có uy tín trong những tiếng nói yêu nước, chính họ là hạt nhân của phong trào và là nguồn động viên tinh thần tuyệt vời cho các bạn trẻ Hà Nội. Bản lĩnh và những lý luận sắc sảo của lớp cha chú cộng với bầu nhiệt huyết của thanh niên đã làm nên thắng lợi của ngày 24/7 vừa qua tại Hà Nội. Sài Gòn cũng có những nhân sĩ trí thức yêu nước chứ, thế nhưng họ đã ở đâu mỗi sáng chủ nhật? Để cho bầy em, con cháu trẻ bơ vơ “biểu tình ngồi” mỗi sáng chủ nhật.
Tình trạng chung ở Sài Gòn là những ánh mắt nhìn nhau với một nỗi khắc khoải chờ đợi. Họ chờ đợi gì? Họ chờ một ai đó đủ dũng khí để hét to lên “Nào anh em ta ơi, xuống đường” Nếu tất cả đều chờ đợi như thế thì lực lượng công an an ninh cũng chỉ mong có thế. Người Hà Nội đã chấp nhận bắt bớ đàn áp với một thái độ dũng cảm hơn, lạc quan hơn, đoàn kết hơn. Giải cứu binh nhì Nguyễn Tiến Nam, bày tỏ thái độ mạnh mẽ ngay tại đồn công an Mỹ Đình, thậm chí tiếp tục biểu tình ngay sau khi được thả, sử dụng chính những hình ảnh đàn áp phi nhân tính để đấu tranh, tất cả những câu chuyện đó đã nói lên cái khí thế hào hùng ở Hà Nội.
Người Hà Nội đang rất mong mỏi những tiếng nói đồng chí hướng ở Sài Gòn cất lên một cách mạnh mẽ. Chỉ có sự đoàn kết của tất cả mọi người dân Việt trên tất cả mọi vùng miền mới có thể khiến bè lũ cầm quyền Bắc Kinh hiếu chiến và tụi tay sai bán nước run sợ.

Cách đối phó chiêu thức “chia để trị”

hanoi-bieutinh-07172011-250.jpg
Công an chận bắt người biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội sáng 17-7-2011. Photo: ABS.
Từ kinh nghiệm biểu tình ở Hà Nội, tôi nhận thấy tụi Công an An ninh sử dụng chiêu thức “chia để trị” để đàn áp người yêu nước. Bọn chúng hiểu rất rõ rằng đoàn biểu tình là hoàn toàn tự phát, không có người cầm đầu cũng không có sự tổ chức chặt chẽ. Chính điều đó là cái điểm yếu chí tử của người biểu tình để bọn chúng dễ dàng xé nhỏ đoàn thành nhiều nhóm nhỏ không có sự đoàn kết tương hỗ lẫn nhau.
Đầu tiên là CSCĐ113 với đầy đủ dùi cui, khiên, nón bảo hiểm, mặt mũi lạnh lùng sát thủ. Chúng xếp thành 2 hàng song song sau đó tiến thẳng vào giữa đoàn biểu tình. Vô hình chung đoàn đã bị xé ngay ra làm 3 nhóm nhỏ hơn. Sau đó từng thằng CSCĐ mới bắt đầu áp sát từng người trong 3 nhóm đã bị xé vụn. Bản năng của dân đen khi gặp chính quyền mặt mũi hằm hằm như thế là tản ngay ra, không thèm dây vào cứt. Bất chấp những lời kêu gọi tập hợp lại của một số bác già kinh nghiệm, đàn cừu vẫn cứ tản ra. Thế là rơi vào bẫy.
Lúc này lũ an ninh mặc thường phục và bọn đầu trâu mặt ngựa đeo băng tay đỏ mới ào ra từ những chiếc xe buýt tử thần. Chúng đã ngắm nghía những con mồi của chúng ngay từ lúc chúng vẫn còn ngồi trên xe, phân công chia phần thịt đâu vào đấy cả rồi. Cứ 3-5 thằng vồ chặt lấy một người lôi tuột lên xe buýt. Chả khác gì bầy sư tử săn mồi trên đồng cỏ Phi Châu cả. Chú nào lạc bầy là chết. Cả những chú cố gắng chạy lại nhập vào bầy thì vẫn bị đám sài lang say mồi lao theo bắt đi mặc kệ những nỗ lực giành giật của bè bạn. Vậy chúng ta cần phải làm gì để đối phó với chiêu thức “chia để trị” hiểm độc này? Sau đây tôi muốn chia sẻ một ý tưởng có thể giúp chúng ta đoàn kết hơn, có thể đối phó hữu hiệu với những mánh khóe đàn áp của công an, an ninh, chính quyền.
Các bạn biểu tình nên cố gắng tự liên lạc với nhau, những người quen biết và chung chí hướng tập hợp lại thành từng nhóm nhỏ 5-7 người hoặc 10 người càng tốt. Biểu tình chống TQ là tự phát, bạn đừng mong có tổ chức nào đó tập hợp cả trăm người với một kế hoạch hoàn chỉnh và thống nhất. Vậy tốt nhất là hãy đoàn kết và tương trợ lẫn nhau, chỉ cần trong nhóm nhỏ của bạn, quan trọng là mỗi người trong nhóm đều phải có ý thức bảo vệ những người còn lại.
day-thung-150.jpg
Dây thừng. Photo courtesy of vn.asiadragon.com.vn.
Khi các bạn đã tập hợp được một nhóm, các bạn hãy đi mua một sợi dây thừng dài khoảng 10-15m, đường kính từ 18-24mm. Đây là một vài địa chỉ mua dây thừng sợi to bằng polyester ở SG:
CTY TNHH DÂY SỢI RỒNG Á CHÂU
Địa chỉ: Lô 9C, Đường số 8, KCN Tân Tạo, Phường Tân Tạo A, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Tel: +84 8 3754 3239 – Fax: +84 8 37543240
Hay cửa hàng Huệ Điền
Địa chỉ: 292 Hải Thượng Lãn Ông – P.14 – Q.5 – TP.HCM
Điện thoại: 0838567132 – Fax: 0838553907.
moc-khoa-balo-150.jpg
Móc khóa leo núi. Photo courtesy of shop.phuongnguyen.info.
Sau đó mỗi một bạn trong nhóm tự trang bị cho mình một cái móc khóa leo núi như trong hình
Địa chỉ:
Shop PhuongNguyen.Info
127/33 Ni Sư Huỳnh Liên, P.10, Tân Bình
Hoặc ra chợ Dân Sinh kiếm.
Tiếp đó các bạn hãy thắt những nút sẵn trên sợi dây thừng mà các bạn đã mua.
Cứ 1m lại thắt một nút. Bạn hãy lồng thử cái móc khóa của bạn vào sợi dây, và giật qua giật lại xem cái móc có bị trượt qua nút thắt không. Nếu móc khóa của bạn quá to hoặc đường kính của sợi dây quá nhỏ thì bạn có thể thắt nút nhiều lần tại cùng một chỗ đó để nút thắt đủ to sao cho móc khóa không trượt qua được. Mục đích là móc khóa chỉ tự do chạy qua chạy lại giữa hai nút thắt mà thôi. Khi đó khoảng cách giữa hai nút thắt là 1m, vừa đủ để 2 người gần nhau có thể vận động thoải mái. Chiêu này là để tránh cho khi bị công an co kéo cả nhóm không bị gom dồn lại một mớ ở một đầu của sợi dây. Các bạn lưu ý là nếu nhóm bạn có 7 người thì nên mua sợi dây dài dư ra một chút (khoảng 11m) sao cho mỗi đầu sợi dây còn có 2m trống chờ nối vào sợi dây của nhóm biểu tình khác.
knots-150.jpg
Cách thắt nút bằng dây thừng.
Rồi mỗi bạn hãy tự chế một chiếc vòng bằng dây thừng sợi nhỏ, mềm dai, luồn một đầu vào móc khóa rồi buộc chặt. Bạn phải tính làm sao cho cổ tay bạn có thể đút vào dễ dàng mà vẫn rộng rãi. Bạn hãy làm thử vài lần thế này: lồng tay bạn vào bên trong chiếc vòng dây thừng, cầm chiếc móc khóa xoắn khoảng 4-5 vòng, nếu thấy vòng dây siết vừa đủ chặt cổ tay bạn, thế là OK. Khi đi biểu tình, cắt cử một bạn mang theo sợi dây thừng đút sẵn vô người. Mỗi bạn đem theo chiếc móc khóa của mình đã được chuẩn bị kỹ. Tới điểm tập kết, bạn chỉ việc siết đủ 4-5 vòng vào cổ tay như vậy rồi móc vào sợi dây thừng, thế là xong bạn đã kết nối với những người bạn mà bạn hoàn toàn tin tưởng. Trông thì có vẻ hơi mất mỹ quan, nhưng có sao đâu, toàn dân Việt chúng ta sinh ra đã là tù dự khuyết rồi mà. Khi gặp một đoàn biểu tình khác với một sợi dây tương tự, các bạn hãy nhanh chóng buộc một đầu vào sợi dây của nhóm kia. Vậy là sợi dây đã dài hơn rồi.
Khi mà đoàn biểu tình có hàng trăm người cùng thực hiện ý tưởng này thì toàn bộ đoàn đã kết thành một khối, không một lực lượng sài lang nào có thể chia tách các bạn ra thành từng nhóm nhỏ được. Khi lũ sài lang áp sát các bạn, hãy đứng sát vào nhau, cùng giơ cao những cánh tay bị xiềng xích, hãy nhìn thẳng vào mắt chúng xem cả đám tù dự khuyết này, khi niềm tin vào chính nghĩa sáng lên trong mắt và lòng yêu nước rực cháy trong tim, cùng đoàn kết thì chúng có thể làm gì?
Thực sự thì ý tưởng này chỉ là giải pháp tình thế để đối chọi với chiêu “chia để trị” của công an. Chứ mục đích sâu xa của nó là tôi mong muốn các bạn hãy rèn luyện tính đoàn kết giữa những người chung chí hướng, ý thức rằng bên cạnh bạn luôn có những người bạn sẵn sàng xả thân vì bạn, bao bọc lấy bạn, sát cánh bên bạn trong mọi tình huống. Để giúp bạn chiến thắng nỗi sợ hãi trước bạo quyền. Để mọi trái tim yêu nước luôn kết thành một khối sức mạnh. Khi mà lòng yêu nước trở thành một lý tưởng chung để mọi con người có lí trí cùng dấn thân để bảo vệ, thì tình đồng chí sẽ là “sợi dây” vô hình kết nối chúng ta. Lúc đó chúng ta có thể tháo bỏ cái xiềng bất đắc dĩ này, cùng nắm tay xông lên, giành lại mọi quyền hợp pháp mà chúng ta xứng đáng được hưởng.
VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Freedom is not Free.
Hà Nội rạng sáng ngày 30/7.

Nguồn lấy từ: http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/protests-hn-more-success-than-sg-07302011140331.html

Việt Nam 'sơ tán gần 300.000 dân'

Cập nhật: 11:05 GMT - thứ bảy, 30 tháng 7, 2011

Bão số 3 (Nock-ten storm) (NCHMF)
Bão số 3 (Nock-ten) được dự kiến ảnh hưởng trực tiếp tới các vùng ven biển và đổ bộ từ Hải Phòng tới Hà Tĩnh.
Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát kêu gọi các tỉnh di dời hơn 271.000 người dân tại Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Cơn bão Nock-ten, hay bão số 3, với gió giật cấp 13, sẽ đổ bộ sớm vào VN từ khu vực Hải Phòng tới tỉnh Hà Tĩnh, theo bản tin bão khẩn cấp của Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia.
Theo điện văn của Trung tâm này, vào lúc trưa, chiều 30 tháng Bảy, bão số 3 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các vùng ven biển và theo dự kiến sẽ đổ bộ vào khu vực từ Hải Phòng đến Hà Tĩnh với sức gió vùng gần tâm bão cấp 10, 11, giật cấp 12, 13. Kèm theo đó là mưa lớn từ trưa ngày thứ Bảy tới đến ngày 01 tháng Tám.
Trung tâm Khí tượng Quốc gia dẫn lời ông Bùi Minh Tăng, giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn T.Ư, tại cuộc họp khẩn đối phó với bão số 3 được nhóm hôm thứ Sáu xác định sáng thứ Bảy, tâm bão cách bờ biển Thái Bình - Nghệ An khoảng 320 km về phía Đông.
Từ chiều tối ngày 30-7, dự báo ở phía đông Bắc bộ và Bắc Trung bộ có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và rải rác có dông, trong cơn dông cần đề phòng lốc xoáy.
Các tỉnh, địa phương từ Hải Phòng tới Nghệ An được đề nghị đề phòng nước biển dâng kết hợp với triều cường cao 3 - 5m.
Trung tâm Khí tượng Quốc gia, từ trưa ngày thứ Bảy, mưa xuất hiện và kéo dài đến ngày 01 tháng Tám với lượng mưa lớn dự kiến tập trung ở khu vực từ Thanh Hóa tới Quảng Bình, với mức độ ước lượng 200-300 mm, trong khi ở một số nơi lượng mưa có thể đến mức 400 mm.
Bản tin bão khẩn cũng nhận định mưa sẽ gây một đợt lũ lớn trên các sông suối ở các tỉnh Bắc Trung bộ, với nhiều con sông mà tại đó lũ "sẽ vượt báo động II, báo động III và không loại trừ lũ lịch sử". Ở khu vực Bắc bộ cũng dự kiến xuất hiện một đợt lũ nhỏ và vừa.
Trong khi đó, các tỉnh ở vùng núi Bắc Trung bộ, Bắc bộ được cảnh báo "cảnh giác với hiện tượng lũ quét, sạt lở đất và ngập lụt trên diện rộng hoặc cục bộ."
Sơ tán khẩn cấp
"Tàu QNg của Quảng Ngãi bị chìm, trên tàu có 12 người được Hải quân Philippines cứu. Hai tàu cá của Quảng Bình và Hải Phòng bị hư hỏng trên đường vào bờ tránh bão, 14 người trên tàu đã được cứu, đưa vào bờ"
Báo điện tử của Chính phủ VN
Báo điện tử của Chính phủ VN hôm thứ Bảy trích nguồn một báo cáo nhanh cùng ngày của Văn phòng Chính phủ, cho hay "đoàn công tác của Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn đã đi kiểm tra, đôn đốc tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình từ chiều 29/7."
Báo cáo này cho biết, các địa phương trong vùng ảnh hưởng đã triển khai việc cấm biển từ sáng 30/7.
"Tàu QNg của Quảng Ngãi bị chìm, trên tàu có 12 người được Hải quân Philippines cứu. Hai tàu cá của Quảng Bình và Hải Phòng bị hư hỏng trên đường vào bờ tránh bão, 14 người trên tàu đã được cứu, đưa vào bờ," trang Báo điện tử của Chính phủ đưa chi tiết.

Thêm về tin này

Các bài liên quan