Saturday, June 29, 2013

Người Quan Sát (Danlambao): Một vài suy nghĩ về Xã Hội Đen và Cộng Sản

Người Quan Sát (Danlambao) - Cái khác nhau duy nhất là bộ mặt của xã hội đen là bậm trợn, trong khi bộ mặt của cộng sản thì có vẻ tươm tất hơn nhưng rất láu cá và hèn...

*

Khi nói đến xã hội đen làm người ta nghĩ ngay đến một thế lực ngầm chi phối xã hội bằng những biện pháp vũ lực bất chấp luật pháp nhằm một đích duy nhất là trục lợi cho bản thân, cho băng nhóm của mình. Điều này không một chính quyền, một nhà nước, một xã hội nào chấp nhận. Nhưng nó vẫn cứ tồn tại và phát triển. 

Trong một thời gian dài, người ta cứ lầm tưởng là cái thế lực đen này không thể nào tồn tại được dưới chế độ Cộng Sản, vì người ta nghĩ rằng với một tổ chức chặt chẽ, một quan điểm “chuyên chính vô sản” và “bạo lực cách mạng” thì những cái nhóm tép riu kia khó lòng mà ngóc đầu lên. Nhưng tất cả đều lầm, khi nhận ra là cái gọi là xã hội đen cũng có một tổ chức chặt chẽ, cũng chuyên chính và bạo lực không kém gì chế độ cộng sản. Cả hai chưa hề là đối lập nhau mà trái ngược lại cùng song song tồn tại. Cái kiểu cách thanh trừng nội bộ của cộng sản không khác với xã hội đen. Cách tiêu diệt băng nhóm đối nghịch không khác gì các cuộc trấn áp biểu tình, hoặc các phe nhóm của cộng sản và cả hai cũng tàn bạo không kém gì nhau và đều được bung bít một cách tinh xảo. Những hình thức trấn lột, cướp bóc đều có chung một cái võ bọc luật pháp và biểu hiện sức mạnh vũ trang.

Tiếng nói chân chính của xã hội hoàn toàn biến mất trong thế giới cộng sản và xã hội đen. Cả hai đều có luật pháp và một cách sử dụng luật pháp cũng không khác nhau với một mục đích duy nhất là trấn áp những người cần trấn áp. Nếu như cộng sản tạo ra một bản án bằng một ông “chánh án làm theo chỉ thị” thì bọn xã hội đen tạo ra bản án bằng “tiền” nhưng khoảng cách giữ hai điều này không xa nhau lắm và lắm khi bằng súng, bằng dao, bằng thuốc độc...

Trong những ngày gần đây, qua nhiều biến động về chính trị, xã hội ở Việt Nam làm cho người ta nhận điều này một cách rõ nét.

Những nhận định trên không nằm trong suy nghĩ đồng hóa cộng sản và xã hội đen mà nhằm khẳng định bản chất của cộng sản và xã hội đen là một.

Cái khác nhau duy nhất là bộ mặt của xã hội đen là bậm trợn, trong khi bộ mặt của cộng sản thì có vẻ tươm tất hơn nhưng rất láu cá và hèn.
 
 
  • Saumietvuon 44 minutes ago

    Xưa kia Vgcs thường chơi trò ném đá dấu tay, lén lút, thập thò( có lẽ lúc đó còn ngán dân hoặc cần dân). Nhưng kể từ Thái Hà ,Làng Mai rồi Cồn Dầu vv và vv. Vgcs chơi tới bến song song xã hội đen và công khai Tuyên chiến với dân trên mọi mặt trận cưỡng chế đất mà tù hình sự được xử dụng tối đa, hầu né tránh áp lực từ Quốc Tế. Sự lộ liễu ngày nay đã đến hồi báo động cần được người dân phải đáp trả. Nếu ko muốn bị triệt tiêu nay mai và làm nhục trí đề kháng, để rồi bị nô lệ, bởi tay sai Hán tộc.
  • Hình biểu tượng
    daosi an hour ago

    Khi chưa cướp được chính quyền thì là xã hội đen, khi cướp được chính quyền rồi thì là cộng sản. Xã hội đen chính là cha, là mẹ của đảng cs.
  • Tiến Xĩ Rất Danh Dự 2 hours ago

    Tôi đồng ý với tác giả Nguời Quan Sát là cộng sản (CS) và xã hội đen (XHĐ) có nhiều điểm tương đồng, nhưng nói, "bản chất của cộng sản và xã hội đen là một" thì tôi xin phép không đồng ý. Về bản chất, điểm khác biệt rỏ nét giữa CS và XHĐ là giã dối và trung thực. XHĐ không bao giờ tiếm danh bất cứ một đoàn thể, một tổ chức, một giai cấp hay một lý tưởng nào để biện minh cho hành động sai quấy của XHĐ. XHĐ thanh toán một kẻ nào đó thì XHĐ thẳng thắng nhìn nhận rằng kẻ đó đối kháng với quyền lợi của băng nhóm XHĐ. Minh bạch là vậy. Trái lại, CS thì luôn tiếm danh nhân dân. Tất cả những hành động của CS dù cho xấu xa đến cở nào CS cũng cố tìm một lý do thật cao cả để biện minh cho hành động của CS. Những việc làm trong thời gian qua của CS như bắt bớ xừ tù người yêu nước, nhượng dất, nhượng biển, nhượng đảo cho kẻ thu xâm lược đã chúng minh rõ điều vừa nói. Tóm lại, nếu so sánh về bản chất thì XHĐ vẫn cao hơn CS ít nhứt là một bực.
  • Xì Trum 2 hours ago

    Láu cá và hèn là bản chất của mấy trự lảnh đạo cấp côi đảng ta, nhưng tui thấy cái bản mặt của đỗ 10, triết lùn, hùng hói, sang móm chẳng tươm tất chút nào mà thấy ngu ngu sao ấy...

David Thiên Ngọc (Danlambao): Thời "Mạt Trí"

"Cái học ngày nay đã hỏng rồi.
Mười người đi học, chín người thôi." - Trần tế Xương
David Thiên Ngọc (Danlambao) - Từ ngàn xưa đến nay, cầm vận nước lèo lái non sông đều do "Kẻ Sĩ". Muốn biết một Quốc Gia, đất nước suy thịnh, hưng vong thì ta cứ nhìn vào giới "Trí Sĩ" của nơi đó thì ta hẳn rõ. Họ là những ngọn đuốc soi đường, là những lá cờ đầu trên bước đường phát triển văn hóa của dân tộc. Bất cứ một xã hội nào từ xưa nay, từ sơ khai đến thời hiện đại, nền tảng của xã hội đó đều được xây bằng vật liệu văn hóa. Do đó tất cả mọi sai lầm nào nếu có thì chúng ta cũng có thể sửa đổi, uốn nắn và trang bị lại cho được tươi đẹp trong sáng hơn ngoại trừ sai lầm về văn hóa. Văn hóa đã đi vào bước sai lầm thì vô phương cứu chữa, chỉ còn có một lối duy nhứt là cáo chung chế độ đó mà thôi. Thường là bị xâm thực một cách có tính toán nham hiểm bởi ngoại bang với âm mưu xâm lược.

Ở đây tôi nói hơi xa, vì hai chữ văn hóa nó vô cùng... nó không gói gọn trong một bài viết được. Không phải là văn chương chữ nghĩa mới là văn hóa. Từ giọng hát ru con của bà mẹ quê cũng toát lên một nét văn hóa đặc thù. Từ cách ăn, cách mặc, câu chào hỏi... cho đến các hình thái hội hè, đình đám, câu ca hò đối đáp của trai gái trong những đêm trăng gánh nước đình làng... hay trong lao động để quên đi mệt nhọc. Tất cả những nét đó cùng hàng vạn nét khác đều chứa đựng trong một nền văn hóa riêng là văn hóa dân tộc.

Đất nước chúng ta trải qua hàng ngàn năm chịu ảnh hưởng bởi một nền văn hóa Bắc phương tràn về với ý đồ xâm thực, đồng hóa nhân dân ta hầu xóa đi nền văn hóa nhân bản đặc thù của tộc Việt. Nhưng trong lộ trình đó nền văn hóa lai căn đã bị thối lui, đánh bật ra từ buổi sơ đầu.

Trong nền văn học sử nước nhà có một giai đoạn dài gọi là "Văn học đối kháng Trung Hoa" (*). Tuy có cam go và đầy giông bão nhưng cuối cùng thì "Văn học đối kháng Trung Hoa" cũng hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của nó và tiếp theo là văn học của "Thế hệ dấn thân yêu đời" (*)

Vào thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cũng có ý đồ xóa nền văn hóa nước ta và thay vào đó là nền văn hóa Pháp, nền Tây học. Công bằng mà nói nền văn hóa Pháp (Tây học) có phần rực rỡ nhất định của nó. Nhưng ở đây nếu ta kết hợp, sàn lọc văn hóa Đông Tây để tô bồi cho nền văn hóa dân tộc Việt thêm phần ngời sáng điều đó là tích cực và vô cùng quí giá. Nhưng khốn nỗi, giống như bọn Bắc phương, thực dân Pháp cũng trên bước đường xâm lược với âm mưu xóa bỏ mọi hình thái văn hóa đặc thù của chúng ta và chúng tự hào là "khai sáng, khai hóa" cho ta. Vả lại dân Việt với thân phận là nô lệ, là thuộc quốc dưới sự bảo hộ của nhà nước đại Pháp. Do đó sự phản kháng làn sóng thực dân trên mặt trận văn hóa thì các trí sĩ VN cũng chỉ đứng đàng đuôi gió mà thốt lên những tiếng than trong chiều hướng đối kháng nhưng đa phần là yếu ớt với sự đắng cay châm biếm, mà thôi. Thi sĩ Tú Xương cũng thốt lên rằng:

"Chí sĩ rụt rè gà phải cáo.
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi!"

Quay về với nền văn hóa VN hiện đại. Nói chung thì nền văn hóa VN muôn đời bền vững cho dù sông cạn núi mòn... tuy rằng hiện tại có một vài khía cạnh đã và đang đi vào vùng tối. Đó là nền chính trị ngoại lai, lệ thuộc hẳn vào ngoại bang với bản chất và hình thức phi nhân bản, một học thuyết hoang tưởng phi thực, mang màu sắc vô nhân, vô thần và vô đạo... được dẫn dắt bởi một tập đoàn vô học, mang một ý thức hệ với tư duy "Duy ý chí", "Duy ngã" phi "Duy lý" đi ngược với sự tiến hóa của nền văn hóa dân tộc VN trên bước đường thăng hoa hãnh tiến.

Sĩ phu trí thức của chúng ta hiện tại có một số không nhỏ sống và hành xử theo thuyết "Vị kỷ" nên mãi trùm chăn mặc cho thế sự thăng trầm, bèo dạt hoa trôi... miễn sao nước lũ không ngập đến nhà mình, sâu bọ đục phá ở vườn nhà người khác không xâm phạm đến hoa màu nhà mình là được. Và cứ thế mà chìm vào giấc miên trường... nhưng có biết đâu (hay tảng lờ) đó chỉ là cách sống của phường mạt hạng, giá áo túi cơm.

Từ đó đám tay sai hạ đẳng, tâm thức giáo điều, ngụy quân tử, khoa trương trí thức giả tạo... khuynh loát xã hội.. Kẻ nắm tay chèo đất nước không thuộc hàng "Trí Sĩ" mà xuất thân từ rừng rú và cơ hội. Trí não, tâm hồn đến thể xác đều khuyết tật. Ra hải ngoại để gọi là mở rộng tầm nhìn, bang giao. Đối với nước lớn thì cam tâm đi bằng đầu gối, gập mình cúi đầu trước mọi đối tượng cho dù là những tên lính tầm thường. Hình như hàng lãnh đạo đất nước VN thời cộng sản ai cũng bị chứng "Gù Lưng" nên luôn gập mình cúi mặt trước ngoại bang.

Đối với các nước ngang hàng hay nhỏ hơn (về dân số và địa lý) thì lộ hẳn là không có cái tầm, thấp kém về mọi mặt... chỉ đối thoại hình thức với một mục đích là xin đứng bên nhau, kết nghĩa Huynh đệ để phòng khi trái gió trở trời!

Đối với các hội nghị ở khu vực hay tầm châu lục thì ngồi cho có "tụ" chứ chẳng biết thi thố nỗi gì? Khi phải cất lên tiếng nói thì sáo rỗng, dùng những ngôn từ chưa được học thấu đáo và hầu như lời và ý không phải của chính mình. Do đó có những cảnh trái ngang nghiệt ngã, ậm à cười ra nước mắt khi bị các chính khách, hay phóng viên báo chí quốc tế chất vấn thì thường chối ngang rằng "Tôi không nhắc lại" vì nếu nhắc lại thì chẳng phải biết giải thích sao và hoàn toàn việt vị vì chính bản thân mình chỉ là cái máy phát lại cuộn băng đã được thu sẵn của những kẻ cũng thuộc loại thiếu tầm. Đôi khi cũng có nói nhưng lời lẽ bâng quơ không ăn nhập với chủ đề, mục đích trọng tâm của câu hỏi. Đang trên sóng đại dương mà đòi chạy ô tô!? khiến cho người chất vấn phải bịt mũi cười thầm khinh rẻ. Nhất là các phóng viên, chính khách phận hồng quần.

Nơi chính trường Quốc hội thì lao nhao một lũ cá mè một lứa với mớ giấy lộn bằng cấp chợ trời, kiến thức chợ búa, bến xe... mạnh ai nấy đưa ra tối kiến làm nghèo đất nước, những phát biểu ngược đời mà trên thế gian này chưa từng thấy.

Như ông Nguyễn Doãn Hợp với học hàm, học vị thì như sao Khuê, vang như sư tử hống. Chức vụ thì nhứt phẩm trào đờm, là thượng thư bộ văn hóa thông tin (4 T bây giờ) là tiếng nói, là bộ mặt của xã hội, thể hiện cái tầm của đội ngũ trí thức cho cả nước một khi mang chuông đi đánh ở xứ người. Thế mà xem báo chí, ngôn luận như đồ vật trò đùa... là loài động vật cấp thấp cần phải giáo dục và định hướng quản lý. "Báo chí phải đi theo lề phải""Bám theo lề là việc của con lừa, không phải của con người tự do" (Ngô bảo Châu). Ông cho rằng dân trí VN còn thấp nên không cần phải có báo chí tư nhân vì dân trí thấp là một trong ba yếu tố mà ông Hợp nêu lên cần phải có để hình thành nền báo chí tư nhân. Và rằng "Xã hội văn minh là xã hội vừa quản lý bằng luật pháp và quản lý bằng định hướng dân trí cao." Báo chí phải viết đúng- Như thế nào là viết đúng? Viết đúng có nghĩa là viết theo, bưng bô cho tập đoàn tham nhũng, bán nước vừa dốt lại vừa ngu?. Ông cho rằng "Anh viết đúng và góp ý chân thành phải được tôn vinh. Nếu lợi dụng dân chủ (điều 258) để làm những điều không đúng thì cần phải được uốn nắn, thậm chí phải được giáo dục (có nghĩa rằng phải dốt như chúng tôi) và được luật pháp can thiệp".

Báo chí, ngôn luận, tư tưởng, văn chương nghệ thuật nó bao la vô cùng. Nó bàng bạc như mây trời, lang man như gió núi... nhưng không phải lúc nào cũng như nhau. Nó đa dạng muôn màu muôn vẻ... Mây trời luôn đổi thay theo tiết mùa Xuân Hạ Thu Đông. Gió núi mây ngàn mà phải định hướng, khớp miệng rồi dắt đi theo con đường định sẵn thì đó chỉ là thân phận của loài lừa, ngựa chỉ được đi theo hướng của hai miếng da che mắt và sự kéo giật của sợi dây cương. Đem một đôi thùng, cặp thúng mà nhốt gió gom mây thì đó chỉ là việc làm của hàng thiểu năng trí não mà thôi.

Danh xưng của bầy đàn ăn hại quốc gia này thì át cả tiếng sấm đêm đông như:

- GS TS xây dựng băng đảng, học thuyết bãi tha ma, Mác-Lê rỉ sét với danh "Tổng Lú".

- TS KT (bằng ngoại nhập từ xứ củ sâm) với thành tựu nhận chìm con tàu KT Quốc Gia xuống biển. Cử nhân luật rừng, không biết luật xã hội chỉ xài lệ (nước mắt của nhân dân) vì không đi học ngày nào với danh xưng "Ba Ếch".

- PGS TS chỉ biết cầm súng giết người chứ chưa cầm bút mà giảng bài "Giữ sổ hưu-nai" Trần Phong Thanh.

- TS gây ô nhiễm môi trường với tối kiến, bắt dân oan chỉ còn chiếc khố che chổ kín mà phải đóng tiền cọc trước khi khiếu kiện đòi lại tài sản của mình đã bị đảng CSVN cướp trắng. Phan xuân Dũng.

- TS thượng thư bộ"vô học" vì chỉ cấp bằng cho kẻ vô học để hại dân. Phạm vũ Luận.

- TS bộ "Bịnh hoạn" cho phép Bác Sĩ nhận phong bì sau khi khám chữa cho bịnh nhân đói khổ, bệnh đau. Bệnh nhân thiếu giường nằm thì ráng lết mà đi hỏi ông nhà nước chư tôi vô can. Nuốt lời thề Hypocrates từ khi mới chập chững vào nghề. Nguyễn Thị Kim Tiến.

- TS thống lãnh kho Vàng Bạc Quốc Gia thì có tài phép, quyền biến, hô phong hoán vũ biến bạc vàng dương thế trở thành tiền vàng âm phủ để dùng chung cho cả người lẫn ma. Nguyễn Văn Bình.

- Thạc sĩ "Lăng Tần Tứ Đại Ngu" Hoàng Hữu Phước chê dân trí ta còn thấp nên chưa cần có luật biểu tình!. Ông này tự xưng là Lăng Tần tức là "Ca Lăng Tần Già" là con chim ngậm xâu chuỗi bay theo đức Phật trong kinh "Lăng Nghiêm". Ấy thế mà trước khi chiến tranh Irac nổ ra với chiến dịch "Bão táp sa mạc" của Mỹ thì Lăng Tần Tứ Đại Ngu gởi thư cho Saddam Hussein xin cho làm "Đại sứ đặc mệnh toàn quyền" chu du thiên hạ uốn ba tấc lưỡi Tô Tần hiến kế liên hoành, tạo thế 3 chân vạc để ngăn cản Hoa Kỳ gây chiến. Cũng may Hussein biết ông là "Con CHIM ngậm xâu chuỗi" là "người cõi trên" nên đã ném bức thư vào sọt rác. Cũng nhờ thế mà Mỹ đỡ tốn thêm một cây cột và chiếc thòng lọng để đưa ông theo hầu hạ hôm sớm cho Saddam ở cõi mù khơi.

Trên đây chỉ là tiêu biểu một số nhân vật nửa người, nửa ngợm... lèo lái con thuyền Quốc Gia xông pha ra biển lớn. Còn hàng vạn các vị "Đại học sĩ" như thế nhan nhản khắp hang cùng đất nước từ bãi tha ma đến nhà xí không nơi nào mà không có. Với một bầy đàn lãnh đạo đất nước như vậy thì rõ là thời "Mạt Trí", chế độ CSVN dứt khoát phải diệt vong.

Tôi xin mượn hai câu thơ của nhà Chí Sĩ, Thi Sĩ Nguyễn Khuyến thay lời kết.

"Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh chọe.
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!"


30/6/2013

* Hai tác phẩm của GSTS Lm Thanh Lãng. Hai tác phẩm này được đưa và giảng dạy ở ban Việt-Hán Đại học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975

ĐIỂM BÁO RFI: THƯƠNG MẠI - "Made in Italy" : Đích ngắm mới của giới đầu tư Trung Quốc + Thượng đỉnh Châu Âu + Các kỹ thuật làm lạnh Trái đất : Lợi bất cập hại

Thứ sáu 28 Tháng Sáu 2013


Rượu vang Chianti của Ý trưng bày ở triển lãm Quảng Châu, ngày 04/06/2013. Rượu này  đã lọt vào tầm kiểm soát của Trung Quốc.
Rượu vang Chianti của Ý trưng bày ở triển lãm Quảng Châu, ngày 04/06/2013. Rượu này đã lọt vào tầm kiểm soát của Trung Quốc.
Reuters

Trọng Thành
Nhật báo kinh tế Les Echos hôm nay có bài viết đáng chú ý mang tựa đề « Made in Italy : Đích ngắm mới của các nhà đầu tư Trung Quốc ». Mục tiêu của các doanh nhân Trung Quốc là tìm kiếm các công nghệ mới, các nhãn mác danh tiếng và các liên minh chiến lược với doanh nghiệp Ý. 




Tại nước Ý, hiện tại có tổng cộng 41.000 doanh nghiệp do người Trung Quốc lập ra,tăng gấp 2,3 lần so với cách đây 10 năm. Từ hai năm trở lại đây một loạt các doanh nghiệp hàng đầu của nước Ý, như Ferretti - tập đoàn đóng tàu du lịch, công ty giày dép hạng sang Ferragamo, rượu vang Chianti … lần lượt rơi vào tay giới chủ Trung Quốc. Và trong thời gian tới, không loại trừ các công ty như nhà sản xuất lốp (vỏ) xe hơi Pirelli hay công ty điện thoại di động Telecom Italia Mobile. Một ví dụ nữa là, sau khi nắm được Cifa - nhà sản xuất bê tông và máy xây dựng đứng đầu nước Ý – tập đoàn Trung Quốc Zomlion đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư mới.
Làn sóng đầu tư ồ ạt từ Trung Quốc gây lo ngại. Ông Giorgio Squinzi, nhân vật số một của Confindustria, một tổ chức của giới chủ Ý, cảnh báo : « Dưới áp lực của chính sách khắc khổ và thắt lưng buộc bụng, chúng ta đứng trước nguy cơ mất đi những cổ phiếu tốt nhất với giá bèo ». Tuần báo Ý L’Espresso số ra mới nhất đưa ra thống kê : Tại nước Ý, hiện tại có tổng cộng 41.000 doanh nghiệp do người Trung Quốc lập ra, tăng gấp 2,3 lần so với cách đây 10 năm.
Việc Dagong Europe - công ty thẩm định tài chính Trung Quốc – bắt đầu chính thức hoạt động từ đầu tháng này tại thành phố Milan nước Ý, được báo giới rất chú ý. Công ty thẩm định tài chính Dagong Europe có thể được các doanh nghiệp Trung Quốc sử dụng như một hoa tiêu để tìm kiếm các công nghệ mới và sở hữu các nhãn mác uy tín. Trong một trả lời phỏng vấn báo giới, đại sứ Trung Quốc tại Ý không che giấu việc các doanh nghiệp Trung Hoa coi Ý là một trong các quốc gia châu Âu có nhiều khả năng nhất trong việc giúp cho Trung Quốc chuyển từ vị trí « phân xưởng của thế giới » trở thành nơi sản xuất các ý tưởng mới.
Ông Lorenzo Stanca, đồng sáng lập Dagong Europe, khẳng định nhiều nhà đầu tư Trung Quốc đang sẵn sàng mua lại các cổ phần trong lĩnh vực cơ khí và điện tử. Tuy nhiên, ông Lorenzo Stanca cũng nhấn mạnh đến thái độ rất thận trọng của các doanh nhân Trung Quốc khi quyết định đầu tư vào « các nền kinh tế trưởng thành » như ở Châu Âu, « họ cảm thấy (đầu tư) ở Châu Phi thoải mái hơn ». Theo báo Les Echos, làn sóng đầu tư từ Trung Quốc gần đây có thể gây rất nhiều chú ý, dường như chưa đủ lớn để bị người Ý gọi là « razzi » (xâm lược). Cuối năm 2012, có tổng cộng 79 nhà đầu tư Hoa lục và 52 công ty đa quốc gia Hồng Kông trực tiếp nắm các cổ phần trong các doanh nghiệp Ý, với doanh số tổng cộng 6 tỷ euro.
Theo Les Echos, làn sóng đầu tư vào Ý của doanh nghiệp Trung Quốc có thể mang lại nhiều lợi ích cho chính nước Ý. Việc công ty Trung Quốc SHIG-Weichai mua lại hãng đóng tàu du lịch Ferreti mang lại cho công ty này nhiều đơn đặt hàng từ Trung Quốc. Theo một dự đoán của Lucintel, thị trường Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ tăng vọt từ 1,5 tỷ euro đến 9,2 tỷ trong vòng 10 năm tới. Theo một cựu lãnh đạo UniCredit, trường hợp của công ty đóng giày hạng sang Ferragamo, với 6% cổ phiếu do tỷ phú Hồng Kông Peter Woo nắm giữ, là một ví dụ tiêu biểu cho liên minh đối tác lâu dài Ý – Trung Quốc (« Chinitaly »). Trên thực tế, mác giày nổi tiếng này đã có lịch sử hợp tác 25 năm với Hồng Kông.
Les Echos khép lại với kết luận, việc doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Ý có thể mang lại lợi ích cho cả đôi bên, với điều kiện hai bên khôn khéo trong hợp tác.
Thượng đỉnh Châu Âu
L’Humanité thì tập trung chỉ trích chính sách khắc khổ của Châu Âu nhân cuộc họp của nguyên thủ quốc gia 27 nước với hàng tựa chính trên trang nhất : « Hội đồng Châu Âu : Cặp bài trùng của chính sách khắc khổ » trên nền ảnh tổng thống Pháp François Hollande và chủ tịch Ủy ban Châu Âu Barroso.
« Thượng đỉnh đạo đức giả ở Bruxelles » là tựa đề chính trong hồ sơ này của l’Humanité về cuộc họp các nguyên thủ Châu Âu trong hai ngày hôm qua và hôm nay. Tờ báo mô tả thái độ được coi là giả dối của tổng thống Pháp, làm ra vẻ đối đầu với Liên Hiệp Châu Âu khi ông ở Pháp, để rồi chấp nhận các đòi hỏi của Châu Âu một khi đến Bruxelles, cụ thể trong vấn đề kéo lùi tuổi về hưu.
L’Humanité cũng đưa ra một cái nhìn chung hơn về việc các lãnh đạo Châu Âu buộc phải phê chuẩn các khuyến nghị về chính sách kinh tế do Ủy ban Châu Âu thảo ra, với nội dung chính là « chính sách cải tổ kinh tế tân tự do ». Hôm qua, các chủ tịch Ủy ban, Hội đồng và Nghị viện Châu Âu, đã đạt được thỏa thuận về ngân sách châu Âu 2014-2020, với số tiền 960 tỷ euro, thấp hơn số tiền do Nghị viện Châu Âu đề xuất. Theo các nghị sĩ đảng Cánh tả châu Âu thống nhất, việc chủ tịch Nghị viện đồng ý với thỏa thuận mà không tham khảo các nhóm nghị sĩ trong Nghị viện là « coi thường các nguyên tắc dân chủ ». Bên cạnh đó, Liên hiệp các nghiệp đoàn Châu Âu nhất trí hoàn toàn thông qua một văn bản lên án chính sách khắc khổ áp đặt lên toàn khối hiện nay.
Cũng về chủ đề này, Le Monde có bài : « Bất đồng giữa tổng thống Pháp và chủ tịch Ủy ban Châu Âu gây căng thẳng Hội đồng Châu Âu », với nhận xét là, ngoài sự đối đầu kể trên, giữa ông Hollande và ông Barroso xung quanh chủ đề loại bỏ ngành nghe nhìn ra khỏi các đàm phán mậu dịch tự do với Hoa Kỳ và một số bất đồng khác liên quan chẳng hạn đến phát biểu chỉ trích ông Barrosso của bộ trưởng phục hồi công nghiệp Pháp, thì không có bất cứ một đột phá nào trong các lĩnh vực lớn đang là thời sự, như thất nghiệp ở giới trẻ hay cuộc chiến đẩy lùi khủng hoảng kinh tế. Le Monde ghi nhận, cuộc họp của các nguyên thủ 27 nước không đưa ra được một biện pháp nào, dù là nhỏ nhất, để củng cố liên minh tiền tệ Châu Âu và ngăn ngừa nguy cơ suy thoái kéo dài.
Về hồ sơ này, tờ báo kinh tế Les Echos nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của thỏa thuận vừa đạt được qua bài « Sau một thỏa hiệp về ngân sách, Châu Âu tấn công vào chủ đề thất nghiệp của thanh niên ». Khác với mô tả về không khí căng thẳng của hội nghị theo Le Monde, Les Echos lưu ý đến sự thoải mái của các lãnh đạo 27 nước, sau khi đạt được thỏa hiệp trong nhiều hồ sơ nan giải trong đêm thứ Tư qua ngày thứ Năm, như quy chế phá sản của các ngân hàng và đặc biệt là vấn đề ngân sách nhiệm kỳ tới.
Mục tiêu mới số 1 được các thành viên Châu Âu thống nhất là chống nạn thất nghiệp ở giới trẻ, với khoảng 6 triệu công dân Châu Âu dưới 25 tuổi. Như vậy, thỏa thuận mới đạt được là dành 6 tỷ euro để giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên, trong hai năm 2014-2015. Tiếp theo đó, các lãnh đạo Châu Âu cũng cam kết tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm 95% số doanh nghiệp của Liên hiệp, được tiếp cận dễ dàng với tín dụng. Bên cạnh đó, 3,5 tỷ euro sẽ được dành để hỗ trợ những người khó khăn nhất trong 7 năm (2014-2020). Lãnh đạo hai nhóm chính trị lớn nhất ở Nghị viện Châu Âu, đảng cánh tả Xã hội chủ nghĩa và đảng cánh hữu Nhân dân Châu Âu (PPE), đều tỏ vẻ tương đối hài lòng với thỏa thuận vừa đạt được.
Brazil, khủng hoảng tăng trưởng hay cách mạng ?
Về thời sự quốc tế, phong trào biểu tình chống tham nhũng, dịch vụ công yếu kém và chi phí khổng lồ dành cho giải bóng đá thế giới 2014, kéo dài hai tuần nay tại Brazil, huy động cả triệu người tham gia, được công luận chú ý. Để giải mã về phong trào được coi là có quy mô lớn nhất kể từ 20 năm tại quốc gia Nam Mỹ này, tờ Le Monde có hồ sơ « Brazil, khủng hoảng tăng trưởng hay cách mạng ? », với 5 tiếp cận khác nhau của các học giả, nhà chính trị và nhà văn.
« Dilma Rousseff buộc phải cải tổ khẩn trương », bài viết của giảng viên Pháp Stéphane Monclaire, nhận định, nếu không có cuộc khủng hoảng xã hội và chính trị hiện tại, thì ắt hẳn tổng thống Rousseff đã không có bước đi mạo hiểm đưa cải cách chính trị vào lịch trình hoạt động, bởi có rất nhiều trở ngại trong hệ thống chính trị hiện nay tại Brazil đối với một cuộc cải cách như vậy.
Bài « Cư dân Brazil phải thu được lợi ích từ World Cup » của nghị sĩ đảng cầm quyền Romario de Souza Faria, cựu vận động viên bóng đá quốc tế, thì lưu ý đến tuyệt đại đa số trong 82 công trình phục vụ giải bóng đá thế giới đã không được thực hiện đúng tiến độ và không tuân thủ ngân sách quy định. « Đây là một nỗi ô nhục của chính phủ và điều này trở thành một lý do hoàn toàn chính đáng cho sự phản đối của dân chúng », nghị sĩ nhận xét.
Bài viết của ông Yves Fauré, nhà nghiên cứu – giáo viên thỉnh giảng tại Brazil, thì nói đến vai trò của các thành phần trung lưu mới trong phong trào này. Một trong các lý do chủ yếu để giải thích việc vì sao họ lại đột ngột tham gia đông đảo trong phong trào xã hội này, được nhà nghiên cứu đưa ra, là do trong hoàn cảnh bình thường, những người này không có các phương tiện (áp lực hay đàm phán) để tác động đến các chính sách công của nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ công...
Các kỹ thuật làm lạnh Trái đất : Lợi bất cập hại
« Công nghệ làm lạnh hành tinh đã không ra đời » là bài viết của Le Figaro, giới thiệu một cách giải thích, vì sao một loạt các công nghệ trong lĩnh vực này rốt cuộc lại không được sử dụng vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu.
Vào năm 1991, một hiện tượng được quan sát thấy là tro bụi một núi lửa lớn ở Philippines phun lên bầu trời tạo thành các đám mây bụi, đã làm hạ nhiệt không khí khoảng 1/10°C trong vòng hai, ba năm. Tuy nhiên, các quan sát cho thấy là, điều nay không mang lại lợi ích lâu dài, vì một khi mây bụi biến mất, khí hậu nóng trở lại nhanh chóng, và với cường độ rất mạnh.
Một công nghệ khác là bỏ phosphore và sắt vào nước biển để tăng mức độ hấp thụ CO2 của đại dương rút cục cũng không được dùng, vì có thể thúc đẩy sự phát triến của các loài tảo siêu nhỏ, tạo ra các chất độc và sử dụng rất nhiều ôxy của môi trường.
Ngay cả công nghệ tích trữ CO2 dưới lòng đất, dù đã có nhiều tiến bộ, nhưng rút cục cũng bị bác bỏ. Trong khi đó, việc trồng rừng mới tại các vùng sa mạc không mang lại một giải pháp trước mắt, vì rừng non hút ánh sáng mặt trời nhiều hơn sa mạc và sau đó tỏa ra nhiều nhiệt hơn. Tìm ra giải pháp hạ sốt cho Trái Đất quả là việc không hề đơn giản.
Trang nhất các báo Pháp
Chi phí công tại Pháp và Châu Âu là chủ đề chính được báo chí Pháp hôm nay quan tâm. Tờ Le Monde chạy tựa : « Cơ quan kiểm toán tài chính công quốc gia yêu cầu (chính phủ) cắt bỏ khẩn cấp các chi phí xã hội ». Trang nhất Les Echos là hàng tít : « Cắt bỏ chi phí : chính phủ bị dồn vào chân tường ». Paris sẽ buộc phải tiết kiệm thêm 28 tỷ euro trong hai năm 2014 và 2015 để thực hiện được các cam kết với châu Âu. Le Figaro thì tập trung vào một khía cạnh khác : « Thẩm kế viện tố cáo cái giá của các công chức », với nhận định : Do khủng hoảng và các cải cách cấu trúc, nước Pháp sẽ phải có nhiều nỗ lực hơn dự kiến để giảm bớt thâm hụt ngân sách.
Bài « Tàu siêu tốc dùng để làm gì ? », trang nhất Libération, ghi nhận việc chính phủ Pháp ra chủ trương mới, hỗ trợ sự phát triển của các phương tiện giao thông ở khoảng cách gần và « có hiệu quả », và lui lại việc khởi công các đường tàu siêu tốc mới, vì giá thành xây dựng và bảo trì quá đắt đỏ.
Sự kiện khai màn giải đua Xe đạp vòng quanh nước Pháp ngày mai là chủ đề trang nhất báo La Croix : « Nước Pháp, nữ hoàng của cuộc đua vòng quanh nước Pháp », với nhận xét có phần chua chát : « Sự hấp dẫn của cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp lần thứ 100, khai mạc ngày mai, đến nhiều hơn từ vẻ đẹp mê hoặc lòng người của các phong cảnh mà đoàn đua đi qua, hơn là từ các vận động viên, mà nhiều người trong số họ bị nghi ngờ sử dụng doping ».
tags: Châu Á - Thương mại - Trung Quốc - Ý - Điểm báo

ĐIỂM BÁO: PHÁP - Mây đen doping vẫn che phủ bầu trời Tour de France 2013 + Croatia trở thành thành viên chính thức châu Âu + Chuyến công du châu Phi không dễ chịu của ông Obama + Ai Cập : Làm lại Cách mạng mùa xuân ?

 Thứ bảy 29 Tháng Sáu 2013
Đội Sky Riders của Anh chuẩn vị tham gia lễ khai mạc Tour de France 2013 tại Porto Vecchio (REUTERS /J.P Pelissier)
Đội Sky Riders của Anh chuẩn vị tham gia lễ khai mạc Tour de France 2013 tại Porto Vecchio (REUTERS /J.P Pelissier)

Anh Vũ
Hôm nay, 29/6/2013 cuộc đua xe đạp Vòng quanh nước Pháp – Tour de France lần thứ 100 khởi phát từ đảo Corse. Chưa bao giờ Tour de France lại thu hút sự chú ý của báo chí như lần này. Phải chăng bởi mốc lần thứ một trăm hay bởi những tai tiếng sử dụng doping ngày càng trở nên đại trà trong cuộc đua xe đạp danh tiếng hàng đầu thế giới ?

Tour de France xuất hiện trên trang nhất của hầu hết các báo Pháp hôm nay. Cũng là tất nhiên bởi đây là một trong những sự kiện thể thao lớn nhất của nước Pháp và làng đua xe đạp quốc tế. Bắt đầu từ hôm nay 29/06 và kết thúc ngày 18/07/2013 tại điểm đến truyền thống đại lộ Champs Elysée của thủ đô Paris, Tour de France 2013 dự kiến sẽ thu hút 12 triệu khán giả tới dọc các tuyến đua dài 3404 km.
Cuộc đua được truyền hình đến 190 nước. Hơn một nghìn các báo đài, hãng thông tấn tham gia đưa tin về sự kiện. Những con số cho thấy tầm cỡ và uy tín của cuộc đua xe đạp Vòng quanh nước Pháp có bề dày lịch sử hơn 100 năm. Tuy nhiên các hàng tựa trên các báo Pháp ra trong ngày khởi phát cuộc đua lại cho thấy đám mây đen doping lại phủ lê bầu trời ngày hội của Tour de France vốn từ hơn một thập kỷ nay không được sáng sủa gì.
Điểm qua các tựa lớn người ta thấy : Trang nhất Libération là bức ảnh một tay đua phủ gần kín khổ báo với hàng tựa « Tour de France, lịch sử đầy nặng nề », Le Figaro thì hẳng thắng nhận xét : « Doping làm lu mờ Tour de France thứ 100 », Le Monde trích dẫn : « Không thể chiến thắng Vòng đua mà không dùng doping », phát biểu của Lance Armastrong trong bài phỏng vấn đặc biệt dành cho tờ báo ngay trước khi cuộc đua khởi phát. Tay đua người Mỹ này nổi tiếng với thành tích 7 lần vô địch Tour de France nhờ… doping.
Xã luận của tờ Le Monde chạy hàng tựa với giọng trì chiết « Vòng đua lớn, gian trá lớn ». Với Tour de France lần thứ 100, lần đầu được khởi phát từ đảo Corse, hòn đảo đẹp nhất nước Pháp, các tay đua và các nhà tổ chức đang hy vọng vòng đua lần này sẽ thoát ra được khỏi cái bóng doping vẫn đang đeo đuổi đoàn đua Tour de France từ 15 năm nay.  Theo Le Monde, dường như đó vẫn là một mơ ước ngây thơ. Các nhà tổ chức cuộc đua, công ty Amaury Sport Organisation và Liên đoàn xe đạp quốc tế ( UCI) vẫn nghĩ rằng gạch tên được Lance Armstrong ra khỏi bảng thành tích là có thể xóa sạch dấu vết đã qua.
Thế nhưng chính tay đua từng 7 lần chiến thắng cuộc đua này (1999-2005) dù đã bị hạ bệ và phải chấm dứt sự nghiệp vì sử dụng thuốc kích lực, trong cuộc phỏng vấn của Le Monde đã nói thẳng ra rằng « Tôi không sáng tạo ra doping và doping cũng sẽ không dừng lại cùng với tôi ». Tay đua này còn khẳng định như trường hợp của anh thì « không thể chiến thắng cuộc đua mà không dùng thuốc kích lực ».
Ngược lại thời gian thì thấy, người chiến thắng Tour de France 1997, tay đua người Đức Jan Ullrich mới đây cũng vừa thú nhận có sử dụng doping. Năm 2006 người đồng hương của Lance Armstrong là tay đua Floy Landis cũng đã phải trả lại chiếc áo vàng chiến thắng. Chưa hết, năm 2010, tài năng mới nổi của làng đua xe đạp thế giới, tay đua người Tây Ban Nha Alberto Contador cũng lại bị phát hiện dương tính với doping ngay sau khi vừa giành được chiến thắng.
Le Monde nhận thấy, Tour de France không còn giữ được uy tín thể thao. Một thăm dò dư luận vừa thực hiện hồi tháng 5 cho thấy hơn 40% người dân Pháp sẽ không xúc động gì nếu ngay ngày mai Tour de France bị dẹp bỏ. Điều này cho thấy cuộc đua danh giá này đang bị đe dọa, cần phải cứu lấy thanh thế uy tín cho cuộc đua.
Điều này đã được thể hiện bằng một quyết tâm từ các nhà quản lý chuyên môn cho đến các nhà chính trị của Pháp. Thậm chí Thượng việ cũng phải quan tâm. Sau vụ Armstrong, các thượng nghị sĩ Pháp đã cho lập một ủy ban điều tra về tính hiệu quả của cuộc đấu tranh chống doping. Không ít trường hợp sử dụng thuốc sẽ còn bị ủy ban này phát lộ trong thời gian tới.
Xã luận Le Monde kết luận, để vòng đua Tour de France có được xuất phát mới thì từ các tay đua, các nhà quản lý đội đua, lãnh đạo, nhà tổ chức, các nhà tài trợ và cả báo chí, từ lâu nay vẫn nhắm mắt làm ngơ thì giờ đây phải cùng tham gia tiếp sức nhau trong cuộc chiến chống doping.
Dù gì thì đối với người Pháp nói chung và người hâm mộ môn đua xe đạp nói riêng thì Tour de France không chỉ là sự hâm mộ, say mê mà còn là niềm tự hào. Với hơn 100 năm tồn tại, cuộc đua đường trường kéo dài gần 3500 km qua các địa danh lịch sử và thắng cảnh của nước Pháp, Tour de France với người Pháp vẫn là một sự kiện vượt ra ngoài tầm thể thao.
Đó là lịch sử, là lễ hội là văn hóa, là giá trị tinh thần và tất nhiên không thể thiếu kinh tế. Bởi vậy xã luận Le Figaro vẫn hy vọng Tour de France 2013 với cái mốc lần thứ 100 sẽ là « một chút không khí trong lành cho một kỷ nguyên mới. Người ta vẫn đang mơ ước mở ra một chu kỳ mới ». Trong khi đó Libération cũng mong muốn một Tour de France « tôn vinh thực sự cho những người anh hùng thực sự. Không có những màn dàn cảnh giả tạo cho một huyền thoại được thổi phồng từ bấy lâu nay ». 
Chuyến công du châu Phi không dễ chịu của ông Obama
Chuyển qua các tin tức thời sự quốc tế, các báo chú ý tới chuyến công du châu Phi của tổng thống Mỹ Barack Obama. Le Monde trở lại điểm đến đầu tiên của ông Obama tại Dakar Sénégal. Với hàng tựa « Tại Dakar, Barack Obama ca ngợi mô hình dân chủ của Sénégal ». Tuy nhiên, theo tờ báo ở điểm dừng chân đầu tiên này tổng thống Mỹ có vẻ không đưa ra được thông điệp về sự hiện diện trở lại của Hoa Kỳ tại lục địa Phi.
Tờ báo nhận định, hôm 27/06 tại Dakar, tổng thống Mỹ « đã rất khó khăn để tập trung vào thông điệp ông định mang tới đây đó là : « Với những đồng đô la viện trợ, đầu tư, Hoa Kỳ đang trở lại châu Phi, nhất là ở những nước như Sénégal được đánh giá là học trò giỏi » trong lĩnh vực dân chủ.
Theo tờ báo thì có lẽ những chuyện thời sự như tình hình sức khỏe nguy kịch của ông Nelson Mandela, vụ nhân viên mật vụ Edward Snowden đã làm phân tâm tổng thống Mỹ. Tờ báo cũng nhận xét là chỉ vài bước chân cách dinh thổng thống Sénégal nơi 2 vị tổng thống gặp nhau, đó là cảnh nghèo khổ của người dân bày ra khắp phố. Nơi đây một nửa dân số vẫn đang phải sống với chưa đầy 2 đô la mỗi ngày.
Trong khi đó báo Libération thì lại chỉ trích chuyện bảo đảm an toàn cho tổng thống Obama tại Sénégal là không cân xứng với việc huy động một lực lượng bảo vệ hùng hậu từ trong đất liền ra đến tận ngoài khơi. Tờ báo cho rằng việc bảo vệ an ninh cho tổng thống Mỹ như vậy là quá mức cần thiết trong khi mà mối đe dọa không lớn vì Sénégal vẫn là nước được ông Obama cho là thanh bình và ổn định chính trị nhất khu vực.
Vẫn là chuyến công du châu Phi của ông Obama, Le Figaro gắn chuyến đi của tổng thống Mỹ đến Nam Phi hôm nay với tình trạng sức khỏe đang nguy kịch của Nelson mandela với hàng tựa : Obama tới Pretoria, Nam Phi cầu nguyện cho Nelson Mandela.
Tờ báo cho biết, những thông tin trái ngược nhau về tình trạng sức khỏe của cựu tổng thống Nam Phi vẫn tiếp tục lan truyền. Hôm qua, gia đình của Nelson Mandela khẳng định trước báo giới là tình trạng sức khỏe của cựu tổng thống Nam Phi, nay đã 94 tuổi nhập viện từ 3 tuần quan đã được « cải thiện nhiều » nhưng vẫn « nghiêm trọng ».
Người dân Nam Phi vẫn không ngừng cầu nguyện cho người anh hùng dân tộc của họ dù vẫn ý thức được rằng « Madiba » đang sống những thời khắc cuối cùng của cuộc đời. Câu hỏi được đặt ra cho chuyến đi của tổng thống Mỹ tới Nam Phi lúc này là liệu ông Barack Obama có tới thăm Madiba hay không ? Một câu hỏi khá tế nhị cho tổng thống Mỹ trong chuyến công du này. 
Ai Cập : Làm lại Cách mạng mùa xuân ?
Vẫn là tình hình thời sự châu Phi, nhật báo Le Figaro quan tâm đến dịp đánh dấu một năm tổng thống Mohamed Morsi lên cầm quyền ở Ai Cập. Tờ báo chạy tựa : « Ai cập tổng kết những thất bại của Morsi ». Tờ báo nhận thấy « một năm sau khi bầu lên vị tổng thống Hồi giáo, dân chúng Ai cập đã mất hết ảo tưởng và đang chuẩn bị biểu tình vào ngày mai (30/06) và họ sẽ lại đối mặt với những người trung thành với Morsi.
Nguy cơ một cuộc « nội chiến » đang cận kề. Lo ngại xảy ra hỗn loạn đã lên đến cao độ mà một số người trong đảng Huynh đệ Hồi giáo phải lên tiếng kêu nhắc nhở các bên phải hết sức kiềm chế. Không chỉ các đảng thế tục mà đến giờ gần 60% dân Ai Cập đều cho rằng ông Mohamed Morsi đã « thất bại hoàn toàn, không đáp ứng được mong chờ của cuộc cách mạng » mùa xuân.
Nhật báo Libération cũng có chung nhận xét : Ai Cập, một dịp kỷ niệm thổi bùng tàn lửa. Tờ báo ghi nhận, lúc này « dường như người Ai cập đang chờ đợi tia lửa làm bùng lên thùng thuốc súng. Không xa quảng trường trong thủ đô, các chiến xa của quân đội đã được triển khai, họ cũng đang sẵn sàng để can thiệp ». 
Croatia trở thành thành viên chính thức châu Âu
Trở lại với thời sự châu Âu, bắt đầu từ ngày 01/07/2013 tới, Croatia chính thức là thành viên thứ 28 của Liên hiệp châu Âu. La Coix chạy tựa lớn trang nhất : Người Croatia, những láng giềng của của chúng ta ». La Croix dành cả bốn trang báo cho hồ sơ này để tìm hiểu tâm trạng của người dân Croatia khi gia nhập vào gia đình Liên hiệp châu Âu.
Cuộc khủng hoảng kéo dài của EU đã làm nguội bớt không khí hào hứng của người dân Croatia. Tuy nhiên, đa số trong 4,2 triệu dân của quốc gia nhỏ ở đông Âu này vẫn coi đây là một sự kiện lớn. Báo Libération cũng ghi nhận tâm trạng lo lắng về cái được và cái mất của không ít người Croatia khi đất nước gia nhập vào Liên hiệp châu Âu.
Cùng lúc đón nhận Croatia, Liên hiệp châu Âu, hôm 28/06/2013 cũng mở cửa xét đơn xin gia nhập cho Serbia, một cựu thù của Croatia trong cuộc chiến tranh Nam Tư năm 1991.
tags: Pháp - Thể thao - Điểm báo

PHÂN TÍCH - Trung Quốc, động cơ thúc đẩy trục liên kết Mỹ-Nhật-Philippines ?

Thứ bảy 29 Tháng Sáu 2013
Tàu ngầm Mỹ ghé hải cảng Philippines tiếp tế nhiên liệu  29/05/2013 (Reuters)
Tàu ngầm Mỹ ghé hải cảng Philippines tiếp tế nhiên liệu 29/05/2013 (Reuters)

Đức Tâm
Phải chăng sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự của Trung Quốc đi cùng với thái độ hung hăng, hăm dọa các nước trong các tranh chấp chủ quyền biển đảo đã tạo thuận lợi cho Hoa Kỳ thực hiện chiến lược “xoay trục” sang châu Á, thúc đẩy Nhật Bản và Philippines tăng cường hợp tác với nhau ?

Tạp chí trên mạng The diplomat.com số ra ngày hôm nay, 29/06/2013, cho rằng đúng như vậy, qua bài viết « Trục Mỹ - Nhật – Philippines, một sản phẩm của Trung Quốc? ». Theo tạp chí, từ lâu nay, giới nghiên cứu quan hệ quốc tế thường lập luận rằng đứng trước một mối đe dọa an ninh quốc gia, các nước chỉ có hai cách để đối phó.
Thứ nhất là tăng cường nội lực, nâng cao khả năng quốc phòng. Tuy nhiên, nếu phải đối mặt với một cường quốc quá mạnh, thì các nước này buộc phải tìm cách liên minh với bên thứ ba. Các động thái tại Đông Nam Á và Đông Bắc Á trong thời gian qua đã chứng minh cho lập luận nói trên.
Sau vụ tàu Trung Quốc và Philippines đối mặt với nhau trong nhiều tuần lễ ở bãi đá Scarborough, hồi năm ngoái, chính quyền Manila đã đưa ra kế hoạch 1,8 tỷ đô la để hiện đại hóa quân đội, tập trung vào việc mua vũ khí, phương tiện quân sự. Tình hình tương tự tại Nhật Bản.
Sau các căng thẳng do tranh chấp chủ quyền quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, đặc biệt từ tháng 09/2012, chính quyền Shinzo Abe trong tháng Giêng năm nay, đã hai lần đề nghị tăng chi phí quân sự. Trước đó, từ năm 2002, Nhật Bản không hề tăng ngân sách quốc phòng. Đồng thời, Tokyo còn cho phép mở rộng phạm vi tác chiến của quân đội Nhật Bản.
Thế nhưng, các nỗ lực bên trong của Philippines và Nhật Bản cũng không thể giúp hai nước này cạnh tranh với Trung Quốc về lâu dài. Tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc lớn gấp 30 lần so với Philippines. Do vậy, cùng với việc tăng cường sức mạnh quân sự, Manila tìm kiếm sự hỗ trợ của ASEAN, của Mỹ, đưa vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc ra tòa án quốc tế, tăng cường hợp tác với Nga và gần đây nhất là với Nhật Bản.
Cho dù hiện nay, Nhật Bản có thể bảo vệ được quần đảo Senkaku/Điếu Ngư nếu Trung Quốc tấn công quân sự, nhưng về lâu dài, sẽ không có lợi cho Tokyo. Chấp nhận thực tế này, Nhật Bản đẩy mạnh quan hệ với ASEAN, Hoa Kỳ, Nga, Đài Loan, Ấn Độ, Philippines, thậm chí cả các nước ở Trung Cận Đông và kêu gọi các nước châu Âu vốn có quan hệ lịch sử với châu Á, tăng cường vai trò trong khu vực.
Trong tuần, bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera đã công du Philippines và bầy tỏ cảm thông với Manila trong hồ sơ tranh chấp chủ quyền biển đảo với Bắc Kinh. Ông nói: « Phía Nhật Bản rất lo ngại là tình hình ở Biển Đông có thể tác động đến tình hình tại biển Hoa Đông ».
Chuyến công du của bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản trùng với thời điểm Mỹ và Philippines cùng tập trận gần bãi đá Scarborough, còn Manila thông báo có kế hoạch hiện đại hóa các cơ sở hạ tầng phục vụ hải quân và không quân trong căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại vịnh Subic, đồng thời bộ trưởng Quốc phòng Philippines khẳng định sẽ tạo thuận lợi cho quân đội Mỹ tiếp cận các căn cứ này.
Bên cạnh các hiệp định liên minh quân sự, an ninh Mỹ-Nhật, Mỹ - Philippines, tạp chí The Diplomat khẳng định, như vậy, chính Trung Quốc đã tạo dựng ra trục liên minh Mỹ-Nhật-Philippines. Thế nhưng, các lãnh đạo cấp cao Trung Quốc lại không nhìn thấy hậu quả các hành động của họ và cho đến lúc này, Bắc Kinh vẫn khẳng định chủ yếu là do âm mưu, thao túng của Washington.
The Diplomat nhắc lại nhận định của giáo sư Joe Nye, trong hơn 15 năm qua, kể từ thời tổng thống Bill Clinton, các chính quyền Mỹ đều bác bỏ chiến lược chống Trung Quốc vì cho rằng rất khó thuyết phục các nước tham gia liên minh chống Trung Quốc trừ phi Trung Quốc sử dụng chiến thuật đe nẹt, giống như Liên Xô đã từng làm sau đại chiến thế giới thứ hai. Chỉ có Trung Quốc, qua cách hành xử của họ, mới có thể giúp các nước tổ chức chống Trung Quốc. Nói một cách khác, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh đã tạo thuận lợi cho công việc của Washington.


tags: Châu Á - Hoa Kỳ - Nhật Bản - Philippines - Quốc tế - Trung Quốc

Friday, June 28, 2013

TỰ DO - HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI Bài viết rất hay. Bạn đọc rồi hay chưa đọc cũng mời đọc thêm một lần, nhất là các bạn trẻ, để biết thế nào là "cộng sản".


  • HỒI KÝ CỦA MỘT NGƯỜI HÀ NỘI
    Với bút hiệu tựdo ‒ chữ thường, viết liền ‒ ông Nguyễn Văn Luận là tác giả bài “Người tìm tự do và tượng thần tự do” đã được bình chọn trúng giải chính thức trong giải sơ kết 3 tháng Giải Thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ. Tác giả sinh năm 1937, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

    tự do
    Ông Hòa là cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bị Cộng sản bắt đi tù năm 1975, sang Mỹ theo diện HO. Tôi gặp ông tại một tiệc cưới, trở thành bạn, thường gặp nhau bởi cùng sở thích, nói chuyện văn chương, thời thế, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.

    Một lần tới thăm, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi, “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à...?”

    Nghe hỏi tự nhiên nên tôi chỉ cười, “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi, ...nữa là bác!”

    Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam. Rồi thêm nhiều lần nữa và 2 lần “vượt biển”, vẫn không thoát. Chịu đủ các “nạn” của chế độ cộng sản trong 27 năm ở lại miền Bắc, tôi không tị nạn, mà đi tìm Tự Do, trở thành thuyền nhân, đến nước Mỹ năm 1982.
    Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt . Thời gian rồi cũng hiểu nhau.

    Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những giòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội xưa, tặng thế hệ trẻ, và riêng cho những người Hà Nội di cư.

    Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội, thời người cộng sản chưa vận com-lê, đeo cà-vạt, phụ nữ không mặc áo dài.

    Hiệp định Geneva chia đôi nước Việt. Cộng sản, chưa lộ mặt là Cộng sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt lại thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là ...Vẹm!

    Khi họ tiếp quản Hà Nội, tôi đang ở Hải phòng. Dân đông nghịt thành phố, chờ tầu há mồm để di cư.

    Trước Nhà Hát Lớn, vali, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lại. Hiệp định Geneva ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “Tổng tuyển cử” thống nhất. Ai ngờ cộng sản miền Bắc “tổng tấn công” miền Nam!

    Gia đình lớn của tôi, không ai làm cho Pháp, cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu, nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lại. Tôi phải về Hà Nội học.

    Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá, nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựa. Người xuống Hải phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam, người đi Hà Nội là con buôn, mang xăng về bán. Những toa tầu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tầu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn ...

    Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nội. Tầu lắc lư, người va chạm người. Thằng bé ù chạc 15 tuổi, quắc mắt nhìn tôi, “Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường tư tưởng!” Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm, “ngoại ngữ cộng sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và ... tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này ghi trong ngoặc kép).

    Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải mầu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau, vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hãn hữu, như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng.

    Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số “lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu đoàn”, nhận “chỉ thị của Thành đoàn” rồi “phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!” Họ truy lùng... đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn “kiểm tra”, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang “tập trung” tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm “phấn khởi”, lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và “phát biểu của bí thư Thành đoàn”: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là ... “cực kỳ phản động!” Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo...cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip, “tự nguyện “ mang ra “đồn công an”, thế là hết, gia tài của tôi!

    Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem, phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường”, miền rừng núi xa xôi. Tôi chỉ bám Hà Nội được 2 năm là bị “cắt hộ khẩu”, ...đi tù!

    Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về tiếp quản chiếm nhà người Hà Nội di cư. Người Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin dồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

    Âm thầm, tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm, tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm, đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thủy Tạ, đêm nay có ca nhạc, lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nội. Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam”, để rồi bị đấu tố là phong cách tiểu tư sản, rạp xinê Ðại Ðồng phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng ngày qua”, bị kết tội thành “tề ngụy”, hiệu đàn nhỏ phố Cầu Gỗ phải dẹp, vào tổ đan mũ nan, làn mây, sống “tiêu cực” hết đời trong đói nghèo, khốn khổ. Danh ca Minh Ðỗ, Ngọc Bảo, nhạc sĩ Tạ Tấn, sau này làm gì, sống ra sao, “phân tán”, chẳng ai còn dám gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

    “Chỉ thị Ðảng và Ủy ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó”, từ thành thị đến “nông thôn”. Gậy gộc, giây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”. Lý do giết chó, nói là trừ bệnh chó dại, nhưng đó là “chủ trương”, chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo dõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủa. Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở đợi chờ thảm họa.

    Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”. Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động “ thì con nít cởi truồng. Người thành thị, làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị quy là “tư sản bóc lột”? nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”.

    Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị quy là “địa chủ bóc lột, cường hào ác bá ”! Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập”, đã nhẩy lầu, tự tử.

    “Tư sản Hà Nội” di cư vào Nam hết , chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng!”

    Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng, “bắt rễ” “bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ sặc máu ...! Một vài vụ, do “Ðảng lãnh đạo”, “vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực” “tố cáo tội ác” của cha mẹ . Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy suốt mấy mươi năm: “Trung với Ðảng, hiếu với dân ...” là vậy!

    “Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì phải “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”.

    “Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã hội chủ nghĩa là... nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nói. Nói dối để sống còn, tránh bị “đàn áp”, lâu rồi thành “nếp sống”, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an” làm “nòng cốt” chế độ.

    Ở Mỹ, ai hỏi bạn: “How are you?”, bạn trả lời: “I’m fine, thank you”. Ở miền Bắc, thời đại Hồ chí Minh, “cán bộ” hỏi: “công tác” thế nào? Dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời, “...rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng... các nước anh em!”

    Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị “bộ đội biên phòng”giong về Lệ Thủy, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hới. Trải 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp, xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”.

    Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiến kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “luôn luôn cảnh giác”. Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy xụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”!

    Nằm trong xà lim, không có ngày đêm, giờ giấc, nghe tiếng động mà suy đoán “tình hình”. Ánh điện tù mù chiếu ô cửa sổ nhỏ song sắt, cao quá đầu, tôi đứng trên xà lim, dùng ngón tay vẽ chữ lên tường, “liên lạc” được với Thụy An ở xà lim phía trước.

    Thụy An là người Hà Nội ở lại, “tham gia hoạt động “Nhân Văn Giai Phẩm, đòi tự do cho văn nghệ sĩ, sau chuyển lên rừng, không có ngày về Hà Nội. Bà phẩn uất, đã dùng đũa tre chọc mù một mắt, nói câu khí phách truyền tụng: “Chế độ này chỉ đáng nhìn bằng nửa con mắt!”

    Người du lịch Việt Nam, ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung lũng sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột”, nấc lên nức nở, tiếng gà gô, thức giấc, sương mù quanh năm.
    Phố Hàng Ðào Hà Nội, vốn là “con đường tư sản”, có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut. Học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau này. Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn” trở thành Kim Cụt, bị chặt đứt cánh tay đến vai, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết.

    Phố Nguyễn công Trứ gần Nhà Rượu, phía Nam Hà Nội, người thanh niên đẹp trai, có biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn tiểu tư sản”. Không hành lý nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản”, không “tiến bộ”, không có ngày về...! Ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời cao vút, gió núi mây ngàn, thì tiêu tan giấc mơ Tình nghệ sĩ!

    Người già Hà Nội chết dần, thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung” xa rời Hà Nội. Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động”, nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng ... nói dối!

    Tôi may mắn sống sót, dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, 10 năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. “Kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt qua bao khó khăn, gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi sống tại Hải phòng, vùng biển.

    Hải phòng là cơ hội “ngàn năm một thuở” cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tầu, xua đuổi “người Hoa” ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân” tị nạn.

    Năm 1980, tôi vào Sài Gòn, thành phố đã mất tên sau “ngày giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi, nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đây. Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sài gòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị.

    Dân chúng miền Nam “vượt biển” ào ạt, nghe nói dễ hơn nên tôi vào Sài Gòn, tìm manh mối. Gặp cha mẹ ca sĩ Thanh Lan tại nhà, đường Hồ Xuân Hương, gặp cựu sĩ quan Cộng Hòa, anh Minh, anh Ngọc, đường Trần Quốc Toản, tù từ miền Bắc trở về. Ðường ra biển tính theo “cây”, bảy, tám cây mà dễ bị lừa. Chị Thanh Chi (mẹ Thanh Lan) nhìn “nón cối” “ngụy trang” của tôi, mỉm cười:

    “Trông anh như cán ngố, mà chẳng ngố chút nào!”

    “Hà Nội, trí thức thời Tây, chứ bộ...!. Cả nước Việt Nam, ai cũng sẽ trở thành diễn viên, kịch sĩ giỏi!”

    Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở giao thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Saigòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng “Nếu cái cột điện mà biết đi....”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

    Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được Tự Do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá, nhưng nói tiếng Việt với đồng hương, vẫn còn pha chút “ngoại ngữ Việt cộng” năm xưa.

    Cuộc sống của tôi ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng, nên tan nát, thương đau. Khi đã lang thang “đầu đường xó chợ” thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ, làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

    Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ Cộng sản.

    Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ rồi. Cộng sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng “đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hòa bình”. Chế độ Việt cộng “nhất định phải đổ”, đó là “quy luật tất yếu của lịch sử nhân loại”.

    Ôi! “đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ ...!

    ------------------------------------------------------
    Người Tìm Tự Do và Tượng Thần Tự Do

    Tôi đến New York năm 1986, vào dịp kỷ niệm 100 năm tượng thần Tự Do uy nghi, kiêu hãnh trên hòn đảo Tự Do (Liberty Island) của nước Mỹ.

    Khu Mahattan với những tòa nhà chọc trời, ngước mắt trông lên, cảm thấy mình nhỏ bé. Khách du lịch ngỡ ngàng nhìn ngó khắp nơi, thán phục nước Mỹ tự do có tượng thần Tự Do.

    Theo dòng người, tôi bắt đầu từ Battery Park, quẹo vào Castle Clinton, xưa là pháo đài chống quân Anh, nay là nơi bán vé ferry (phà).

    Qua cửa Castle là ra bờ biển đợi phà. Xa xa, nhìn thấy tượng thần giơ cao ngọn đuốc Tự Do trên làn sóng nhấp nhô của Đại Tây Dương bát ngát.

    Tượng thần Tự Do là thần tượng của di dân tứ xứ, người mất tự do trên trái đất này tìm tới nước Mỹ tị nạn. Ai cũng biết tượng thần Tự Do với tên Statue of Liberty, dễ nhớ, không dài như tên nguyên thủy là Liberty Enlighting the World.

    Thời gian chờ đợi xuống phà, đây đó vài người thầm lặng suy tư. Đó là những người mới tới Mỹ. Ngồi bên gốc cây, gió hiu hiu, xào xạc lá, tôi nhìn ra đại dương bao la nhớ lại mảnh đời dĩ vãng.

    *

    Tôi lớn lên tại Hànội, được ăn học đầy đủ trước khi khôn lớn. Năm 14 tuổi, tôi học trường Văn Hóa, ngôi trường định mệnh, sát Hỏa Lò, góc phố Hàng Bông Thợ Nhuộm. Thầy dạy Anh văn, ông Nguyễn Khang, có dáng tài tử xi nê hơn là thầy giáo, ngoài dạy học còn làm ở phòng Thông tin Mỹ, phố Tràng Tiền.

    Năm 1953, phó tổng thống Mỹ Richard Nixon sang thăm Hànội, đã đến thăm trường tôi do thầy Khang mời.

    Ngồi bàn đầu và là học sinh giỏi, thầy bảo tôi đại diện lớp. Sau khi bắt tay trả lời ông Nixon "I am fine, thank you", thầy vui, ông Nixon hài lòng, tôi được nhận quà tặng là một post card tượng thần Tự Do. Sau này vì tấm post card, tôi bị vào xà lim số 8 Hỏa Lò Hànội, dù chẳng ai biết ông Nixon đã tặng tôi.

    Tôi đã tìm được tự do sau 28 năm đọa đày từ khi đất nước chia đôi, khi bức màn tre che kín miền Bắc, tăm tối âm u.

    Cha tôi làm chủ một hãng thầu tại Hải phòng trong khi gia đình vẫn ở Hà Nội. Khi người lính quốc gia cuối cùng rút sang bên kia bờ Bến Hải, cha tôi và gia đình kẹt lại do không hiểu gì về cộng sản và tài sản, cơ ngơi còn đó.

    Đỗ Mười về tiếp thu Hải phòng nói rằng các nhà tư sản vẫn được làm ăn bình thường. Một tháng sau, cha tôi bị tịch thu tài sản. Trở về Hànội, trắng tay, cả nhà sống trong túp lều ở ngoại ô, cha tôi đi đánh giậm, vớt tôm tép trong các ao hồ, rau cháo nuôi vợ con.

    Đấu tố, cải tạo, chửi rủa, cha tôi ngày một tiều tụy hơn những người tiều tụy bị qui là tư sản còn lại trong thành phố. Lời trăn trối khi cha tôi khi nằm xuống là "Cha đã bị lừa, con hãy tìm đường vào miền Nam tự do".

    17 tuổi tôi đi tìm tự do, bị bắt. Chiếc thuyền vượt tuyến giạt vào bờ bắc vĩ tuyến 17. Trải qua 11 trại giam, tôi bị giong về Hỏa Lò Hà Nội, trong xà lim số 8, mỗi xà lim giam một người. Văn nghệ sĩ Nhân Văn-Giai Phẩm chật cứng 4 dãy xà lim.

    Biệt giam, tra hỏi, ép cung, làm sao tôi trả lời được những câu hỏi về chính trị lúc tôi còn nhỏ!

    Từ trường học sang Hoả Lò, tôi chỉ còn nung nấu trong đầu hai tiếng Tự Do. Tôi sẽ đi tìm Tự Do suốt cuộc đời này! Từ đó tôi mang cái "mác": Trốn vào Nam theo địch, rồi dần dần thêm từng dòng "Âm mưu lật đổ chính quyền, phản động, làm tay sai CIA".

    Lý lịch như vậy, sống trong thời điểm khốc liệt nhất của cộng sản Việt Nam, đời tôi còn quãng dài oan nghiệt. Tôi đã lên rừng, xuống biển, sang biên giới Việt Lào, vào miền trung để vượt tuyến vào Nam. Những tháng năm tù tội làm tôi hiểu cặn kẽ về cộng sản. Điều cha tôi đau khổ nói trước khi chết "Cha đã bị lừa..." nay tôi mới hiểu hết.

    Năm 1981, tôi vượt biển lần thứ hai, bằng thuyền buồm đánh cá của một gia đình nghề chài, đi từ Hải phòng tới HongKong sau 26 ngày sóng gió. Định cư tại Mỹ năm 1982, tôi đã tìm thấy Tự Do .

    Mãi suy tư nên lỡ chuyến ferry, phải đợi thêm nửa giờ, chuyến tới. Tôi không bận tâm vì chờ đợi, tôi đã đợi chờ gần nửa đời người, ba mươi phút chỉ là khoảnh khắc .

    Sầu tủi đã trôi đi, chỉ còn vui tươi, hạnh phúc. Tôi còn có thể đợi chờ ngày vui tươi, hạnh phúc trên quê hương không còn cộng sản.

    *

    Xuống ferry (phà), mũi tầu chiếu thẳng Liberty Island, mươi phút, nhìn phía sau, khu Manhattan lô nhô nhà chọc trời mờ dần trong nắng chiều New York, trời xanh lơ không một bóng mây mù. Xa xa, những con tầu lướt sóng, những cánh buồm nhiều mầu sắc đu đưa khiến tôi, trong giây phút, liên tưởng đến hàng trăm tầu thuyền tới cảng, một ngày tị nạn của người Việt Nam.

    Trên ferry người người, tay bắt tay, chào hỏi nhau, mặt rạng rỡ niềm tin, nụ cười chia xẻ. Người ta nói với nhau bằng nhiều thứ tiếng, hiểu nhau bằng chỉ trỏ.

    Những con hải âu bay lượn quanh phà, mấy em bé ngây thơ tung mẩu bánh mì cho chim sà xuống, đôi cánh trắng vẫy chào.

    Phà vào bến, tôi bước lên bờ, thêm kích thích vì cảnh tượng trên đảo. Trước hết là tượng thần Tự Do cao lừng lững trên một building tức là phần bệ đá. Người xếp hàng thành hai cánh cung bao bọc cột cờ, dựng trên sân gạch hình tròn.

    Theo mũi tên và đường dây căng, mất thêm ba phút mới vào được tới bệ, rồi vào khu bảo tàng, giới thiệu công trình trùng tu năm 1980, kiến trúc và lịch sử tượng thần Tự Do. Cô gái Á đông xinh đẹp, tươi cười chào mọi người và kể chuyện. Tôi dừng lại đây lâu hơn một chút, không hiểu hết những gì cô nói, nhưng nhìn sơ đồ, thống kê tài liệu, biết được nhiều điều về pho tượng hình phụ nữ mặc áo choàng này.

    Tượng thần Tự Do hoàn thành năm 1876, do nhà điêu khắc Frederic Auguste Bartholdi tạo hình, cùng kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế, xây dựng, là món quà của người Pháp tặng nước Mỹ.

    Tính từ mặt đất, tượng cao 305 feet (92,99 m), riêng thân tượng cao 151feet (46,50 m) . Bên trong có hai lối lên đỉnh tượng: cầu thang máy lên hết phần bệ đá, cho người già hoặc ai không thích leo từng bậc thang (192 bậc). Còn leo từ đầu, cả thảy 354 bậc thang xoắn ốc. Đầu tượng đội chiếc nón có 7 cánh nhọn xòe ra, tượng trưng cho biển và lục địa ( thời đó chưa biết 5 châu, bốn biển, mới có 7). Vành nón có 25 cửa sổ, đại diện cho 25 viên kim cương quí tìm được trên trái đất. Tay mặt thần giơ cao ngọn đuốc, đêm đêm rực sáng, tay trái giữ tấm bảng trông như quyển sách ghi chữ số La Mã: "July 4th, 1776", ngày thành lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, ta quen gọi là Mỹ.

    Rất ít người dùng thang máy, đa số leo thang bậc lên tới vành nón, chặng cuối của hành trình. Tôi thận trọng bước lên bậc thang thứ nhất, lòng hân hoan khó tả. Mỗi bước leo lên vòng thang xoắn ốc, tới khoảng giữa thân tượng, cảm thấy như vào động tiên.

    Ánh đèn mờ ảo phản chiếu bộ khung sắt chằng chịt, đủ sáng cho ta leo lên, càng cao, phần tượng nhỏ dần vì sắp tới đầu. Bậc thang chỉ vừa một người nên không chen lấn. Trên tôi là cô gái gốc Poland (Balan), tóc vàng óng ánh, người sau tôi là đàn bà Phi châu, trang sức, váy chùng sặc sỡ. Chỉ có tiếng rì rầm vọng từ vách tượng như tiếng kinh cầu bí ẩn. Dòng người lên, xuống như đàn kiến vòng vèo, êm ả trong không khí dịu mát của máy điều hòa nhiệt độ.

    Từ cửa sổ vành nón tượng thần, tôi nhìn ra cánh tay thần Tự Do giơ cao ngọn đuốc soi sáng tinh thần Tự Do cho nhân loại, và rồi nhìn ra Đại tây Dương, nghìn trùng xa cách, nửa vòng trái đất là nước Việt Nam của tôi chưa có Tự Do.

    Chuyến phà về, trở lại Manhattan, trời chiều lắng dịu. Trên phà cũng lắng dịu tiếng người như để tận hưởng một ngày ý nghĩa trong đời là đến tượng thần Tự Do, ghi lại bằng nhiều tấm hình kỷ niệm.

    Người trèo lên đỉnh núi Himalaya hoặc theo khí cầu bay vòng quanh thế giới để lập một kỷ lục, tôi leo lên đỉnh tượng thần Tự Do để trọn vẹn một ước mơ từ nhỏ.

    Hòa nhập vào dòng người New York, tôi đi nốt quãng đời yên vui còn lại của một người đi tìm Tự Do, tìm được Tự Do trên đất Mỹ.

    ------------------------------------------------------
    Bản Tình Ca Của Một Người Tị Nạn
    tự truyện tìm Tự Do của tác giả Nguyễn Văn Luận
    *

    Hai năm sau ngày đất nước chia đôi, từ miền Bắc hoang tàn, tôi lặn lội tới vùng giới tuyến mong vượt thoát vào miền Nam tự do.

    Lần tới gần sông Bến Hải, đêm tối âm u bờ Bắc, tôi đã nhìn thấy cầu Hiền Lương vì bờ Nam rực sáng ánh đèn. Trên cột cờ cao vút, bóng cờ vàng sọc đỏ lung linh. Giọng ca ngọt ngào từ loa treo vọng về miền Bắc:

    "...sông Bến Hải là nơi chia cắt đôi đường...
    hỡi ai... lạc lối... mau quay... về đây ...!"

    Tôi đứng đó chơi vơi định hướng, đăm đăm nhìn cờ vàng bên kia bờ sông lịch sử, uống từng lời ca trong cơn đói khát, rồi bừng tỉnh, lao lên phía trước. Từ đâu đó, mấy cái nón cối xông ra. Tôi bị trói hai tay bằng sợi thừng oan nghiệt, theo nón cối về lại địa ngục trần gian.

    Mười chín tuổi, lao tù đầy đọa, tôi đã mất mẹ, mất cha, bị qui là tư sản, xa vắng họ hàng vì chia rẽ giai cấp. Tôi mất Hà nội là nơi tôi sinh ra làm người Việt Nam. Không có tang cha khi cha gục xuống, không có tang mẹ khi mẹ xuôi tay, không hy vọng có đám cưới đời mình.

    Bạo quyền cộng sản Việt Nam bắn giết hàng trăm ngàn người, bị qui là địa chủ. Nhiều trăm ngàn người bị tập trung lên rừng, để lại vợ con không nhà không đất. Thời gian làm ngưng nước mắt, oán than cũng vô ích, chỉ còn tiếng kêu vang vọng khắp miền: "Chúng tôi muốn sống!"

    Hai mươi lăm năm sau (1981) tôi vượt biển, thoát tới Hong Kong. Bốn mươi tư năm từ lúc chào đời, tôi thành người tị nạn cộng sản.

    Ngày tiếp kiến phái đoàn Mỹ xin đi định cư, một ông Mỹ dáng nghiêm trang, nghe tôi trả lời, đột nhiên hỏi "Anh có biết nói tiếng Pháp?". Tôi nhìn ông, giọng run run: "L'exilé partout est seul!" (Kẻ lưu đày nơi đâu cũng cô độc).

    Ông gật đầu hiểu cả tiếng Tây, hiểu lòng tôi đau xót. Xưa tôi học trường Albert Sarraut, Hà Nội.

    *

    Đứng bên rào kẽm gai, sau dãy nhà tôn của trại tị nạn Hong Kong, một mình, suy tư thân phận. Tôi sẽ đến nơi xứ lạ là nước Mỹ xa xôi, tìm quê hương mới, chỉ trở về khi đất nước Việt Nam tự do, không còn cộng sản.

    Đứa bé chừng 5, 6 tuổi, tung trái banh, toan bắt thì trượt chân trên sân trại. Tôi đã kịp giang tay đỡ cháu khỏi ngã thì người đàn bà chạy tới, đứng im, lặng lẽ nhìn tôi.

    Tiếng trẻ thơ kêu "Má", tôi nhìn nàng... Sự thầm lặng và ánh mắt trao nhau là chân tình của người tị nạn Việt Nam nhẫn nhục, khổ đau, nói được nhiều hơn lời nói. Rồi những ngày sau đó, tâm sự, nỗi niềm, tôi đã cùng Mai kết thành bạn đường và bạn đời, đi Mỹ định cư.

    Chồng Mai là người lính Cộng Hòa hiên ngang dưới lá cờ vàng ba sọc đỏ, quyết bảo vệ quê hương. Anh tử trận, mang thân đền nợ nước, để lại con thơ. Mai trở thành góa phụ, miền quê Đà Nẵng, cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại. Sau năm 1975, mất nước. Mẹ già khuất núi, con chậm lớn vì cháo loãng, bo bo thay cho sữa mẹ và cơm.

    Một đêm mưa bão, Mai bị tên Việt cộng trưởng công an xã cưỡng hiếp, du kích xã canh gác quanh nhà. Mai phải sống vì con mới lên ba, mất cha còn mẹ. Người dân Đà Nẵng ra đi, đã mang theo vợ con người lính chiến tới Hong Kong năm 1981. Đứa con lên sáu không biết tiếng gọi "Ba"!
    Tôi mang nặng tủi nhục, đọa đày triền miên từ đất Bắc đi tìm tự do. Mai gánh những thương đau, mất mát, cơ cực của miền Nam, bồng con đi tị nạn. Lấy dĩ vãng chia xẻ cùng nhau, chúng tôi sắp xếp lại hành trang cho bớt gánh đoạn trường, đi Mỹ.

    Con đã có Má, có Ba. Má bồng con, Ba xách túi. Con có đồ chơi, cầm chiếc máy bay vẫy chào các chú, hai người lính chiến Quảng Nam đưa tiễn. Tôi nhìn con tự nhủ: "Ba sẽ dạy con tiếng "Cha", chỉ cho con hình người lính Cộng Hòa, ở bất cứ nơi đâu đều là Cha con đó!".

    Mai đã nhất định không đi kinh tế mới. Tôi đã trốn công trường, vào tù chịu đựng, bây giờ dù bỏ lại quê hương nhưng còn Tổ quốc Việt Nam. Bốn ngàn năm lịch sử, thăng trầm, người dân nước Việt sẽ không trở thành Cộng sản.

    Quê hương mới của chúng tôi là vùng đông bắc nước Mỹ. Căn apartment hai phòng, hai chiếc giường nệm, một chiếc bàn con, đã cho tôi ấn tượng đẹp những ngày đầu tới Mỹ.

    Lúc tôi khôn lớn, không có chiếc giường làm nơi cư trú, vì đã thành vô sản. Rồi tôi hiểu, vô sản cũng vẫn còn giai cấp. Phải lên rừng, một miếng nylon bọc vài manh vải gọi là quần áo, thì mới thành "người vô sản chân chính"!

    Nhìn con ngon giấc ngủ thần tiên, vợ chồng tôi thao thức, không phải lo âu mà thì thầm những dự định tương lai. 18 tháng welfare trợ cấp, đủ thời gian cho mình đi học tiếng Anh. Đọc dòng thư hội M&RS nhắc trả nửa tiền nợ vé máy bay sang Mỹ "Xin bạn trả dần 12 tháng, giúp cho người sau bạn định cư", theo ý Mai, ý nghĩ nhân hậu của người đàn bà làm mẹ, "mình trả ngay từ tháng thứ hai".

    Việc đơn giản là tại sao người ta không khấu trừ vào trợ cấp, lại đòi riêng. Mai chỉ nhẹ nhàng "nợ thì mình trả, ở hiền sẽ gặp lành", nhưng tôi lại suy nghĩ mung lung. Đây là bước đầu thử thách, cái thước đo lòng người tị nạn. 72 đô tiền nợ một tháng, có thể không trả và quên đi. Một lần để lòng vẩn đục sẽ trở thành bất lương. Cha mẹ bất lương con cái sẽ chẳng nên người .

    Một sáng mùa Xuân, "bé Nam" gọi Má, gọi Ba, chỉ bông hoa mầu vàng mầu đỏ đung đưa bên vườn hàng xóm, kêu lên "hoa tu-líp". Bà già người Mỹ đứng trên thềm, giơ tay vẫy vẫy. Mai đã nói "Thank you", ngọt ngào, mạnh dạn, tay chỉ trỏ, diễn tả được những gì muốn nói.

    Bà Jenny hiểu chút ít về "chiến tranh Việt Nam" qua tivi, sách báo hồi bà còn dạy học. Bà đã thấy "Boat people", những thuyền nhân tị nạn, nhưng lần đầu bà thấy một gia đình người Việt đến vùng này, lại là hàng xóm nên bà có cảm tình. Đây là ứng nghiệm "Ở hiền gặp lành" hay là sự may mắn cho gia đình tôi? Nói thế nào thì cũng đúng vì vài nơi trên đất Mỹ vẫn còn kỳ thị chủng tộc.

    Thời gian trôi đi nhưng hai tiếng "lần đầu" lặp lại: lần đầu ra nhà Bank, lần đầu tới Post Office. Có những lần đầu chưa biết, nhưng có hai lần đầu quan trọng: "bé Nam" đi học, chúng tôi xin được việc làm. Bà Jenny cùng chúng tôi đưa "cháu" tới trường, bà cho chiếc mũ baseball và đôi giầy sneaker trắng muốt, khen "Cháu cute." Vợ chồng nhìn nhau, không hiểu, lát nữa về tra tự điển.

    "Từ nay chúng mình có Má, bé Nam có Bà...!" Mai thốt lên khi chúng tôi đồng lòng nhận "Má Nuôi". Bà Jenny thành "Má Jen". Chuyện xảy ra vào ngày Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), 17 năm về trước.

    Sống một mình trong căn nhà rộng rãi, bà Jenny vốn là cô giáo nên rất yêu trẻ. Bà mời "cả nhà" sang ăn turkey.

    Bé Nam lên bảy, đi học, hiểu nhiều về Thanksgiving hơn Má và Ba. Ăn uống vui vẻ, vợ chồng tôi nói chuyện với bà, có lúc ngồi im lặng hơi lâu vì vốn tiếng Anh ít ỏi. Bỗng bé Nam kêu "Má...!", bà Jenny toan đứng dậy thì Mai buột miệng nói: "Má... let me do it!".

    Nghe tiếng "Má" lỡ lời của Mai, tiếng Việt, vừa lạ, vừa thích, bà bâng khuâng giây lát.

    Mai kể chuyện xưa, miền Đà Nẵng cuốc đất trồng khoai, nuôi mẹ già con dại... Tôi góp phần thông dịch, bớt thêm: Người Việt Nam coi việc chăm sóc cha mẹ già là bổn phận, dù chịu nhiều cơ cực cũng cố gắng đền ơn sinh thành, dưỡng dục.

    Bà suy nghĩ mấy ngày, bỏ dự định chuyển về Florida, tỏ ý muốn nhận gia đình tôi làm Con, làm Cháu.

    Chúng tôi dọn nhà sang ở chung với "Má Jen", điều này ít thấy trong các gia đình người Mỹ có con trưởng thành. Các con nhờ Má, nói được tiếng Anh. Cháu quấn quít bên Bà, xem chú chuột Mickey. Mùa đông buốt giá nhưng trong nhà nồng ấm tình người. Má vui tươi hơn trước, thích ăn bánh xèo và phở Việt Nam.

    Mai vẫn cặm cụi hàng ngày, làm những chiếc ví tay của phụ nữ. Mấy người bạn Việt Nam đặt cho Mai biệt danh "Bà đầm hãng bóp" vì "giỏi việc, lại biết tiếng Anh," nhiệt tình giúp đỡ bà con.

    Cũng như Má Jen, Mai không thích sa hoa, theo Má vào tiệm sách trong Mall nhiều hơn vào tiệm bán phấn son, make up. Việc từ thiện đã thành sở thích, Mai gửi 200 đôla, mỗi lần, giúp đồng bào bão lụt miền Trung, miền Bắc, vì lương tâm, đạo lý. Kẻ cầm quyền ăn chặn của dân, như đám cướp, có bao giờ được mãn kiếp yên thân. Đức Phật từ bi dạy Mai lòng độ lượng.

    Tôi làm technician, ngành điện tử. Nhớ xưa, học sửa radio bị nghi làm gián điệp. Bộ công an Hà nội lấy công nông lãnh đạo, coi "điện tử" là CIA. Mười bẩy năm trong ngành điện tử, nay chắc tôi thành CIA ngoại hạng!

    Bây giờ, ngồi trước máy computer, nối vào mạng Net, đọc Website tiếng Anh, tiếng Việt, thông tin thế giới bằng email, việc hãng, việc nhà, công tư hòa vào nhau từng ngày làm việc, tôi đã có cuộc sống an hòa, hạnh phúc, một gia đình thật sự yêu thương.

    "Ngày mai, chúng mình đi New York thăm con".
    Mai nắm tay tôi, hân hoan về ngày mai.

    Ngày mai là tương lai của bé Nam ngày trước, giờ là một thanh niên cao 6 feet, đầy nghị lực bước vào đời. Xong đại học, Nam Nguyen trở thành chuyên viên tài chánh, làm việc trong văn phòng, tầng thứ 32 của một nhà "chọc trời" New York.

    Ngày con ra trường là ngày vui trọn vẹn, ngày con nhận việc mới là niềm sung sướng của Má, của Ba, của Gia Đình tị nạn, mong ước từng ngày cho Con thành Người.*

    Lâu lắm rồi, tôi mới có một đêm không ngủ để nhìn lại đời mình. Tháng chín, trời sang Thu se lạnh vùng đông bắc nước Mỹ. Tôi đã sống nơi đây 18 năm tị nạn, không thất vọng mà tin tưởng vào tương lai.

    Người cộng sản muốn làm hung thần cai quản địa cầu, dựng lên Địa Ngục. Dựng được vài phần thì sụp đổ, sót lại từng mảnh vỡ điêu tàn. Hung thần đã chết.

    Thoát kiếp lưu đày làm người tự do, tôi kính cẩn tri ân người phá ngục: người lính Cộng Hòa, giương cao lá cờ vàng ba sọc đỏ, chính nghĩa Quốc Gia . Việt Nam, từ tinh thần đến lãnh thổ.

    Người lính chiến Cộng Hòa hiên ngang đi làm Lịch Sử. Không có Anh, tôi đã không có niềm tin để sống sót, đã thành nấm mộ hoang trên rừng xơ xác. 21 năm kiên cường giữ vững miền Nam, Anh đối mặt hung thần, cứu sống thêm hàng triệu người vô tội.

    Người lính của miền Nam tự do tử trận. Anh để lại người Vợ hiền, cuốc đất trồng khoai, chúng vẫn không tha, chà đạp nhân phẩm. Tôi lê bước chân vô định, gặp Mai làm Bạn Đường, nhìn mắt con thơ thấy hình người lính chiến.

    Anh đã để lại Con Thơ cho tôi được làm "Ba" mang tròn trách nhiệm. Con đã trưởng thành, mai này sẽ góp phần xây dựng lại Quê Hương. Tôi muốn níu lại thời gian để được thương vợ, thương con nhiều hơn nữa.

    Đã quá nửa đêm về sáng. Nhìn Mai ngon giấc ngủ thần tiên như "bé Nam" ngày đầu tới Mỹ, tôi ngồi im lặng bên bàn viết, đợi chờ sớm mai để được nhìn bình minh bừng sáng Phương Đông, được nhìn Mai thức dậy, mỉm cười, âu yếm nhìn chồng.

    Cuộc sống an vui. Ngót 20 năm rồi, không biết khóc, đêm nay tôi nhỏ từng dòng lệ, xúc động, bùi ngùi.

    Tôi đang sống và đang viết Bài Tình Ca của Một Người Tị Nạn.

    tudo NGUYỄN VĂN LUẬN
    9/2000