Saturday, April 5, 2014

VOA: Trung Ðông: Israel: Hòa đàm Trung Đông đang gặp 'khủng hoảng'

Thứ bảy, 05/04/2014
Xem
Trưởng đoàn thương thuyết Israel Tzipi Livni (phải)Trưởng đoàn thương thuyết Israel Tzipi Livni (phải)

Trưởng đoàn thương thuyết Israel trong các cuộc đàm phán với người Palestine nói hòa đàm Trung Đông đang trong tình trạng “khủng hoảng”, nhưng cần phải tiếp tục.
Bà Tzipi Livni nói với Kênh số 2 đài truyền hình Israel là tình hình “rất phức tạp” và là “một cuộc khủng hoảng thật sự.” Tuy nhiên bà cho biết thêm là bà tin những cuộc thảo luận nên tiếp tục và bà ủng hộ thương thuyết trực tiếp giữa các nhà lãnh đạo Israel và Palestine.

Nhận định của bà Livni được đưa ra chỉ một ngày sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry cho biết chính quyền Obama đang đánh giá lại vai trò của mình trong tiến trình hòa bình Trung Đông, sau khi Israel và người Palestine có những hành động làm cho cuộc hòa đàm do Hoa Kỳ điều giải bị đổ vỡ.

Hôm thứ Sáu, ông Kerry nói rằng thời giờ và nỗ lực mà Hoa Kỳ có thể đầu tư chỉ có giới hạn nếu đôi bên không sẵn lòng thực hiện “những biện pháp có tính xây dựng” cho hòa bình.

Các cuộc thảo luận đã bị chệnh hướng khi Israel không trả tự do đúng kỳ hạn cho nhóm tù nhân Palestine thứ tư. Giới lãnh đạo Palestine đã ký gia nhập hơn một chục công ước quốc tế - điều mà Palestine đã hứa sẽ không làm trong suốt thời gian thương thuyết. Và Israel đáp trả bằng việc hủy bỏ kế hoạch phóng thích tù nhân.

Ông Kerry cho rằng đôi bên đã có những hành động “đáng tiếc" trong mấy ngày qua, gây nguy hại cho cuộc hòa đàm.

Tuy nhiên những nguồn tin gần gũi với tiến trình tối ngày thứ Sáu nói rằng có phần chắc sẽ có thêm một vòng đàm phán vào Chủ nhật này giữa các nhà thương thuyết của Hoa Kỳ, Israel và Palestine.

Ngoại trưởng Kerry trong vài tuần qua đã tìm cách triển hạn cuộc thương thuyết khi thời hạn 9 tháng đàm phán mà Israel và Palestine đã thỏa thuận hồi năm ngoái sắp sửa đáo hạn.

ĐIỂM BÁO RFI: NGA - UKRAINA - Putin cố gắng dựng dậy cái xác cũ Liên Xô

Thứ bảy 05 Tháng Tư 2014
Điện Kremly trên Quảng trường Đỏ của Nga.
Điện Kremly trên Quảng trường Đỏ của Nga.
Wikipedia

Anh Vũ
Một hồ sơ quốc tế vẫn luôn là thời sự nóng đối với báo chí Pháp cả hơn tháng nay, đó là cuộc khủng hoảng Ukraina. Cuộc khủng hoảng chính trị ban đầu trong phạm vi nội bộ Ukraina, sau đó được đẩy lên mức cao hơn khủng hoảng giữa Kiev với Matxcơva, rồi nhanh chóng chuyển hướng sang đối đầu giữa Nga với các nước Tây. Trong cuộc khủng hoảng lớn này, tâm điểm được chú ý nhiều nhất có lẽ là tổng thống Nga Vladimir Putin, người đã làm dấy lại không khí chiến tranh lạnh Đông-Tây.

Với nhật báo Aujourd’hui en France, Liên bang Xô Viết đã biến mất từ năm 199, nhưng rõ ràng tổng thống Nga đang tỏ quyết tâm hồi sinh cái thây ma đó, không chỉ qua vụ sáp nhập Crimée mà còn qua nhiều quyết định ở bên trong đất nước.
Tờ Aujourd’hui en France cho biết, có lần ông Putin đã tuyên bố : « Người không luyến tiếc Liên Xô là người không có trái tim. Người nào mong muốn phục hồi Liên Xô là người không có cái đầu » và tờ báo đưa ra nhận xét rằng, chắc chắn ông là người có đầu nhưng trái tim ông còn được đặt lên trên.
Theo tờ báo, chưa bao giờ những cố gắng khôi phục ảnh hưởng của Matxcơva đối với những nước từng nằm trong Liên bang Xô Viết lại hiển hiện rõ nét như lúc này. Người ta có thể thấy điều đó không chỉ từ vụ sáp nhập Crimée mà còn cả rất nhiều nỗ lực ngoại giao của chính quyền Putin nhằm thiết lập một liên minh Á-Âu tập hợp chủ yếu các nước cộng hoà cũ của Liên Xô, nằm trong vòng kiềm tỏa của Nga.
Chủ trương bành trướng này gắn liền với tham vọng của ông Putin muốn đưa nước Nga trở thành cường quốc hàng đầu thế giới. Những từ như « siêu cường » cùng những cách nói thoá mạ phương Tây được sao chép của thời chiến tranh lạnh đã trở thành ngôn từ thông dụng của các nhà báo thân cận với điện Kremlin ngày nay. Tờ báo khẳng định rằng, sau hơn 20 năm rời bỏ với tư tưởng cũ kỹ lỗi thời, giờ đây Kremlin đang trở lại với những mô hình cũ, có chút ít vay mượn của thời Nga hoàng và đặc biệt mang nhiều nét của thời kỳ Liên Xô.
Mặc dù tệ sùng bái Stalin chỉ còn tồn tại trong một số ít người có đầu óc cực đoan nhất mà thôi, thế nhưng trong sách giáo khoa lịch sử mới ở Nga, nhà độc tài này được mô tả như là một nhà quản lý tài giỏi, là lãnh tụ đã đưa nhân dân đến chiến thắng và là người có công lớn trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Không một dòng nào nói về hàng chục triệu người đã chết dưới thời độc tài Stalin.
Tờ báo Pháp nhận thấy, thái độ sùng bái Xô Viết được khuyến khích từ thượng tầng. Tổng thống Putin còn có câu nói nổi tiếng là : « Sự tan rã của Liên Xô là thảm hoạ địa chính trị lớn nhất thế kỷ 20 ».Tổng thống Nga không bao giờ nhắc đến chuyện những trại cải tạo Goulag, hiệp ước Nga –Đức hay những chuyện sách nhiễu những người ly khai.
Nhưng ông ta đang đề nghị quay trở lại việc quân sự hoá học đường, tức là giáo dục thể chất theo kiểu quân đội phải là môn học bắt buộc cho học sinh, một chủ trương giáo dục của thời Liên Xô. Ông ta ca ngợi Komsomol, Đoàn thanh niên Cộng sản Liên Xô, hay cho khôi phục danh hiệu « Anh hùng lao động »....Nói tóm lại, ông Putin đang cố gắng tìm cách làm sống lại hình ảnh và hào khí của cái thời Xô Viết đã qua từ lâu.
Vẫn theo tác giả của Aujourd’hui en France, hình thái « tân Xô Viết » hung hăng nhất được thể hiện rõ nét trên truyền thông Nhà nước Nga. Truyền hình thường xuyên phát đi những nội dung thù địch với phương Tây, khơi dậy tâm lý cho rằng nước Nga như một thành trì bị bao vây bởi các thế lực thù địch phương Tây (vẫn lặp lại một thái độ của thời Liên Xô cũ).
Với những tiếng nói đối lập, báo chí dưới sự kiểm soát của chính quyền, gọi họ là những « kẻ phản bội tổ quốc », hay « gián điệp cho CIA »... Những ngôn từ tưởng như đã bị lãng quên từ cách đây hai thập kỷ thì nay được dịp hồi sinh dưới thời của Putin. Tờ báo kết luận, Tổng thống Putin không chỉ cổ vũ cho hoài niệm về Liên bang Xô Viết mà ông ta còn tìm cách khôi phục Liên Xô.
Liên Hiệp Châu Âu dự trù đối đầu lâu dài với Nga
Vẫn liên quan đến nước Nga và cuộc khủng hoảng với phương Tây, trang quốc tế của Le Figaro nhận thấy « Liên Hiệp Châu Âu đang chuẩn bị một cuộc đọ sức dài lâu với Matxcova ».
Theo tờ báo, Liên Hiệp Châu Âu đang chuẩn bị cuộc đọ sức chưa có hồi kết với ông Vladimir Putin. Các Ngoại trưởng của EU hôm qua trong cuộc họp tại Athene, Hy Lạp đã loại trừ có được hòa dịu ngay lập tức với Nga đồng thời cam kết sẽ xem xét lại quan hệ lâu dài với Kremlin.
Lãnh đạo ngoại giao Đức ông Walter Steinmeier, người được cho là cởi mở nhất đối với Nga, đã nhận định về quan hệ với Matxcơva là : « Trước mắt chúng ta sẽ còn nhiều tháng thậm chí nhiều năm khó khăn ». Trong khi đó đồng nghiệp Anh William Hague cũng đánh giá tình hình « vẫn còn rất nguy hiểm » xung quanh Ukraina. Sự xuống thang quân sự được Kremlin hứa hẹn không thuyết phục được các nước Châu Âu. Trong khi đó Nga đang khởi động cho cuộc chiến khí đốt.
Pháp : Hoài nghi vào nội các mới
Chính phủ cải tổ với tân Thủ tướng Manuel Valls vẫn là chủ đề được các báo Pháp dành sự quan tâm đặc biệt với hy vọng thì ít mà hoài nghi thì ngày càng nhiều thêm.
Suốt mấy ngày qua hình ảnh của tân thủ tướng Manuel Valls xuất hiện trên khắp báo chí Pháp từ truyền hình, nhật báo cho đến tuần báo. Le Figaro đưa lên trang nhất tấm ảnh kỷ niệm Tổng thống Pháp chụp cùng nội các mới sau buổi họp Hội đồng các bộ trưởng đầu tiên hôm qua với tựa lớn : « Manuel Valls đến, người của đảng Xã hội gầm gừ ». Việc bổ nhiệm Manuel Valls vào chiếc ghế thủ tướng đã làm không ít người trong chính đảng Xã hội cầm quyền hoài nghi. Thậm chí, Le Figaro còn cho biết có thể sẽ có tới ba chục dân biểu đảng Xã hội sẽ không tham gia bỏ phiếu tín nhiệm chính phủ mới tại Quốc hội vào thứ Ba tuần tới.
Tóm tắt sự kiện này, xã luận của Le Figaro lấy tiêu đề « Xuất phát tồi ». Tờ báo ghi nhận « Manuel Valls, một mình chống lại tất cả, hay tất cả chống lại ông ? Vừa mới nhậm chức thủ tướng mà đã bị cô lập, chỉ trích, bao vây. Đây là điều chưa từng thấy trong lịch sử của nền đệ ngũ Cộng hòa Pháp » . Tờ báo đặt câu hỏi : Làm sao ông có thể lãnh đạo chính phủ đây ?
Có thể chính phủ mới vẫn sẽ được Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm nhưng trong bối cảnh đầy những thách thức như hiện nay, dư luận Pháp không khỏi hoài nghi sự « tín nhiệm » đó sẽ được duy trì được bao lâu ?
Nỗi ám ảnh vụ diệt chủng Rwanda
Sự kiện được nhiều báo Pháp đưa lên trang nhất hôm nay đó là ngày 7/4 tới đánh dấu 20 năm diễn ra nạn diệt chủng ở Rwanda: 800 nghìn người sắc tộc Tutsis bị người Hutu tàn sát. Trang nhất La Croix chạy tựa lớn « Tại Rwanda, vết thương chưa lành ».
Trở lại với đất nước châu Phi này sau 20 năm diễn ra nạn diệt chủng nhật báo Công giáo nhận thấy người Rwanda vẫn còn ám ảnh với thảm họa kinh hoàng đó.
Libération cũng chung cảm nhận với La Croix qua bài phóng sự dài : « Giới trẻ bị ám ảnh của Rwanda » để cho thấy, hai mươi năm sau vụ người Hutus thảm sát người Tutsis, con cái của nạn nhân cũng như những kẻ đao phủ, đang cố gắng khép lại nỗi đau ký ức trong một đất nước đang trên đường xây dựng lại cuộc sống yên bình, nhưng họ chưa thể gạt bỏ nỗi ám ảnh kinh hoàng của vụ thảm sát.
Nguyên nhân dẫn đến nạn diệt chủng chính là vụ chiếc máy bay chở tổng thống Rwanda người Hutu bị đánh bom khủng bố ngày mùng 06/04/1994. Một ngày sau vụ tấn công, làn sóng bạo lực đã bùng phát ở Rwanda và nhanh chóng phát triển thành một cuộc diệt chủng lớn nhất Châu Phi.
Libération trở lại sự kiện này với bài : « Vụ máy bay rơi 6/4/1994 : Những nghi ngờ vẫn bao trùm lên nước Pháp ». Tờ báo cho hay, từ sau sự kiện này, ba cuộc điều tra đã được tiến hành đều có một kết luận Paris có liên đới trách nhiệm với vụ khủng bố này. Điều này có thể lý giải phần nào lý do vì sao mà dư luận báo chí Pháp rất quan tâm đến thảm hoạ diệt chủng ở Rwanda năm 1994.
Afghanistan: Bầu cử tổng thống trong tầm ngắm bạo lực của Taliban
Một thời sự quốc tế khác cũng thu hút nhiều sự chú ý của các báo Pháp hôm nay đó là cuộc bầu cử Tổng thống tại Afghanistan, đánh dấu chấm hết thời kỳ của Hamid Karzai trong bối cảnh cực kỳ căng thẳng. Ông Karzai sẽ trở thành cựu tổng thống sau cuộc bầu cử này vì không được phép ra tranh cử nhiệm kỳ thứ ba.
Libération cảnh báo : « Tại Afghanistan, phe Taliban đặt bầu cử trong tầm ngắm ». Taliban không chỉ kêu gọi tẩy chay mà còn yêu cầu những người ủng hộ họ gây rối loạn cuộc bỏ phiếu và tấn công nhằm vào những người tổ chức bầu cử. Từ đầu tháng Ba đến nay, Taliban đã gây ra hàng chục vụ tấn công khủng bố mà mục tiêu chủ yếu nhằm vào thường dân ngoại quốc. Libération lo ngại không chỉ về gian lận trong bầu cử mà còn có thể xảy ra « tắm máu » ngay trong vòng bỏ phiếu đầu tiên.
Trong khi đó Le Figaro nhìn vào cuộc bầu cử tổng thống Afghanistan từ hướng Hoa Kỳ. Washington đang rất khó chịu với việc tổng thống Hamid Karzai từ chối ký hiệp định an ninh cho phép duy trì sự hiện diện của lính Mỹ trên đất Afghanistan sau khi liên quân quốc tế rút khỏi vào cuối năm nay. Bởi vậy mà Wasgington trông mong cuộc bầu cử thành công với hy vọng sẽ khai thông được bế tắc trên với tân thống Afghanistan. Đặc biệt là tất cả các ứng viên tổng thống lần này đều hứa hẹn đồng ý duy trì quân Mỹ trên đất Afghanistan sau năm 2014.
tags: Nga - Quốc tế - Ukraina - Vladimir Putin - Điểm báo

Nhà Báo Pháp Pierre Darcourt Kể Những Ngày Giờ Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa: Tướng Phú Và Vụ Rút Bỏ Ban Mê Thuột Đường Mòn 7B: 20,000 Dân Bị Tàn Sát

LTS. Pierre Darcourt là một nhà báo người Pháp đã sống từ lúc khởi đầu cho đến hồi kết cuộc của chiến tranh Việt Nam. Ông sinh năm 1926 tại Saigon, từng theo học tại Đại Học Luật Khoa Hà Nội trước 1945. Khi Nhật đảo chính Pháp tháng 3-1945, ông tham gia lực lượng du kích chống Nhật tại Đông Dương, sau đó gia nhập binh chủng Nhảy Dù Pháp. Sau khi giải ngũ năm 1954, ông trở lại đại học rồi thành một nhà báo danh tiếng.
Suốt Tháng Tư 1975, nhà báo Pierre Darcourt có mặt tại Sàigon, trực tiếp gặp và nghe nhiều điều riêng tư, từ các cấp thẩm quyền quân dân sự miền Nam, như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bộ trưởng Hoàng Đức Nhã, lãnh tụ Ngiệp đoàn Trần Quốc Bửu, tới…. Bà Ngô Bá Thành thủ lãnh phong trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống. Ông cũng sát cánh với các đơn vị VNCH giờ chót tại các phòng tuyến ven đô cho tới ngày cuối cùng và chỉ rời khỏi Saigon vào buổi trưa 29 tháng 4 năm 1975. Những ngày giờ cuối cùng của VNCH được Pierre Darcourt viết thành sách "Vietnam, Qu’as Tu Fait De Tes Fils" do Editions Albatros, Paris xuất bản. Sau đây là một số sự ghi nhận của nhà báo Pháp đặc biệt này, được lược trích theo bản dịch Việt ngữ "Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên" của Cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, do Tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành.
blank
Những tựa nhỏ cho các trích đoạn do toà báo đặt thêm.

*Trường hợp ướng Phú

Thứ hai, 7 tháng Tư 75 Đại Tá Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng Tham Mưu QLV NCH, một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân Sơn Nhứt, nơi có rất nhiều ăng-ten và có Thiết Giáp canh gác. Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng.
Đại Tá Khôi, một cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt, được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao lớn mảnh khảnh mặt đầy vết thẹo vì ông đã đạp phải mìn năm 1970.
Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ Hải Quân ở Cam Ranh để có một buổi họp kín của Hội Đồng Quân sự. Có 5 tướng lãnh hiện diện trong buổi họp: Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Khiêm – Thủ tướng Chánh Phủ, Tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, Tướng Đặng Văn Quang – Cố vấn quân sự của Tổng Thống và Tướng Phú – Tư lệnh Vùng II Chiến Thuật.
Sau một cuộc bàn cãi, tất cả tướng lãnh hiện diện trong buổi họp nầy đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố nằm về hướng Bắc của Vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku. Kế hoạch được soạn thảo nầy dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng duyên hải và từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban Mê Thuột. Không có ấn định chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku……”
Đại Tá Khôi bất thình lình ngưng nói, xoa hai bàn tay khô cằn của ông ta, sau đó mới tiếp tục một cách trịnh trọng:
- Điểm sau cùng nầy mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn trong số năm vị tướng lãnh hiện diện đều nghĩ rằng cuộc triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết thúc vào tuần lễ chót của tháng 3. Vị tướng lãnh thứ năm là Tướng Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân nầy, là một sĩ quan có một dĩ vãng quân sự hào hùng, tuy rằng ông đã đi lên từ hàng binh sĩ. Đã từng lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh Sư Đoàn tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đã từ lâu rồi ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vầy, nghĩa là một trong những cuộc điều quân khó khăn nhất trong các phép dụng binh trong lịch sử chiến tranh"
Tôi quan sát rất kỹ Đại Tá Khôi. Thình lình tôi có cảm tưởng khó chịu là hình như ông ta đang cho tôi một bài "diễn văn” đã được soạn sẵn từ trước. Tôi không muốn ngắt ngang ông ta. Tôi cần phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sắp sửa đến phần kết luận rồi.Và Đại Tá Khôi nói tiếp:
"Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, Tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh quân đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay vào sáng sớm hôm sau.
Vào lúc rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng của hai tỉnh Kontum và Pleiku đã vội vã rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại tại chỗ hàng chục triệu Mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người và xe qua quốc lộ 19 rồi mới vào con đường 7 B. Trên con đường 7 B nầy vốn chỉ là một con đường mòn được trải đá sơ sài, tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời. Khi các xe vận tải nặng và các xe thiết giáp đi qua rồi thì các đường nước trở thành những vũng sình lầy lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và tắc nghẽn lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước và đi sau 200.000 dân tị nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của sư đoàn 320 Bắc Việt. Hai chục ngàn dân (20.000) bị tàn sát, 500 xe đủ loại bị phá hủy, tất cả biến cuộc triệt thoái nầy thành một cuộc tháo chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nỗi kinh hoàng khó tả trong dân chúng…
Đại Tá Khôi đứng dậy và đi vòng bàn viết của ông ta, điều nầy có nghĩa là buổi nói chuyện của chúng tôi đã chấm dứt. Tôi khẳng định là những tin tức mà ông đã nói với tôi hôm nay chỉ đúng sự thật có một phần nào thôi, nhưng chắc chắn không phải là tất cả sự thật. Cái lối giải thích để làm giảm nhẹ đi phần nào trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu nó không đúng với tính tình của các nhân vật trong câu chuyện.. Tôi rất muốn nói với Đại Tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn đi ra ngoài luận cứ "chánh thức" mà ông đã cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi ông ta:
"Xin Đại Tá chỉ giùm tôi có thể đi gặp Tướng Phú ở chỗ nào được ?
Gương mặt ông ta lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời cụt lủn của ông ta làm tôi hết sức ngạc nhiên:
"Tướng Phú đã bị phạt giam, và không thể tiếp ai được hết"’
Tôi từ giã Đại Tá Khôi. Nhưng trước khi rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi gặp Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, Tướng Nam đã đồng ý gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn lúc ông ghé lại Mỹ Tho.
Cuộc nói chuyện của tôi với Đại Tá Khôi làm tôi đau đầu. Hình ảnh mà ông ta đã tả cho tôi về một Tướng Phú già nua, suy nhược, không còn đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều quân, thực tình không đứng vững. Thật vậy, tôi chỉ không gặp Tướng Phú có sáu tháng, nhưng tôi biết ông ta cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi vẫn biết ông ta chỉ còn có một lá phổi. Nhưng dù là nhỏ con ốm yếu nhưng với 49 tuổi đầu, ông là một người dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đôi với binh sĩ của mình và cũng cứng rắn đối với bản thân, dẽo dai, mưu lược và giỏi về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.
Ở Điện Biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận, ông đã tạo được lịch sử của ông rồi. Ngày 30 tháng 3 năm 1954, lúc Việt Cộng đánh một trận chiến đẫm máu ở 5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bọn bộ đội đã gọi hỏi nhau ơi ới: "Thằng Phú đâu rồi ? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe !" Ông ta không rơi vào tròng của quân Bắc Việt và liên tiếp mở hết cuộc phản công nầy đến trận phản công khác. Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất khắt khe. Với một người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đã ban hành, ông cho cột chân tay người đó vào hàng rào kẽm gai. Mặc dầu luôn luôn bị pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống phòng ngự đầy hố tác chiến trên đồi Elian 1 của ông đã giúp ông cầm cự suốt nhiều tuần lễ, đẩy lui tất cả cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước khi cứ điểm bị thất thủ, ông còn oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị súng không giật 57 ly, đã kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một tiểu đoàn Việt Cộng trên sườn đồi, buộc chúng phải rút lui với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ thật chính xác. Ông đã sống sót được sau 18 tháng bị bắt giam trong một trại tẩy não Cộng Sản ở Thượng Du Bắc Việt, mà không hề chấp nhận phải ký một bản "thú tội" hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài Gòn đã tranh đấu với phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic lúc bấy giờ để đòi Bắc Việt phải trả tự do cho ông. Từ khi ông được trở về Nam, ông Phú đã tham gia tích cực vào cuộc chiến. Nhất là ở Lào, năm 1971, lúc ông là tư lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ông đã giúp cho một đoàn xe thiết giáp của Miền Nam thoát được một sự thảm bại trông thấy, trên đường rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp nầy đang bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, Tướng Phú đã không ngần ngại đi xuyên qua rừng tìm địch để cuối cùng bẻ gãy được gọng kềm của địch sau 3 ngày tác chiến vất vả có đôi lúc phải đánh xáp lá cà với địch. Vào tháng 5 năm 1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc Việt vào Huế, Tướng Phú đã cùng Đại Tá Dickinson đưa tôi đi thanh sát bằng trực thăng ngay trên vùng Việt Cộng. Khi phải cố gắng đáp xuống một mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, chiếc trực thăng của chúng tôi bị trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng phía trước và gãy mất một chân càng. Như có một phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được và Tướng Phú đã bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một vòng khi ông nói rằng "tôi muốn cho cả Việt Cộng và binh sĩ của tôi biết rằng tôi hãy còn sống."
Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện nầy và tôi không bao giờ tin rằng Tướng Phú tự nhiên lại mất bình tĩnh đến độ phải cho lệnh triệt thoái một cách vội vã vô trật tự như vậy để cuối cùng phải đi đến một thảm trạng như thế. Phải chăng vì tôi biết về ông ta quá nhiều, hay vì ông ta là bạn của tôi?

Kỳ tới: Gặp riêng với Tướng Nguyễn Khoa Nam

BBC: VN-Philippines có trở thành đồng minh?

Cập nhật: 09:32 GMT - thứ bảy, 5 tháng 4, 2014
Liệu Trung Quốc có đẩy Việt Nam và Philippines trở thành một liên minh không chính thức?
Việt Nam và Philippines đang mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực, nhưng liệu điều này có dẫn tới một mối quan hệ đồng minh?
Walden Bellow, thành viên của Đảng Akbayan (Đảng Công dân Hành Động) tại Hạ viện Philippines, gần đây đã có một bài viết trên trang Foreign Policy in Focus với tựa: "Một liên minh mới chớm nở: Việt Nam và Philippines đối đầu với Trung Quốc."
Bello cho rằng "Phillipines và Việt Nam là những đồng minh theo lẽ tự nhiên vì đều phải đối mặt với tham vọng bá quyền của Trung Quốc ở Đông Á. Cả hai đều là đối tác của nhau trong khối ASEAN và nhiều khả năng sẽ xích lại gần nhau hơn trước sự phô trương quyền lực ngày càng trơ tráo của Trung quốc, khi nước này tuyên bố chủ quyền với 80% Biển Đông".
Philippines và Việt Nam chia sẻ quan điểm chung cũng như mối lo ngại trước sự quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông.
Điều này đã khiến các hoạt động ngoại giao cũng như sự phối hợp với các tổ chức đa phương, trong đó có ASEAN, được đẩy mạnh.
Trong 5 năm qua, mối quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Philippines vẫn còn thiếu đồng nhất, dù có một tiến độ đều đặn, và một liên minh giữa hai nước vẫn còn là điều xa vời.

Đẩy mạnh hợp tác

"Một liên minh giữa hai nước vẫn còn là điều xa vời."
Philippines và Việt Nam đã đạt được Biên bản ghi nhớ (MOU) về Hợp tác Quốc phòng vào ngày 26/10 năm 2010. Văn bản này được Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh và người đồng cấp Philippines, ông Voltaire Gazmin, ký ở Hà Nội, bên lề một chuyến thăm của Tổng thống Benigno Aquino.
Biên bản ghi nhớ bao gồm những điều khoản quy định các cuộc gặp giữa đại diện quân đội hai nước, trao đổi thông tin trong công tác phòng chống khủng bố, hợp tác trong đào tạo và huấn luyện quân sự, phối hợp tìm kiếm cứu hộ cũng như hợp tác phát triển công nghệ và thiết bị quân sự. Một tổ công tác hỗn hợp đã được thiết lập để phụ trách việc thực hiện bản ghi nhớ này.
Một năm sau đó, Philippines và Việt Nam ký thêm một thỏa thuận nhằm đẩy mạnh công tác bảo đảm an ninh hàng hải giữa Lực lượng tuần duyên Philippines và Cảnh sát biển Việt Nam.
Thỏa thuận này được xây dựng nhằm giải quyết vấn đề tàu cá của nước này đi vào khu đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước kia, đồng thời cũng bao gồm một điều khoản quy định việc giáo dục cho ngư dân phải tôn trọng ranh giới EEZ.
Quan hệ hợp tác giữa hải quân hai nước được đẩy mạnh hơn nữa vào tháng Ba năm 2012, trong các cuộc đối thoại được tổ chức tại Hà Nội giữa Tư lênh hải quân Philippines, Phó Đô đốc Alexander Pama, và Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến.
Phó Đô đốc Alexander Pama và Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đã ký Biên bản ghi nhớ về Tăng cường hợp tác song phương và Chia sẻ thông tin giữa hải quân hai nước.
Văn bản này bao gồm một điều khoản quy định việc thiết lập đường dây nóng giữa lực lượng bảo vệ bờ biển của hai nước nhằm giám sát các sự cố trên biển như hải tặc và xâm phạm lãnh hải.
Biên bản ghi nhớ cũng mở ra khả năng hợp tác giữa hai nước trong ngành đóng tàu, theo lời đề nghị của Phó Đô đốc Pama, sau chuyến thăm nhà máy sửa chữa và đóng tàu hải quân và dân sự X46.
Tư lệnh hải quân hai nước cũng đã ký Quy trình Điều hành chuẩn (SOP), quy định sự tương tác giữa hải quân Việt Nam và Philippines trong vùng biển lân cận các đảo Song Tử Đông và Song Tử Tây.

Trung Quốc cảnh báo

"Ý tưởng về các cuộc tuần tra chung bị dẹp qua một bên và được thay thế bằng các trận giao hữu bóng đá và bóng rổ "
Theo các điều khoản trong SOP, hai bên thống nhất về việc tổ chức tuần tra dọc biên giới hàng hải chung.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngay lập tức đã lên tiếng cảnh báo trước bất kỳ cuộc tập trận nào giữa hải quân Việt Nam và Philippines.
Có vẻ như điều này đã khiến ý tưởng về các cuộc tuần tra chung bị dẹp qua một bên và được thay thế bằng các trận giao hữu bóng đá và bóng rổ giữa các binh sỹ hải quân hai nước đóng quân ở quần đảo Trường Sa.
Ngày 23/7 năm 2013, Trung tướng Nguyễn Quốc Khánh, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, đã có buổi đón tiếp Trung tướng Noel A. Coballes, Tư lệnh Lục quân Philippines, tại Hà Nội.
Cả hai bên đã cùng xem xét tiến độ thực hiện Biên bản ghi nhớ năm 2010 và thống nhất về việc thiết lập kênh đối thoại giữa quân đội hai nước.
Vào cuối tháng Bảy, đầu tháng Tám năm 2013, Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã chủ trì cuộc họp lần thứ bảy của Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam-Philippines về Quan hệ hợp tác Song phương tại Manila.
Cuộc họp này có nội dung xem xét tiến độ thực hiện các thỏa thuận về hợp tác song phương trong giai đoạn 2011-2016.
Các cuộc đối thoại cũng đề cập đến việc đối phó với Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, hợp tác an ninh hàng hải, cũng như các thông tin liên quan đến các hành động xâm phạm lãnh thổ bất hợp pháp.
Trung Quốc đã lên tiếng chống lại bất kỳ cuộc tập trận chung nào giữa Việt Nam và Philippines

'Quyết tâm đẩy mạnh hợp tác'

Vào cuối tháng Tám, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gazmin và người đồng cấp Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh, đã có cuộc gặp tại Manila để đánh giá tiến độ trong công tác hợp tác quốc phòng.
Các đề tài thảo luận giữa Bộ trưởng Gazmin và Bộ trưởng Phùng Quang Thanh bao gồm tình hình an ninh ở Biển Đông, chính sách chuyển trọng tâm sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, cũng như hợp tác trong các vấn đề hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai trong tương lai.
Một thông cáo do Bộ Quốc phòng Philippines đăng tải sau đó cho biết, kể từ năm 2010, "quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã có những tiến bộ thông qua các chuyến thăm cấp cao, trao đổi nhân sự và thông tin," phản ánh "quyết tâm của cả hai nước nhằm đẩy mạnh sự hợp tác trong việc phát triển khả năng quốc phòng."
Bộ trưởng hai nước đã đồng ý gia hạn Biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng năm 2010 nhằm tạo tiền đề cho các cuộc đối thoại chính sách quốc phòng ở cấp thứ trưởng.
Sau cuộc gặp ở cấp bộ trưởng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Trung tướng Võ Văn Tuấn, đã tiếp đón Thiếu tướng John S Bonafos, Tư lệnh Tác chiến đặc biệt của Philippines tại Hà Nội ngày 9/10.
Cả hai đã nhất trí tăng cường hợp tác giữa hải quân, không quân, lục quân và lực lượng tuần duyên. Tuy nhiên, không có chi tiết cụ thể nào về cuộc gặp này được công bố.
Ngày 21/3 năm nay, Phó Đô đốc hải quân Philippines Jose Luis M. Alano đã dẫn đầu một phái đoàn của Hải quân Philippines đến thăm Việt Nam.
Ông Alano đã bày tỏ sự quan tâm về việc hợp tác đào tạo bằng cử nhân cho các học viên hải quân.
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Thanh cho rằng hải quân hai nước cần nâng cao hợp tác trong việc chia sẻ thông tin tình báo thông qua các đường dây nóng giữa bộ quốc phòng hai nước, tổ chức các cuộc diễn tập chung về tìm kiếm cứu nạn, cũng như hợp tác đào tạo và huấn luyện quân sự chuyên nghiệp.

Không thể thành liên minh

"Những quan hệ hợp tác quốc phòng trong thời điểm hiện tại không có khả năng sẽ phát triển thành một liên minh quân sự không chính thức nhằm chống lại Trung Quốc."
Nếu nhìn lại mối quan hệ quốc phòng Philippines-Việt Nam kể từ năm 2010, có thể thấy rằng, quan hệ hợp tác giữa hai bên vẫn đang tiến triển, nhưng chỉ ở mức độ sơ đẳng.
Hai nước vẫn chưa tổ chức các cuộc thao tập quân sự thực tế nhằm nhằm nâng cao khả năng tương tác.
Philippines sắp ký một thỏa thuận nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Việt Nam lại tỏ ra do dự trong việc đi từ các hoạt động hợp tác giữa hải quân hai nước đến các bài thao tập quân sự chung bao gồm việc trao đổi các kỹ năng chiến đấu.
Nói tóm lại, Philippines và Việt Nam sẽ phát triển một mối quan hệ chính trị-ngoại giao gần gũi nhằm đối phó với sự quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông.
Thế nhưng, mối quan hệ hợp tác quốc phòng trong thời điểm hiện tại không có khả năng sẽ phát triển thành một liên minh quân sự không chính thức nhằm chống lại Trung Quốc.

Kinh tế Mỹ tạo thêm việc làm mới

Cập nhật: 09:44 GMT - thứ bảy, 5 tháng 4, 2014
Số việc làm mới trong tháng Ba đạt 192.000, thấp hơn so với mức 197.000 của tháng Hai 2014
Hoa Kỳ có thêm 192.000 việc làm mới trong tháng Ba, phù hợp với những gì người ta dự đoán trước đó, trong lúc tỷ lệ thất nghiệp vẫn ổn định ở mức 6,7%.
Thời tiết khắc nghiệt trong mùa đông qua không gây trở ngại gì cho mức tăng trung bình số việc làm mới.
Số việc làm tăng lên trong các lĩnh vực chăm sóc y tế, các dịch vụ chuyên ngành và kinh doanh, cũng như trong lĩnh vực khai mỏ và đốn gỗ.
Ngân hàng trung ương đã sử dụng những chỉ dấu này để đánh giá xem có nên giảm bớt việc kích thích kinh tế Mỹ hay không.
Số liệu về công ăn việc làm trong tháng Ba nhìn chung phù hợp với dự đoán của các kinh tế gia là ở mức khoảng 200.000 việc làm mới mỗi tháng trong 2014, trong lúc số người thất nghiệp vẫn ở mức 10,5 triệu người.
"Báo cáo về công ăn việc làm này sẽ giúp an lòng những lo ngại cho rằng nền kinh tế đang trì trệ trong lúc chúng ta đã bước vào năm mới," Justin Wolfer, giáo sư kinh tế từ Đại học Michigan viết trên twitter.
Trong tháng Ba, các dịch vụ kinh doanh tạo thêm 57.000 việc làm, với 29.000 vị trí tạm thời.
Các công việc liên quan tới thiết kế các hệ thống máy tính và những thứ liên quan, được xếp vào nhóm các dịch vụ kinh doanh, đem lại 6.000 việc làm mới.
Ngành y tế tạo ra 19.000 việc làm mới, và mảng y tế cứu thương gồm cả các hoạt động chăm sóc bệnh nhân ngoại trú tăng thêm 20.000. Tuy nhiên mảng chăm sóc điều dưỡng bị mất 5.000 việc làm trong giai đoạn này.
Ngành khai mỏ và đốn gỗ tăng 7.000 việc làm so với mức tăng trung bình 3.000 mỗi tháng hồi năm ngoái.
Hôm thứ Sáu, các số liệu về công ăn việc làm trong tháng Hai được điều chỉnh tăng lên từ mức ước đoán 175.000 lên 197.000 việc làm mới.
Số liệu ước đoán cho tháng Giêng cũng được điều chỉnh tăng lên, từ 129.000 lên 144.000.

Phạm Trần – Thanh Niên Giữ Nước Hay Giữ Đảng?

Thanh niên Việt Nam sống dưới thời Cộng sản đã bị ép làm thân con tốt đen, tốt đỏ cho đảng sử dụng vào mục tiêu nuôi Đảng sống béo dài lâu thay vì phục vụ quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc và Dân tộc.
Ông Hồ Chí Minh từng nói Thanh niên là “cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng”. Còn đảng thì từ thế hệ lãnh đạo này qua lớp cầm đầu khác chỉ biết thi đua hô như pháo nổ: "đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm" và cho Thanh niên “uống nước đường” với câu nịnh suy tôn gỉa tạo như coi họ là “sức sống trẻ trung của dân tộc”, vì vậy đảng phài bồi đắp, xây dựng nên những thế hệ thanh niên “vừa hồng, vừa chuyên”.
“Chuyên” thì đã đành vì Việt Nam rất cần có những con người trẻ có đầu óc sáng tạo, phá vỡ những hàng rào cản hủ lậu, chậm tiến để đưa đất nước tiến lên “ngang tầm thời đại” sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh huynh đệ tương tàn mạo danh “giải phóng” và “giành độc lập”.
Nhưng đến Thế kỷ 21 mà Thanh niên vẫn phải “hồng” theo đảng là tư tưởng lạc hậu không còn ai muốn nhắc đến, sau khi Chủ nghĩa Cộng sản bị sụp đổ ở nước Nga và Đông Âu từ 1989 đến 1991.
Ấy thế mà Tổng Bí thư đàng Nguyễn Phú Trọng vẫn kêu gọi Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải: “Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” bởi vì “Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.” (Diễn văn tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 10 ngày 13/12/2012)
Ông Trọng còn đổ thêm nước đường có chứa thuốc độc khi nói rằng: “Thanh niên là một bộ phận nòng cốt của xã hội, rường cột của dân tộc, là lực lượng xung kích của cách mạng và là chủ nhân tương lai của đất nước; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng; công tác thanh niên là công tác mang tính chiến lược có ý nghĩa sống còn của dân tộc.”
Nhưng Thanh niên đang được đảng huấn luyện để bảo vệ sự sống còn cho đảng hay sự tồn vọng của Tổ quốc và giống nòi khi ông Trọng kêu gọi Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, đa số là con ông cháu cha phải “tích cực đấu tranh với âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.”
Chiêu bài “diễn biến hòa bình” và “các thế lực thù dịch” được coi như quân bài tủ của các Lãnh đạo đảng mỗi khi họ cần sử dụng để lòe bịp tuổi trẻ trong trắng. Ông Trọng và đảng cũng dư biết Thanh niên ngày nay không còn ngây thơ để bị mắc lừa như cha anh họ của thập niên 1940 và 1960.
Ngày nay chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” hay “giải phóng đồng bào miền Nam khỏi ách thống trị kìm kẹp của Mỹ-Ngụy” đã tự giải mã ra mặt trái bởi sự lệ thuộc không gỡ được của đảng CSVN với Trung Cộng từ sau năm 1991, khi hai nước nối lại bang giao.
Đời sống vật chất và tinh thần của Thanh niên hai miền Nam-Bắc, và sự cách biệt đãi ngộ, kỳ thị giữa đòan viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và những Thanh niên không thuộc tổ chức này, đặc biệt đối với Thanh niên có Tôn giáo, khác nhau ra sao trong các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, thi cử và tìm công ăn việc làm đã rõ như ban ngày.
Nhưng trước sức ép quân sự của Trung Cộng đang đè nặng lên Việt Nam ở Biển Đông kèm theo chính sách lũng đọan kinh tế trên đất liền, dọc theo biến giới Việt –Trung và bên trong lãnh thổ với những Công ty, Nhà máy của Bắc Kinh đang mọc lên như nấm từ mũi Cà Mâu lên đến Cao Bằng, trong đó có hai dự án phá sản Bauxite ở Tây Nguyên thì đòan Thanh niên Cộng sản HCM đã làm gì giải tỏa, hay chỉ biết nhắm mắt theo lệnh đảng tổ chức các buổi "Gặp gỡ Hữu nghị Thanh niên Việt – Trung 2014” và “Liên hoan Thanh niên Việt-Trung” theo ý muốn của Lãnh đạo hai nước như đã diễn ra tháng 11/2013?
CHUYỆN CŨ VÀ CHUYỆN MỚI
Nhưng trước mắt Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Dự khuyết BCHTƯ Đảng, Bí thư thứ Nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thì dường như bổn phận của Thanh niên phải bằng mọi cách bảo vệ Tổ quốc không rơi vài tay ngọai bang không quan trọng bằng làm theo mệnh lệnh của đảng đễ giữ đảng sống mãi.
Ông Vinh nói rằng: “Thanh niên là bộ phận đặc biệt của xã hội, có vị trí quan trọng trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Ngày nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (BVTQ), các cấp, các ngành cần phát huy tốt vai trò của thanh niên và thanh niên cần tiếp tục tự khẳng định mình thực sự là lực lượng xung kích, sáng tạo trong đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng.” (Trích Tạp chí Quốc phòng Tòan dân (QPTD), 14/03/2014).
Nhưng bảo vệ Tổ quốc bằng cách nào khi lực lượng Thanh niên đã phải làm theo mệnh lệnh sai lầm của đảng ?
Trong phong trào “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác” hay các cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới hải đảo”, “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Góp đá xây Trường Sa” không tạo được bất cứ tác động thực tế nào cho cuộc sống thường ngày của Thanh Niên và người dân, ngòai mục đích tuyên truyền để khoe khoang cho xong việc.
Đó chính là hậu qủa của tình trạng Thanh thiếu niên sống mất định hướng, đạo đức suy đồi và vi phạm nghiêm trọng tập qúan và luân thường đạo lý dân tộc.
Hãy nghe ông Vinh nhìn nhận: “Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thanh niên và phong trào cách mạng của tuổi trẻ cũng còn những hạn chế, đó là: không ít thanh, thiếu niên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức; lối sống “lệch chuẩn”, thực dụng, chạy theo giá trị vật chất tầm thường, thiếu ý chí vươn lên… Nguyên nhân của tình trạng trên, một mặt, là do tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; ý thức tự tu dưỡng, học tập, rèn luyện của thanh niên; mặt khác, rất quan trọng là, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền có lúc, có nơi chưa nhận thức đúng về vai trò của thanh niên và công tác thanh niên; chưa quan tâm giáo dục, rèn luyện, phát huy vai trò của họ; hiệu quả công tác giáo dục của Đoàn đối với một bộ phận thanh, thiếu niên chưa cao, chưa rõ nét…”
Ngôn ngữ của Vinh giống hệt như lời tuyên bố 2 năm trước đây của Tông Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng trong Diễn văn tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 10 ngày 13/12/2012.
Ông Trọng nói: “Mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tác động đến tư tưởng, phong cách, lối sống của thanh niên. Các thế lực thù địch gia tăng các hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng nhiều hình thức tinh vi, xảo quyệt nhằm làm cho nội bộ ta "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và lôi kéo một bộ phận thanh niên xa rời chủ nghĩa yêu nước, xem nhẹ truyền thống cách mạng, ít quan tâm sinh hoạt chính trị, sa vào lối sống thực dụng, ích kỷ cá nhân. Một bộ phận thanh niên có xu hướng coi thường giá trị nhân văn, kỷ cương, đạo lý, mắc tệ nạn xã hội. Không ít thanh niên mang tâm lý hưởng thụ, ỷ lại sự bao cấp của gia đình và xã hội; dao động, thụ động, không chịu học tập, rèn luyện nâng cao trình độ nhận thức về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ….
….Đoàn cần đặc biệt coi trọng và làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với đoàn viên, thanh niên. Đây vừa là yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài và là thước đo hiệu quả hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên. Đoàn cần giúp Đảng tập hợp, đoàn kết, giáo dục, đào tạo thanh niên, xây dựng một thế hệ thanh niên có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, sức sáng tạo để kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc.”
Như vậy, kể từ khi đảng thi hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25-6-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, đảng vẫn chưa làm xong “công tác thanh niên và công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, tư tưởng chính trị cho thanh niên.”
Các cơ quan đảng cũng chưa “quan tâm đến vấn đề chuẩn hoá, trẻ hoá, tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đoàn các cấp; luân chuyển, bố trí công tác phù hợp đối với cán bộ đoàn trưởng thành.”
Và đặc biệt Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vẫn phải: “ Tăng cường công tác giáo dục lý tưởng, đạo đức cách mạng, tư tưởng chính trị cho thanh niên, đấu tranh với các âm mưu lôi kéo, kích động thanh niên tham gia các hoạt động sai trái. Tiếp tục đổi mới phương thức tậo hợp, mở rộng mặt trận đoàn kết thanh niên. Chú trọng xây dựng mô hình tổ chức và phương thức tập hợp thanh niên thông qua các mạng viễn thông, internet, thanh niên ở địa bàn dân cư và các doanh nghiệp mọi thành phần kinh tế. Chấn chỉnh, đảm bảo hoạt động báo chí trong hệ thống của Đoàn thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích đã được xác định là kênh thông tin hữu hiệu cho việc giáo dục, tập hợp, đoàn kết thanh niên. Xây dựng và triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Tăng cường giáo dục đạo đức lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên, thiếu niên giai đoạn 2013-2020”.
Tại sao ? Bởi vì Bộ Chính trị đã thừa nhận: “Công tác thanh niên vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Một số cấp uỷ, chính quyền, cán bộ, đảng viên chưa quán triệt đầy đủ, sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác thanh niên; chưa cụ thể hoá các quan điểm, giải pháp của Nghị quyết phù hợp với thực tế địa phương, đơn vị; chưa quan tâm thường xuyên, đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết. Công tác thông tin, tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và định hướng dư luận xã hội cho thanh niên chưa đáp ứng yêu cầu. Chính sách về thanh niên và công tác thanh niên thiếu đồng bộ và chậm đi vào cuộc sống. Vai trò của tổ chức đoàn ở một số nơi, nhất là trên địa bàn dân cư, còn hạn chế. Công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên khu vực kinh tế ngoài nhà nước, trong các khu công nghiệp, đối với thanh niên Việt Nam ở nước ngoài chưa đạt yêu cầu. Chất lượng nguồn nhân lực trẻ chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một bộ phận thanh niên có biểu hiện sa sút về lý lượng, đạo đức, lối sống, mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật.”
Như vậy rõ ràng tổ chức Đòan Thanh niên Cộng sản HCM, đội hậu bị của đảng, đang có nhiều vấn đề có thể gây ảnh hưởng nghiệm trọng đến sự tồn vong của đảng CSVN. Mặc dù đảng đã tiêu phí không biết bao nhiêu tiền bạc cho Đòan TNCSHCM nhưng vẫn không ngăn chặn được “phong trào phai nhạt lý tưởng, mất định hướng” trong Thanh niên
Họ cũng đang phải đối phó với hai ác mộng “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” (tự bỏ đảng và không còn tin vào đảng) như đang diễn ra trong nội bộ của trên 3 triệu cán bộ, đảng viên. -/-

Phạm Trần
(04/014)

BTQ

Friday, April 4, 2014

'Giữ quốc tịch Việt Nam' - Lợi và hại?

 Thursday, April 03, 2014 12:35:27 PM

Hà Ngọc Cư/Người Việt


Lời Tòa Soạn: Bài viết dưới đây của ông Hà Ngọc Cư, giám đốc điều hành văn phòng CISS chuyên về di dân và tị nạn tại Houston, tiểu bang Texas, bàn về quy định của Bộ Tư Pháp Việt Nam là “ngày 1 tháng 7, 2014 là hạn chót để người Việt hải ngoại đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.” Người Việt Online trân trọng giới thiệu cùng độc giả.





Nguyên Ðỗ, 9 tuổi, và em gái trong buổi lễ nhập quốc tịch Hoa Kỳ tại Houston, Texas, năm 2008. Trên nguyên tắc, khi tuyên thệ nhập quốc tịch Mỹ là đã xin từ bỏ quốc tịch gốc. (Hình: KN/Người Việt)


***

Năm 2008, Việt Nam ban hành luật Quốc Tịch mới, trong đó Khoản 2, điều 13 liên quan đến “Việt kiều.” Mặc dầu Việt Nam gọi người Việt sống ở nước ngoài là “Việt kiều” là điều không hợp lý nhưng chúng tôi dùng tạm danh từ này cho “thuận tiện.”
Khoản 2, Ðiều 13 đại ý: “Người Việt định cư ở nước ngoài không có hộ chiếu còn giá trị và chưa mất quốc tịch Việt Nam trước ngày luật có hiệu lực (01/7/2014) thì phải đăng ký giữ quốc tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong thời hạn 5 năm (từ 01/9/2008 đến 01/7/2014). Nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch sau ngày 1 tháng 7, 2014.”

Hiện có khoảng trên 4 triệu “Việt kiều” sống ngoài nước Việt Nam nhưng theo thống kê của các cơ quan đại diện cho VN ở nước ngoài thì cho đến nay chỉ có 6,000 người đăng ký giữ quốc tịch VN, một con số rất “khiêm tốn” và là một bằng chứng rằng không mấy ai mặn mà với “Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.”
Dưới đây là một số thắc mắc chung về cái gọi là “đăng ký giữ lại quốc tịch Việt Nam.”

Hỏi: Tại sao trước đây chính quyền Việt Nam vẫn coi người Việt nhập quốc tịch khác vẫn còn là công dân Việt Nam mà bây giờ lại buộc người ta phải xin lại quốc tịch Việt Nam nếu không coi như bị mất quốc tịch gốc?
Ðáp: Vì luật Quốc Tịch mới của Việt Nam chỉ công nhận một quốc tịch nghĩa là không chấp nhận tình trạng song tịch.

Hỏi: Nếu tôi xin lại quốc tịch Việt Nam thì tôi có mất quốc tịch của nước khác không?
Ðáp: Tùy theo luật của quốc gia mà bạn xin quốc tịch. Nếu bạn mang quốc tịch Bỉ, Trung Quốc, Ðan Mạch, Phần Lan, Ðức, Nhật, Úc và một số quốc gia khác thì khi nhập quốc tịch của một nước khác là bạn mất quốc tịch của nước này. Nhưng nếu bạn mang quốc tịch của các nước Anh, Pháp, Canada, Hoa Kỳ, Ba Lan, Nga, Thụy Sĩ, Thái Lan và một số nước khác thì bạn không bị mất quốc tịch của nước này.

Hỏi: Như vậy là Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Canada... công nhận song tịch, phải không?
Ðáp: Xin trả lời riêng về Hoa Kỳ. Hiến Pháp và luật pháp Hoa Kỳ không công nhận song tịch mà cũng không cấm song tịch. Song tịch là 'vùng xám' của luật quốc tịch vì luật lệ mỗi nước một khác. Khi bạn giơ tay tuyên thệ bỏ quốc tịch Việt Nam để nhập tịch Mỹ thì đối với Hoa Kỳ bạn chỉ có quốc tịch Mỹ. Nhưng chính quyền Việt Nam nói rằng bạn chưa làm đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam nên bạn vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Hoa Kỳ không có quyền hạn gì đối với luật pháp của Việt Nam để bắt chính quyền Việt Nam công nhận bạn là công dân duy nhất của Hoa Kỳ.

Hỏi: Vậy theo luật Quốc Tịch mới của Việt Nam thì sau ngày 1/7/2014 mà tôi không đăng ký giữ lại quốc tịch Việt Nam thì tôi không còn là công dân Việt Nam nữa, đúng không?
Ðáp: Ðúng 100 phần trăm.

Hỏi: Nếu muốn xin giữ quốc tịch Việt Nam thì tôi phải làm sao?
Ðáp: Xin hỏi tòa Ðại Sứ hoặc các Lãnh Sự Quán Việt Nam nơi bạn ở.

Hỏi: Nếu tôi xin lại quốc tịch Việt Nam mà chính quyền Việt Nam buộc phải tuyên thệ từ bỏ quốc tịch cũ thì tôi có mất quốc tịch nước khác không?
Ðáp: Chỉ xin trả lời riêng cho trường hợp bạn đang có quốc tịch Mỹ. Ðiều khoản 349 INA của luật Quốc Tịch Mỹ chỉ ra rằng:
“Công dân Hoa Kỳ có thể mất quốc tịch Mỹ nếu nhập quốc tịch khác hoặc tuyên thệ trung thành với nước khác.”
Nhưng, ngày 16 tháng 4 năm 1990, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho rằng, “Công dân Hoa Kỳ vẫn còn ý định giữ quốc tịch Hoa Kỳ (nghĩa là không xin từ bỏ quốc tịch Mỹ) mặc dầu người đó nhập quốc tịch hoặc tuyên thệ trung thành với nước khác.” Như vậy chỉ khi nào bạn làm đơn và tuyên thệ xin từ bỏ quốc tịch Hoa Kỳ tại Bộ Ngoại Giao hay Sứ Quán Mỹ thì bạn mới mất quốc tịch Mỹ. Nhưng, xin nhớ rằng trên đây chỉ là huấn thị của Bộ Ngoại Giao chứ không phải là điều khoản luật do Quốc Hội thông qua và được tổng thống ban hành mặc dù huấn thị đã thi hành được 24 năm. Huấn thị này có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Vậy trước khi xin giữ lại quốc tịch Việt Nam xin hãy cân nhắc lợi hại thật kỹ.

Hỏi: Có lại quốc tịch Việt Nam thì tôi được những lợi lộc gì?
Ðáp: Thì bạn được cấp passport Việt Nam, được ở Việt Nam lâu dài, được làm nghĩa vụ quân sự, được tậu nhà, được vào Ðảng... nhưng không được bầu cử, chứ đừng nói đến ứng cử, vì không có hộ khẩu thường trú không qua hiệp thương của Ðảng, vân vân và vân vân. Tóm lại bạn được gánh vác rất nhiều nghĩa vụ.

Hỏi: Tôi có quốc tịch Mỹ, con tôi sinh ra ở Việt Nam thì nó có song tịch không?
Ðáp: Theo luật quốc tịch Mỹ thì con của công dân Mỹ ra đời trên bất cứ nước nào cũng có quốc tịch Mỹ theo nguyên tắc huyết thống (jus sanguinis) của luật Quốc Tịch Mỹ, nhưng vì ra đời trên lãnh thổ Việt Nam nên cũng có quốc tịch Việt Nam. Như vậy đứa trẻ ra đời đã là song tịch. Chả hiểu chính quyền Việt Nam có công nhận tình trạng song tịch của nó hay không.

Hỏi: Ðứa nhỏ ra đời trên đất Mỹ nhưng bố mẹ đều là công dân Việt Nam thì đứa nhỏ có song tịch không?
Ðáp: Vì ra đời trên lãnh thổ Hoa Kỳ nên nó có quốc tịch Mỹ theo nguyên tắc lãnh thổ (jus soli) của luật Quốc Tịch Mỹ. Theo luật Quốc Tịch Việt Nam thì nếu cả bố lẫn mẹ đều là công dân Việt Nam thì đứa nhỏ sinh ra ở đâu cũng có quốc tịch Việt Nam. Cho nên Việt Nam buộc phải công nhận tính song tịch của nó.

Hỏi: Tôi có quốc tịch Mỹ rồi, nếu tôi xin lại được quốc tịch Việt Nam thì khi về Việt Nam sống lâu dài tôi có bị chính quyền Việt Nam coi là mất quốc tịch Mỹ không?
Ðáp: Có trời mới biết được! Nhưng quốc tịch Mỹ của bạn là do chính phủ Hoa Kỳ cấp. Chính quyền Việt Nam làm gì có quyền tước đoạt quốc tịch Mỹ của bạn. Nhưng ở Việt Nam chuyện gì cũng có thể xẩy ra.

Hỏi: Tôi có hai passport, môt passport Mỹ, một passport Viêt Nam. Vậy khi về Việt Nam tôi nên dùng passport nào.
Ðáp: Khi vào Việt Nam thì dĩ nhiên bạn phải xuất trình passport Việt Nam. Nhưng khi về lại Mỹ thì bạn phải xuất trình passport Mỹ. Nhưng nếu nhân viên CBP ở cửa khẩu thấy bạn có hai passport như vậy thì bạn có thể gặp rắc rối.

Hỏi: Nếu xin lại quốc tịch Việt Nam mà họ buộc phải trung thành với nhà nước Việt Nam mà trước đây tôi đà tuyên thệ trung thành với Hoa Kỳ rồi thì có gì sai quấy không?
Ðáp: Sai quấy về pháp luật thì có thể không nhưng về mặt đạo đức thì hành động như vậy là mình đã không tôn trọng lời tuyên hứa của mình.


http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=27962 

Vũ khí chiến lược dầu hỏa - Nguyễn Đình Phùng (Bài viết rất hay nên đọc cho biết) (y)

Trong vòng ba năm nay, những tính toán về thế chiến lược địa dư toàn cầu đã bị một vũ khí chiến lược mới của Hoa Kỳ làm thay đổi hẳn cục diện. Đó là vũ khí dầu hỏa, một thứ vũ khí trước giờ làm Hoa Kỳ khốn đốn và bị lệ thuộc vào những quốc gia không mấy gì thân thiện với Hoa Kỳ nắm giữ như những xứ vùng Trung Đông, Venezuela và Nga. Nhưng thế cờ hiện nay đã bị lật ngược và Hoa Kỳ đã nắm thượng phong để có thể dùng dầu hỏa như một vũ khí chiến lược cho những tính toán mới cho chính trị địa dư toàn cầu.

Điều này xảy ra được hoàn toàn nhờ vào một kỹ thuật mới về đào dầu. Đây là phương cách tân tiến nhất dùng vệ tinh satellite để điều khiển mũi khoan dầu, đào sâu xuống nhiều dặm dưới lòng đất rồi tùy theo vị trí có thể quay ngang và đào bên cạnh gọi là horizontal drilling, tiến tới mục tiêu chính xác có thể chỉ nhỏ như một chiếc bánh xe! Trước kia việc đào dầu thường chỉ dùng những dữ kiện do địa chấn đem lại để tìm mỏ dầu và đào thử hàng chục lần mới được một lần trúng. Những lần đào hụt gọi là dry holes, tốn tiền nhiều và mất nhiều thời giờ để đào trúng mỏ dầu. Với những dữ kiện về địa chất do satellite technology và cách đào ngang horizontal drilling, việc đào hụt gặp dry holes không xảy ra nữa!

Nhưng việc sản xuất dầu hiện nay tại Hoa Kỳ thay đổi nhiều hơn cả là do việc lấy dầu từ đá gọi là shale oil. Dưới đáy của những mỏ dầu đã bơm ra gần cạn từ đầu thế kỷ 20 đến giờ, là những mỏ đá shale oil chứa dầu nằm lẫn trong đá. Dầu hỏa nằm trong đá này trước giờ không lấy ra được vì không chảy và không bơm lên được, gọi là dầu chặt, tight oils. Dung lượng của những mỏ dầu nằm trong shale oil còn nhiều hơn những mỏ dầu bơm lên dễ dàng trước kia, nhưng nay đã bơm cạn.

Kỹ thuật mới hiện tại là dùng cách đào như diễn tả trong đoạn trước và đào ngang horizontal drilling để tiến sâu vào những mỏ đá shale oil. Sau đó hàng ngàn gallons nước được bơm thẳng vào những vết nứt của mỏ đá shale oil này với áp suất cực mạnh. Dầu và khí đốt nằm trong đá được hút ra sau khi được nước bơm vào giải tỏa và được bơm thẳng lên trên mặt đất. Kỹ thuật này gọi là hydraulic fracturing, thường gọi tắt là fracking và hiện đang được áp dụng tại ba vùng có mỏ dầu shale oil lớn nhất Hoa Kỳ. Đó là vùng Bakken tại tiểu bang North Dakota, vùng Permian Basin gần Midland, Texas và vùng Eagle Ford tại phía Nam Texas.

Nhờ vào số lượng dầu bơm từ ba vùng này với kỹ thuật mới, mức sản xuất dầu của Hoa Kỳ đã tăng vọt từ 5 năm trở lại, nhưng tăng nhiều nhất là ba năm nay. Trong thập niên 60’s mức sản xuất dầu của Hoa Kỳ lên đến mức cao nhất và sau đó đi xuống dần. Năm 1970 là mức tột đỉnh với sản xuất dầu nội địa là 9.6 triệu thùng dầu một ngày. Sau đó các mỏ dầu nhất là tại vùng Texas cạn dần, cho đến năm 2008 chỉ còn sản xuất được 5 triệu thùng dầu một ngày. Nhưng từ năm 2011 đến 2014, mức sản xuất dầu hỏa nhờ vào kỹ thuật fracking đã làm tăng lên được 46%, chưa bao giờ tăng nhanh lên được như vậy kể từ giai đoạn 1921-1924, đúng 90 năm trước, lúc mới bắt đầu việc đào dầu tại Hoa Kỳ tạo ra các nhà tỷ phú như Rockefeller thời đó!

Năm 2013 mức sản xuất dầu của Hoa Kỳ là 7.5 triệu thùng dầu một ngày, với ước tính cho năm 2014 sẽ là 8.3 triệu thùng dầu sản xuất mỗi ngày. Với đà sản xuất này, theo cơ quan năng lượng quốc tế International Energy Agency, đến năm 2020, Hoa Kỳ sẽ qua mặt Saudi Arabia để sản xuất lên đến mức 11.6 triệu thùng dầu một ngày!

Như vậy điều rõ ràng nhất là Hoa Kỳ sẽ không cần đến Saudi Arabia như trước nữa! Xứ này từ trước đến nay nắm giữ quyền lực về dầu hỏa vì được coi là swing producer, tức có khả năng để ấn định giá cả cho dầu hỏa. Với mức bơm dầu nhiều nhất thế giới, Saudi Arabia chỉ việc bơm nhiều hơn hay ít hơn để xác định giá cả cho dầu hỏa và Hoa Kỳ lệ thuộc vào xứ này trên phương diện chiến lược. Như việc phải bảo vệ cho Saudi Arabia với các căn cứ quân sự tại đây cũng như đặt Đệ Ngũ hạm đội tại vùng Bahrain và tuần tiễu trên vùng Vịnh để giữ cho đường thủy chở dầu được lưu thông.

Trong chiến lược ngăn chặn Iran không cho quốc gia này chế tạo bom nguyên tử, ngoài việc bảo vệ Do Thái, Hoa Kỳ còn bị áp lực của Saudi Arabia. Lý do là hai xứ Iran và Saudi Arabia là hai kẻ thù không đội trời chung. Iran được coi như cầm đầu các xứ theo Shiite, trong khi Saudi Arabia là quán quân cho phe Sunni của Hồi Giáo. Thế chiến lược địa dư hiện nay tại vùng Trung Đông có thể coi như một cuộc tranh chấp đẫm máu giữa hai giáo phái Sunni và Shiite của Hồi Giáo. Hiện nay cuộc nội chiến tại Syria đã biến thể để thành chiến tranh giữa Shiite với phe của Assad và Iran ủng hộ, với phe Sunni của đa số dân Syria được Saudi Arabia và các vương quốc vùng Vịnh yểm trợ. Đây chính là lý do Saudi Arabia đã bất mãn đến cùng cực khi Tổng Thống Obama chùn chân không chịu cho tấn công Assad năm ngoái sau vụ thảm sát dân lành bằng vũ khí hóa học. Quốc Vương Abdullah của Saudi Arabia đã coi đây là một sự phản thùng của Obama, không chịu tiến tới trong việc yểm trợ phe Sunni để lật đổ Assad như Saudi Arabia đã mong muốn.

Tuy nhiên việc Obama trở mặt vào phút chót đối với Saudi Arabia đã cho thấy một điều rõ ràng. Là ảnh hưởng của Saudi Arabia đối với Hoa Kỳ đã không còn được như trước. Obama đã tính toán là vùng Trung Đông không còn giữ vai trò quan trọng như khi Hoa Kỳ bị lệ thuộc vào Saudi Arabia về dầu hỏa và cần phải giữ cho Saudi Arabia hài lòng bằng mọi giá, kể cả việc gây ra thêm một cuộc chiến tranh khác như tại Syria. Với mức dầu hỏa sản xuất tại Hoa Kỳ chỉ trong thời gian ngắn sắp đến sẽ làm Hoa Kỳ độc lập về dầu hỏa, Saudi Arabia đã mất đi thế đòn bẩy để áp lực Hoa Kỳ bằng dầu. Nên việc Obama trở mặt với vua Abdullah của Saudi Arabia trong vụ Syria vừa qua có thể coi như bước đầu trong thề chiến lược thay đổi của Hoa Kỳ tại vùng Trung Đông, khi Hoa Kỳ đã nắm được thế thượng phong với vũ khí chiến lược dầu hỏa.

Cũng thế, lý do để Iran phải chịu vào bàn thương thuyết với Hoa Kỳ về việc tinh luyện nhiên liệu uranium cho bom nguyên tử, cũng do Hoa Kỳ đã trên chân về vũ khí dầu hỏa. Iran trước giờ đe dọa sẽ cho phong tỏa eo biển Hormuz để chặn đường biển chở dầu hỏa từ các xứ vùng Vịnh, kể cả Saudi Arabia. Nhưng với Hoa Kỳ gia tăng mức sản xuất dầu do fracking, thế đòn bẫy này của Iran không còn nữa. Hoa Kỳ trong những năm của thời George Bush hay Clinton đã không thể dùng những biện pháp chế tài kinh tế khắt khe với Iran chỉ vì sợ Iran làm thật để phong tỏa eo biển Hormuz và làm rối loạn kinh tế toàn cầu khi giá dầu lên vài trăm Mỹ Kim một thùng.

Nhưng khi áp lực đòn bẫy này của Iran không còn nữa, Obama đã có thể cho áp dụng các biện pháp chế tài kinh tế khắt khe nhất mà không sợ Iran phản ứng lại. Điều làm cho Iran phải qui hàng và chịu vào bàn thương thuyết chính là đòn cô lập Iran về ngân hàng và tín dụng. Các ngân hàng trên toàn cầu không thể giao dịch với Iran nên xứ này bị loại ra khỏi hệ thống ngân hàng và tín dụng, không thể bán dầu lấy dollar được, chỉ có thể trao đổi hàng hóa với Trung Hoa, Ấn Độ….. nên đã bị thiệt hại nặng và sụp đổ kinh tế.
Như thế một khi Hoa Kỳ chiếm thế thượng phong trong vũ khí chiến lược dầu hỏa, các bài tính chiến lược của vùng Trung Đông đã phải thay đổi hết và đem lại những giải quyết cho vấn đề Iran nhức đầu cho Hoa Kỳ hàng bao nhiêu năm nay.

Trong cuộc khủng hoảng mới nhất hiện nay tại Ukraine, vũ khí chiến lược dầu hỏa và khí đốt cũng đã trở thành thế lực mạnh nhất cho các tính toán của Putin và Obama trong việc đối chọi giữa Nga và thế giới Tây Phương hiện nay. Hoa Kỳ và Âu Châu gần như đã chấp nhận cho Putin chiếm Crimea, nhưng muốn ngăn chặn những tham vọng kế tiếp của Putin là chiếm luôn miền phía Đông và Nam Ukraine, phân chia xứ này ra làm hai, nửa theo Nga, nửa theo Tây Âu. Putin có thế đòn bẫy là cung cấp khí đốt cho Âu Châu bằng các ống dẫn khí đốt này chạy ngang qua lãnh thổ Ukraine. Nếu Hoa Kỳ và Tây Âu làm dữ, nhất định trừng phạt Nga nặng nề hơn bằng các biện pháp kinh tế và loại Nga ra khỏi hệ thống ngân hàng và tín dụng, Putin có thể phản ứng lại bằng cách cho khóa các ống dẫn khí đốt này và 60% nhà cửa của Tây Âu sẽ lạnh cóng vì thiếu hơi đốt!

Ngoài ra Nga cũng là xứ sản xuất dầu và cung cấp cho Âu Châu nên ngoài khí đốt, dầu hỏa sẽ bị khan hiếm với giá tăng vọt cho dân chúng Âu Châu. Hoa Kỳ có thể cho xuất cảng hơi đốt sang Âu Châu bằng cách cho đông lạnh liquefied natural gas và dùng tầu tanker chở băng ngang qua Đại Tây Dương cung cấp cho khí đốt cho Âu Châu. Nhưng những cơ sở để làm đông lạnh hơi đốt tại Hoa Kỳ và các cơ cấu hạ tầng chưa có sẵn tại Hoa Kỳ và sẽ mất hai ba năm để có thể thay thế toàn bộ lượng khí đốt Âu Châu nhập cảng từ Nga.

Cũng thế tuy Hoa Kỳ trong tương lai có thể dư thừa dầu hỏa để xuất cảng sang Âu Châu. Nhưng hiện nay Hoa Kỳ vẫn còn lệnh cấm xuất cảng dầu do Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành luật này từ đầu thập niên 70’s khi dân chúng Hoa Kỳ phải xếp hàng để mua xăng! Muốn xuất cảng dầu, Hoa Kỳ phải bỏ luật cấm này. Nhưng hiện vẫn còn bị kỹ nghệ lọc dầu chống đối và chưa ra luật được! Lý do là các nhà máy lọc dầu hưởng lợi do việc mua dầu sản xuất tại Hoa Kỳ giá rẻ, cho lọc dầu và bán với giá của thị trường toàn cầu cao hơn nhiều. Nếu bỏ luật cấm xuất cảng dầu, các nhà máy lọc dầu sẽ phải mua dầu sản xuất nội địa với giá cao hơn nên không còn lời nữa! Vì sự chống đối của các kỹ nghệ lọc dầu, đạo luật cấm xuất cảng dầu vẫn chưa bỏ được!
Tuy nhiên nếu tình hình tại Ukraine trở thành tồi tệ hơn và Putin cho chiếm thêm đất xứ này, dĩ nhiên Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ phải bỏ luật cấm xuất cảng làm lợi cho thiểu số lọc dầu để bảo vệ cho chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ chống lại Nga!
Tuy vậy chỉ cần đe dọa là Hoa Kỳ sẽ thực hiện việc cung cấp khí đốt đông lạnh cho Âu Châu và sẽ cho xuất cảng dầu hỏa sang, dù phải mất hai ba năm nữa, cũng đủ để cho Putin phải chùn chân và tính toán lại nếu không muốn thấy kinh tế Nga đi vào chỗ sụp đổ như Iran hiện nay.

Đây là thế đòn bẫy quan trọng vì Nga hiện nay có thể được coi như một thứ Saudi Arabia thứ hai, gần như hoàn toàn chỉ sống bằng việc xuất cảng dầu hỏa và khí đốt. Kinh tế của Nga được coi là lệ thuộc hoàn toàn vào nguồn lợi thiên nhiên. Putin có mua chuộc được giới quân sự và được nhiều nhóm dân chúng ủng hộ, thực ra cũng nhờ vào các nguồn lợi do xuất cảng năng lượng này. Nên khi Hoa Kỳ có lợi thế hơn về vũ khí chiến lược dầu hỏa, thế đòn bẫy này của Nga đã giảm đi nhiều hiệu quả.

Và trong sự tính toán của Putin hiện nay, liệu việc chiếm thêm đất của Ukraine sẽ phải trả giá quá đắt do việc Hoa Kỳ và Âu Châu loại Nga ra khỏi hệ thống ngân hàng và tín dụng, cũng như trong hai ba năm đến sẽ ngưng mua dầu hỏa và khí đốt từ Nga. Lúc đó chắc chắn kinh tế Nga sẽ xuống dốc không phanh và sụp đổ dễ dàng. Putin dĩ nhiên sẽ tính toán lợi hại với các giả sử và bài tính khác nhau để chọn con đường đi tới trong vài tháng sắp đến. Việc Putin gọi điện thoại thẳng nói chuyện với Obama trong hai tiếng đồng hồ và cho ngoại trưởng Lavrov gặp ngoại trưởng John Kerry tuần qua là dấu hiệu Putin có thể cũng đã chùn chân và lạnh cẳng trước những đe dọa của Hoa Kỳ về năng lượng và phải tính lại hết các bài tính chiến lược mới!

Như vậy chỉ với một tiến bộ kỹ thuật mới về đào dầu, Hoa Kỳ đã làm thay đổi hẳn cục diện cho các thế chiến lược và chính trị địa dư của toàn cầu. Chỉ trong vòng ba năm, Hoa Kỳ đã chiếm thế thượng phong đối với vũ khí chiến lược dầu hỏa và nhờ đó thay đổi hẳn các tính toán cho vùng Trung Đông cũng như cho Âu Châu hiện tại. Kẻ thù tương lai và nguy hiểm nhất cho Hoa Kỳ hiện nay là Trung Hoa cũng sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ vì ưu thế mới này của Hoa Kỳ đối với vấn đề năng lượng.

Điều đầu tiên là những kỹ nghệ sản xuất về solar panels, chế các tấm bảng đổi ánh sáng mặt trời ra điện của Trung Hoa hiện nay đã bắt đầu bị phá sản. Trong mấy năm trước, Trung Hoa đã chiếm đến 80% thị trường về kỹ nghệ này. Nhưng với giá dầu đi xuống, mức sản xuất dầu nội địa Hoa Kỳ đi lên, các kỹ nghệ về năng lượng mặt trời đều bị phá sản hết! Và Trung Hoa đầu tư nặng về các ngành này sẽ bị ảnh hưởng nặng! Đây chỉ là một điểm nhỏ trong những chiều hướng thay đổi lớn trên toàn cầu do các tiến bộ về kỹ thuật đem lại.

Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của Trung Hoa trong vài thập niên qua, thực sự chỉ do Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật sai lầm đầu tư quá trớn vào Trung Hoa và thiếu suy nghĩ cho các hậu quả tương lai. Nhưng Trung Hoa không thể so sánh với Hoa Kỳ về phương diện tiến bộ kỹ thuật, chỉ biết học lén, ăn cắp và lường gạt các nhà đầu tư ngoại quốc. Nên hiện nay kinh tế Trung Hoa đã chậm lại và nhiều phần sẽ đi vào suy thoái nặng trong tương lai.

Tóm lại Hoa Kỳ vẫn là quốc gia hàng đầu của thế giới với những phát minh và tiến bộ kỹ thuật mới mẻ. Chỉ với một phương cách đào dầu tân tiến, Hoa Kỳ đã làm thay đổi hẳn những thế tính toán chiến lược địa dư trên toàn cầu. Tất cả nhờ vào vũ khí dầu hỏa nay đã trở thành ưu thế chiến lược cho Hoa Kỳ để chống lại với các kẻ thù cũ như Iran, Nga. Cũng như đối với kẻ thù mới trong tương lai chính là Trung Hoa vậy!

Nguyễn Đình Phùng