Saturday, October 1, 2011

Ném đá dò đường

Posted on

Nguyễn Nghĩa 650 (danlambao) Ngày 27/9/2011, tạp chí Hoàn cầu Thời báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đăng 1 bài xã luận tựa đề "Thời cơ tốt để có hành động quân sự tại Nam Hải", kêu gọi dạy Việt Nam và Philippines 'bài học đạo đức' bằng vũ lực. Bài báo được ký bởi bút hiệu Long Tao, phân tích gia chiến lược của tổ chức phi chính phủ Quỹ Năng lượng Trung Quốc và cũng là chuyên gia của Trung tâm An ninh Phi truyền thống và Phát triển Hòa bình của Đại học Triết Giang. Bài báo bằng tiếng Hoa nhưng bản dịch tiếng Anh ngay sau đó đã xuất hiện và lan tỏa trên mạng internet.

1. Nội dung của bài xã luận được tóm tắt như sau: 

1.1. "Đừng lo ngại về các cuộc chiến quy mô nhỏ; đây là cách tốt nhất để giải tỏa nguy cơ chiến tranh". 
"Đánh vài trận nhỏ là có thể tránh được những trận đánh lớn." 

1.2. "Trong cuộc chiến trên Biển Nam Trung Hoa, chúng ta cần thu hẹp phạm vi tấn công và tập trung vào những nước đang ra vẻ ta đây nhất hiện nay, Philippines và Việt Nam. 
"Giết những con gà để dọa bầy khỉ." 

1.3. "Cội nguồn của "vấn đề" Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] là chế độ Nam Việt Nam và chính quyền độc lập ở Việt Nam sau đó. 

"Việt Nam xâm phạm đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) của Trung Quốc và đòi hỏi chủ quyền đối với đảo Tây Sa. 

"Ngoài việc trừng phạt chế độ Nam Việt Nam với cuộc phản công trên đảo Tây Sa và cuộc tấn công tự vệ trên đất liền, Trung Quốc chưa bao giờ ngăn chặn được sự xâm lược công khai của Việt Nam ở Biển Nam Trung Hoa." 

1.4. Việt Nam đã khuyến khích các nước khác "cướp" đảo Trường Sa của Trung Quốc và giờ lại kéo Hoa Kỳ cùng một số nước nhỏ khác nhằm đe dọa Trung Quốc. 

"Nhiều nước đang liên tục có những cuộc tập trận lớn và như vậy Trung Quốc có lý do hoàn toàn thích đáng để tấn công trả đũa." Học giả Trung Quốc viết "Tôi cho rằng các nước đang xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. 

1.5. Học giả Long Tao nhắc tới hành động của Nga hồi năm 2008 ở Biển Caspi và nói hành động của các nước lớn có thể gây sốc tạm thời với hệ thống quốc tế nhưng về lâu dài có thể tạo sự ổn định trong khu vực và thúc đẩy hòa giải chiến lược. 

1.6. Phân tích gia này nhận định Hoa Kỳ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cuộc chiến chống khủng bố và về cơ bản không thể bắt đầu cuộc chiến thứ hai ở Biển Nam Trung Hoa. 
"Quan điểm cứng rắn của Hoa Kỳ chỉ là trò lừa phỉnh." 

1.7. Chuyên gia tại Quỹ Năng lượng Trung Quốc cũng nói hiện có hơn 1.000 giếng dầu khí ở Biển Đông trong đó không có giếng nào của Trung Quốc. 

Bên cạnh đó, ông nói, hiện Nam Sa (Trường Sa) có bốn sân bay mà Trung Quốc không có sân bay nào. 

1.8. Bài xã luận của Hoàn cầu Thời báo nói rằng chưa cần biết ai thắng, ai thua, chiến trận trên Biển Đông sẽ tạo ra những hòn đảo lửa và các công ty dầu khí phương Tây sẽ phải rời đi. 

1.9. Phần kết của bài báo nói Trung Quốc cần có quyết tâm cho một trận chiến lớn và thực sự chuẩn bị cho một cuộc chiến quy mô nhỏ vì như vậy "Trung Quốc đã cho những nước khác sự lựa chọn giữa hòa bình và chiến tranh." [theo bbc.com ngày 30/9/11]. 


2. Bác luận điểm cơ bản của bài báo về chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa. 

Như vậy chúng ta thấy tác giả bài báo công khai thể hiện quan điểm dùng chiến tranh để giải quyết tranh chấp Biển Đông. 

Đây là luận điệu sặc mùi bá quyền nước lớn, mà vẫn cố khoác cho mình chiếc áo chính nghĩa. Chiếc áo chính nghĩa đó là việc coi Hoàng Sa, Trường Sa là nghiễm nhiên thuộc lãnh hải Trung Quốc, thuộc chủ quyền của Trung Quốc. 

Ông ta viết : "Cội nguồn của "vấn đề" Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] là chế độ Nam Việt Nam và chính quyền độc lập ở Việt Nam sau đó.  "Việt Nam xâm phạm đảo Nam Sa [Việt Nam gọi là Trường Sa] của Trung Quốc và đòi hỏi chủ quyền đối với đảo Tây Sa." 

Vậy, ta hãy xem Trung Quốc ăn cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam như thế nào ? 

2.1. Trong tất cả sử sách chính thống của Trung Quốc, không có một dòng chữ nào nghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa. 

Trong các bộ chính sử Trung Hoa, có bộ chép phần Địa Lý chí giản lược, có bộ chép khá chi tiết, dung lượng không đều, nhưng có sự mạch lạc về mặt địa lý hành chính các triều đại, vì vậy chúng được xem là một hệ thống lịch sử địa lý hành chánh hoàn bị bậc nhất trên thế giới. 

Chính sử của Trung Quốc từ Sử ký Tư Mã Thiên, Hán Thư, Hậu Hán Thư cho đến Minh Sử và kể cả Thanh Sử không hề có ghi chép nào để chứng minh Trung Quốc đã từng thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Tây Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa). Có thể nói lời văn và câu chữ trong suốt sử ký của Trung Quốc qua các thời đại hoàn toàn trái với những gì mà nhà cầm quyền Trung Quốc và giới học giả Trung Quốc vẽ ra theo mộng tưởng của mình./xem BienDong.net Phùng Nguyễn/. 

2.2. Cho tới 10/1949, nước Trung Hoa Dân Quốc không có khái niệm về chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa. 

Tại Hội nghị Cairo, Ai Cập năm 1943, nguyên thủ 3 quốc gia đồng minh gặp nhau: Tưởng Giới Thạch, Franklin Roosevelt và Winston Churchill, nhằm bàn kế hoạch tác chiến chống phát xít Nhật tại khu vực Thái Bình Dương. Các đoàn quân sự ba nước cũng họp song song. Sau hội nghị, liên minh ba nước ra tuyên bố (1.12.1943): 

“.. quyết tâm giải phóng tất cả các lãnh thổ, hải đảo tại khu vực Thái Bình Dương đã bị Nhật xâm chiếm từ Chiến tranh thế giới I; trả lại cho Trung Hoa các lãnh thổ đã bị Nhật chiếm như Đài Loan, Bành Hồ, vv.; Nhật Bản cũng sẽ phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác đã chiếm được bằng vũ lực và lòng tham”, ” http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn

Trong tuyên bố trên, Tưởng Giới Thạch hoàn toàn không đả động đến Hoàng Sa, Trường Sa. Hiển nhiên, nếu Hoàng Sa, Trường Sa nằm trong tư duy lãnh thổ của lãnh đạo chính trị Trung Hoa Dân Quốc, thì họ Tưởng chắc chắn phải thêm 2 địa danh Hoàng Sa, Trường Sa vào bản Tuyên bố chứ không phải để lửng..vv.. Dấu 3 chấm sau cụm địa danh Đài Loan, Bành Hồ chỉ nói rằng: giới lãnh đạo Trung Hoa Dân Quốc bấy giờ để lửng để có thể thêm thắt, giải thích, chú phụ sau này. Dấu chấm lửng khẳng định là tại thời điểm hội nghị này, Hoàng Sa, Trường Sa không có trong khái niệm địa lý của giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc. Cả phái đoàn quân sự đông đảo của Tưởng Giới Thạch, cũng không ai có đề nghị gì về Hoàng Sa, Trường Sa. Giả sử như Hoàng Sa, Trường Sa có trong tư duy địa lý của họ Tưởng, của phái đoàn quân sự Trung Hoa Dân Quốc thì việc thêm 2 địa danh này bản tuyên bố là chuyện chắc chắn phải xẩy ra. Điều này chứng tỏ họ Tưởng, cả phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc nói riêng và tư duy địa lý nói chung của người Trung Quốc, không hề coi Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc lãnh hải Trung Quốc. Mặc định của trường hợp này là họ đã công nhận một cách hiển nhiên, khi Đồng minh đánh bại Nhật Phát xít thì Hoàng Sa, Trường Sa sẽ trở về với chủ chính thống của nó là Việt Nam, nước đã tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa và thực thi quyền làm chủ một cách liên tục cho đến 1939 khi Nhật Bản dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, Trường Sa. 

2.3. Tuyên bố Postdam và tính bất hợp pháp của chiếm đóng Tưởng Giới Thạch tại Hoàng Sa, Trường Sa. 

Tổng thống Hoa Kỳ, Thủ tướng Anh và Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc ngày 26/7/1945 đã ra một tuyên ngôn (thường gọi là Tuyên ngôn Potsdam) trong đó ghi rõ: “các điều khoản của bản Tuyên cáo Cairo sẽ được thi hành”. 

Ngay tại thời điểm này, Tưởng Giới Thạch cũng không yêu cầu sửa đổi nhằm thêm 2 địa danh của 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào các điều khoản của Tuyên cáo Cairo. 

Tại hội nghị Postdam, việc giải giáp quân đội Nhật Bản tại Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên được giao cho Trung Hoa Dân Quốc. Từ vĩ tuyến 16 trở xuống được giao cho liên quân Anh- Ấn. 

Ngày 29 tháng 11 năm 1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên của Trung Hoa Dân Quốc tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa. 

Quân đội Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng 1 đảo ở Hoàng Sa, 1 đảo ở Trường Sa bất hợp pháp, vi phạm luật pháp quốc tế. Họ chỉ có quyền giải giáp quân đội Nhật ở Hoàng Sa. 

2.4. Đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa bị bác bỏ tại Hội nghị San Francisco 1951. 

Tháng 10/1949 Đảng cộng sản Trung Quốc chiếm lĩnh đại lục. Năm 1950, Trung Quốc tiếp quản các đảo do Tưởng Giới Thạch chiếm đóng: 1 tại Hoàng Sa, 1 tại Trường Sa. Tập đoàn lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu hiểu rõ vị trí chiến lược của Hoàng Sa, Trường Sa trong cuộc chiến Thái Bình Dương với Hoa Kỳ của Nhật Bản. 

Chu Ân Lai mài sắc hàm răng sói trong đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa tại Hội nghị San Francisco năm 1951. 

Tháng 9 năm 1951, các quốc gia Đồng minh nhóm họp ở San Francisco (Hoa Kỳ, để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á-Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. 

Cả Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa quốc dân đảng đều không tham dự. Tuy nhiên, Liên Xô đã làm đại diện cho quyền lợi của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tại Hội nghị này. 

Ngày 5-9-1951, phát biểu trong phiên họp, Andrei A. Gromyko – Ngoại trưởng Liên Xô – đã đưa ra đề nghị có khoản tu chỉnh nội dung: 

“Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”. 

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, thông qua Liên Xô, lúc này chỉ viện dẫn được 1 lý lẽ cho đề nghị tu chỉnh là việc Trung Hoa Dân quốc thừa lệnh Đồng Minh tiếp quản 1 đảo ở Hoàng Sa và 1 đảo ở Trường Sa năm 1946, để làm luận cứ cho rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc về Trung Quốc. 

Với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận, Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của phái đoàn Liên Xô. 

Với việc bác bỏ đề nghị của Liên Xô, 51 nước tham dự Hội Nghị San Francisco đã chính thức công nhận rằng Trung Quốc không có chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa. 

2.5. Hội nghị San Francisco xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa. 

Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản được ký kết tại San Francisco ngày 8-9-1951 quy định Nhật Bản phải rút lui khỏi những nơi, mà nước này đã dùng vũ lực để chiếm đóng trong Thế chiến hai. Hiệp ước quy định: “Nhật Bản từ bỏ tất cả quyền, danh nghĩa và đòi hỏi với quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)”. 

Nhận lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự Hội nghị. 

Ngày 7-9-1951, phát biểu tại Hội nghị, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Trần Văn Hữu nêu rõ: 

“Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận (chứng nhận): Về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. 

Lời xác nhận chủ quyền đó của phái đoàn Việt Nam- thành viên của khối Liên hiệp Pháp–không hề gây ra một phản ứng chống đối, hoặc 1 yêu sách nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị. 

Không có sự phản đối nào của các nước tham dự Hội nghị cũng chính là sự thừa nhận của các nước Đồng Minh về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này. 

2.6. Sự có mặt của Trung Quốc tại Biển Đông là do chiếm đóng phi pháp 1 đảo tại Hoàng Sa, 1 đảo tại Trường Sa năm 1946 và hành động ăn cướp năm 1974 và 1988. 

Hội nghị Postdam chỉ cho phép Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật. Lợi dụng Việt Nam đang chiến tranh, hải quân Tưởng Giới Thạch đã chiếm đóng trái phép trên 2 đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa năm 1946. 

Năm 1974, Trung Quốc cướp Hoàng Sa của Việt Nam cộng hòa, nước đang thực thi gìn giữ chủ quyền tại đây bằng 1 trận hải chiến làm 74 chiến sĩ hải quân Việt Nam tử vong. 

Năm 1988, Trung Quốc lại dùng vũ lực đánh chiếm 7 đảo của Việt Nam tại Trường Sa, 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam hi sinh. 

3. Đầu thạch vấn lộ [ném đá dò đường]. 

Nếu Trung Quốc là nước dân chủ, việc thảo luận về tranh chấp Biển Đông với các ý kiến khác nhau là việc bình thường. Thế nhưng Trung Quốc là 1 nước toàn trị. Việc đăng bài báo sặc mùi chiến tranh trên tờ báo của Đảng cộng sản là 1 hành động cố ý, có chủ tính của ban lãnh đạo hoạch định chính sách Đảng cộng sản Trung Quốc. 

Đây có thể là tiếng nói của 1 tập đoàn kinh tế khát dầu hỏa. 

Đây cũng có thể là tiếng nói của phe quân sự Trung Quốc đang đòi hỏi nhiều quyền lực hơn trong chính trị Trung Quốc. 

Tôi cho rằng bài báo "Thời cơ tốt để có hành động quân sự tại Nam Hải" của tác giả Long Tao có thể xem là 1 mưu chước có tên là “Ném đá dò đường”. 

Thật vậy, tình hình Biển Đông biến đổi không ngừng theo chiều hướng không thuận lợi cho Trung Quốc. 

Kể từ đầu tháng 5/2010, khi Trung Quốc hung hăng tuyên bố "Đường lưỡi bò" là lợi ích cốt lõi, đến nay đã dần dần hình thành 1 mặt trận dăng thiên la địa võng nhằm ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông. 

Đã hình thành những liên minh chưa chính thức như Mỹ-Úc-Nhật-Ấn, hay Hoa Kỳ- Phillippines, Hoa Kỳ - Nhật Bản - Nam Hàn, Việt-Ấn... nhằm chống lại các mưu đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. 

Trung Quốc đang bị cô lập. 

Hoa kỳ đang tích cực sử dụng sức mạnh mềm của cường quốc số 1 chống Trung Quốc tại Biển Đông. 

Cảm thấy bất an, Trung Quốc đang tìm cách phá sự vây hãm như vô hình này. 

Gần đây đã có ý kiến của 1 học giả Trung Quốc, ông Huang Jing, giáo sư của Trường Chính sách Công Lý Quang Diệu thuộc Đại học Quốc gia Singapore, cho rằng Bắc Kinh muốn thỏa hiệp với Asean về Biển Đông để ngăn sự can dự của Mỹ. 

Đặc biệt, ông này ra giả thiết Trung Quốc có thể từ bỏ “đường 9 điểm” (đường lưỡi bò). Đây cũng là 1 phép thử, 1 viên đá ném ra, nằm trong các cố gắng tìm đường theo hướng phá vây này. 

Một viên đá thứ 2 được ném ra là hô hào chiến tranh, như ta đã đọc ở phần đầu bài báo này. 

Luận điệu thì ngô nghê, đầy hăm dọa. 

Chiến tranh không phải trò chơi trận giả của trẻ con. 

Trung Quốc không thể chỉ đốt Biển Đông thành biển lửa, mà cảng tầu ngầm nguyên tử Hải Nam của họ được an toàn. 

Trung Quốc không thể phá xập, đốt cháy 1000 dàn khoan trên Biển Đông, rồi tuyên bố ngừng trò chơi trận giả này. 

Các hải lộ trên Biển Đông là nơi các tầu nhập dầu hỏa, khí đốt.. của Trung Quốc đi qua. Nếu các dàn khoan trên Biển Đông bị cháy, thì rất có thể hỏa hoạn cũng lan sang các tầu này của Trung Quốc. 

Nền kinh tế Trung Quốc chịu được cơn khát dầu hỏa trong thời gian bao lâu? 

Hơn nữa, lửa có thể cháy đến những mục tiêu quân sự quan trọng trên đất Trung Quốc... 

Tóm lại, đây còn có thể là 1 bài báo nhằm đưa cho những người theo chủ trương "Cùng với Trung Quốc xây dựng CNXH" những luận cứ bênh vực chính kiến đầu hàng, sợ Trung Quốc của họ. 

Tuy vậy bài báo đã bộc lộ tính cuồng chiến của Đảng cộng sản Trung Quốc. 

Với luận điệu này của bài xã luận, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng hẳn đã hiểu phải thanh minh thế nào trước nhân dân Việt Nam về chuyến sang thăm Trung Quốc sắp tới này. 

Tổng bí thư có cân nhắc hủy bỏ chuyến đi thăm này không? 

Để tránh các lú lẫn của Ung Văn Khiêm, Phạm Văn Đồng, Tổng bí thư cần viết "cẩm nang" khi hội đàm với lãnh đạo Trung Quốc. 

Nội dung " cẩm nang" này rất đơn giản, chỉ có dòng chữ: HS-TS-VN. 



*

Bài liên quan đã đăng:

. Bookmark the permalink.

2 Responses to Ném đá dò đường

  1. Truongsa says:
    "74 chiến sĩ hải quân Việt Nam 'tử vong'".
    "64 chiến sĩ hải quân Việt Nam 'hi sinh'"
    ???

  2. Hoang Sa, Truong Sa la cua Viet nam. says:
    Hoang Sa, Truong Sa la cua Viet Nam. Khong co gi ma phai ban cai voi tau cong. Ro rang va dut khoat. Khong hieu dang cong san cua ho chi minh nghi the nao ma cu di dam phan voi ke cuop. De tang khong, de chia phan, hay de giu quyen luc cua dang? neu khong phai nhu vay thi khong co gi de dam phan. Cua Viet Nam ta la dut khoat cua Viet Nam. 

Chương Trình Phát Thanh Tối Thứ Bảy 01.10.2011

Việt Nam tuần qua 30-09-2011


Berlin - Đức : Hình ảnh biểu tình chống xâm lăng của Trung Cộng & sự hèn nhát “Bán Nước Hại Dân của “Tà Quyền” CSVN tại Berlin 01.10.2011

Posted on October 1, 2011 by danlamthan

Hơn 200 đồng hương Việt Nam từ mọi miền nước Đức đã tập họp về Berlin, thể hiện lòng nước của mình trước âm mưu bành trướng của nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng như lên án việc bán dất nhượng biển của tà quyền Cộng Sản Việt Nam “Hèn với giặc, Ác với dân”.
Bài tường thuật và Video chúng tôi sẽ gởi đến qúy đọc giả trong ngày tới.



MGP
__________________
"Giữa sỏi đá vút vươn niềm hy vọng
Trong tro tàn dào dạt nhựa hồi sinh
Hận nội thù trên máu ruột Tiên Rồng
Căm giặc cộng BÁN non sông Hồng Lạc"
(YTKCPQ)


"Cộng sản còn thống trị trên quê hương - Ta còn phải đấu tranh"
Blog_vdn
- MGP - VNCH - Viet.no
Google traduction

Quốc hội: Thà đừng sinh ra

Posted on

Nguyễn Bá Chổi (danlambao) Người Á Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng không ít kẻ vẫn còn nặng lòng với những “giáo điều” của ông cụ Khổng Khưu bên Tàu cách đây hơn 2500 năm. Một trong những giáo điều ấy là “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”, nôm na ra tiếng nước ta là, “con trai mới là (con), con gái đồ bỏ”.

Vì cái giáo điều “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” cổ lỗ hủ xì đó mà bao thiếu nữ mới ngày nào phơi phới xuân sắc, dạt dào tình nồng hạnh phúc hôn nhân nay “bổng dưng muốn khóc” vì bị chồng hất hủi sau khi loay hoay cặm cụi mãi với đủ thứ“bài bản” cùng chồng “viết” mãi không ra nổi một thằng cu “hữu”. Đến đây Chổi lại liên tưởng đến cặp vợ chồng hàng xóm đang mất dần hạnh phúc gia đình chỉ vì lý do độc nhất là càng “viết” càng “vô”. Chổi không dám nghĩ đến những cặp hôn nhân không giữ được thủy chung với nhau như họ đã thề hứa thuở ban đầu chỉ vì... sinh ra toàn con gái. 

Sinh toàn con gái”, nghe qua mà buồn thương tội nghiệp làm sao ấy. Buồn thương cho những bậc cha mẹ, và tội nghiệp những cháu gái ra đời không trong sự đợi mong. Tất cả đều là nạn nhân của quan niệm trọng nam khinh nữ lạc hậu, trái với đạo Trời, ngược với tinh thần văn minh “mọi người sinh ra bình đẳng”. 

Nhưng nỗi buồn những gia đình “không may” trên không là gì cả khi đem so sánh với nỗi đau đớn tủi nhục của những thiếu nữ phải làm mẹ do bị hải tặc hãm hiếp giữa Biển Đông. “Đứa con của hải tặc”, một sự hiện hữu hoàn toàn ngoài ý muốn và là sự đeo đẳng không nguôi của thảm kịch năm xưa. Không ít những người mẹ bất đắc dĩ này đã cam đành chấp nhận đứa bé vì nghĩ rằng dẫu sao đi nữa cũng là một phần máu thịt mình ...

Nhớ lại ngày 22 tháng 5, 2011, khi trên 60 triệu cử tri cả nước bị đánh thức từ sáng sớm bằng tiếng loa phóng thanh, bằng tiếng đập cửa công an để đi bầu 500 đại biểu Quốc Hội cho nhiệm kỳ 2011-2016. Người dân đã biết rõ những người gọi là “đại biểu quốc hội” dưới chế độ hiện tại chẳng những không đại diện gì cho tiếng nói, nguyện vọng của mình, nhưng là đại diện cho đảng CS đương quyền; ngươi dân biết đi bầu là hành động “nối dáo cho giặc” nhưng không đi không được với đảng cầm quyền. Đi bầu như thế thành ra là bị bầu, có khác chi bị hãm hiếp để đẻ ra 500 đứa con còn tệ hơn “con của hải tặc”. 

Mẹ Việt Nam đang bị 3 triệu đảng viên CS “bề hội đồng" để nhét vào bụng bà đứa con chẳng dính dáng chút nào máu mũ: Quốc Hội của nước CHXHCNVN. 

Quốc Hội CHXHCNVN là một đứa con chẳng giống ai, nỏ ra răng cả, và nếu diễn tả theo đạo đức chú Dũng “ghét nhất là sự gỉa dối”, đó là một con vật quái thai. Bởi vì: 

Hai chữ CỘNG HÒA sắp hàng đầu của cái tên nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không phải bị bắt đứng đó cho vui, nhưng để khẳng định trước thế giới văn minh, rằng nhà nước này cũng đang áp dụng thể chế chính trị trong đó quyền hành của một nhà nước được phân ra làm 3 nhánh độc lập với nhau; đó là Lập Pháp (tức Quốc Hội), Tư Pháp (tức Toà Án), và Hành Pháp (tức Chính Phủ.). 

Ấy vậy mà bộ mặt “Cộng Hoà” đang bị chính đảng CS là kẻ dựng lên trét cho lem luốc nhọ nồi: Quốc Hội đảng cử dân bầu.Ta hãy nghe ông cựu Đại tá Quân Đội Nhân Dân Bùi Tín lên tiếng về cuộc bầu cử QH nước CHXHCNVN, khóa XIII: 

"Không những tất cả Bộ Chính Trị đều trong Đại biểu Quốc Hội mà có tới 26 Bộ trưởng, rồi Thủ tướng và Phó Thủ tướng đều trong Quốc Hội cả. Trong khi ở các nước, họ đều tách lập pháp riêng, tư pháp riêng và hành pháp riêng, Quốc hội riêng,Chính phủ riêng. Do đó Quốc Hội mới kiểm soát được chính phủ. Đàng này vừa đá bóng vừa thổi còi, tức là vừa là Quốc Hội, vừa là Chính phủ, vừa là Đảng luôn. Do đó đây là chế độ độc quyền, không có gì gọi là dân chủ." 

"... Mà trong Quốc Hội đó, số đảng viên hơn 90% trong khi tổng số đảng viên chỉ có 3 triệu trên 87 triệu dân, tức chiếm chưa tới 3 % dân số VN..."

"... 500 Đại biểu Quốc Hội sắp sửa bầu ở trong nước không phải do nhân dân chọn ra, mà do Bộ Chính trị chọn ra rồi ép ủy ban của Mặt trận Tổ quốc các địa phương đồng ý để ép cho nhân dân bầu. Mà trong Quốc Hội đó, số đảng viên hơn 90%." 

Đã bị hãm hiếp mang bầu, lại đẻ ra một con quái vật như thế, lại không dính dáng gì đến máu mủ của Mẹ Việt Nam. Con quái vật mang tên Quốc Hội nước CHXHCNVN. Thà đừng sinh ra thì hơn. 
 
 

Đảng CS hãy trả lại Hiến pháp 1946 cho Dân Tộc Việt Nam !

Posted on

Luật sư Lê Quốc Quân - Sau khi Đại Hội Đảng XI kết thúc, Quốc Hội đã phê duyệt xong các vị trí chủ chốt, bây giờ là lúc những người Cộng sản bàn việc đến việc sửa Hiến Pháp để củng cố quyền lực và kéo dài sự trị vì của mình trên dân tộc Việt Nam.

 Một Ủy ban sửa đổi Hiến Pháp đã được thành lập ngày 6/8 với 30 thành viên, Trưởng ban là chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Uỷ ban này dự kiến sẽ cho ra lò một Hiến Pháp mới vào cuối năm 2013. Dù biết rằng Việt Nam là một cơ thể đang lớn từng ngày và quần áo pháp lý chật chội đang bị bung cúc lung tung nhưng Hiến Pháp không phải là một cái váy, thích thay khi nào thì thay.

Nhìn lịch sử thế giới, có thể thấy rằng những nước văn minh thì hiến pháp ngắn gọn mà đầy đủ, thậm chí bất thành văn (như ở Vương Quốc Anh). Ngược lại, ở những quốc gia kém phát triển thì nhiều hiến pháp, hầu hết dài dòng, giáo điều thậm chí giả tạo. Hiến Pháp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ được viết ra cách đây 224 năm chỉ ngắn gọn 7 điều mà đến nay vẫn nguyên giá trị. Hiến Pháp Cộng Hòa Liên Bang Đức 1949, với tầm nhìn chiến lược dự báo và định hướng tương lai, vẫn nguyên hiệu lực cho một Nước Đức thống nhất sau 40 năm.

Trong khi đó kể từ năm 1945 đến nay, Việt Nam đã có tới 4 Hiến Pháp (1946, 1959,1980 và 1992) với nhiều lần sửa đổi. Quốc gia “vừa bành vừa trướng” ngay sát vách chúng ta cũng không kém cạnh với 4 bản Hiến Pháp (1954, 1975, 1978 và 1982) và nhiều lần sửa đổi.


Bản Hiến Pháp bị đánh cắp !


Hiến pháp là đạo luật gốc, là một khế ước xã hội được ký kết giữa Nhân dân và Nhà cầm quyền. Hiến Pháp quy định nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thể chế, cơ cấu và tổ chức quyền lực của Nhà nước. Thông thường Hiến pháp cổ súy Nhân dân với tư cách là người chủ sở hữu “lật đổ chế độ” và ký lại khế ước với các đại diện cầm quyền khác nếu như Nhân dân bị người thay mặt cầm quyền “bội ước”.

Cũng như nhiều quốc gia sau Thế chiến thứ II, Việt Nam có một Hiến Pháp tương đối hoàn chỉnh gồm 7 Chương, 70 Điều được Quốc Hội đa đảng đầu tiên của Việt Nam độc lập thông qua ngày 9/11/1946. Dù chưa được công khai hóa và áp dụng trên thực tế nhưng quyền cơ bản của công dân và tinh thần tự do dân chủ của nó vẫn giữ nguyên giá trị. Đặc biệt, trong xã hội dân sự ngày nay các quyền công dân cơ bản ấy rất cần được tôn trọng và phổ cập trong đời sống xã hội như một nguồn sống tinh thần không thể thiếu được.


Trong Hiến Pháp 1946, Điều 16 ghi nhận với tinh thần bao dung và thái hòa :
“Những người ngoại quốc tranh đấu cho dân chủ và tự do mà phải trốn tránh thì được trú ngụ trên đất Việt Nam”. Những người soạn thảo Hiến Pháp thời đó, gồm các nhân sĩ tinh hoa của Đất Nước trong đó có cả cụ Cù Huy Cận, thân phụ của Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ, với niềm tin rằng , Việt Nam sẽ là mảnh đất dung thân cho những người có tư tưởng tự do trên thế giới. Họ đâu biết rằng giờ đây hàng ngàn người Việt đấu tranh cho dân chủ và tự do tôn giáo đang phải băng rừng trốn sang Thái Lan hoặc chạy ra nước ngoài để tìm cơ hội tị nạn chính trị.

Trong Hiến Pháp “gọn và đẹp” đó còn có một thứ rất quan trọng nằm ở điều cuối cùng (Điều 70) là “Sửa đổi hiến pháp”. Theo đó, khi có 2/3 tổng số Nghị viên yêu cầu thì sẽ bầu ra một Ban dự thảo để bàn bạc những điều cần thay đổi. Sau khi Nghị Viện “ưng chuẩn” rồi còn phải
“đưa ra toàn dân phúc quyết”.

Đó là điều mà Đảng cộng sản chưa bao giờ làm.


Khi những người cộng sản lộ diện dần trong Việt Minh và Chủ nghĩa xã hội trồi lên ở nước Việt thì Hiến Pháp 1946 bị “biển thủ”. Tuy nhiên, sự cuồng ngôn, đánh tráo khái niệm theo kiểu “cưỡng từ đoạt lý” được thể hiện trong các bản Hiến Pháp tiếp sau đó không thể làm phai mờ những giá trị hằn sâu trong hiến pháp 1946.


Đánh cắp là việc tày đình, còn mưu toan thủ tiêu nó là trọng tội. Nhưng cuối cùng những âm mưu và thủ đoạn đen tối cũng sẽ thất bại và sự thật sẽ chiến thắng . Hiến Pháp 1946 đang sáng dần lên và đã đến lúc phải được trả lại.


Đi một cung đường vòng


Sự thay đổi hiến pháp liên tục sau này cho chúng ta thấy tính chất lâm thời của chế độ. Nó “lâm thời” từ ý thức đến quyết định, từ hiến pháp đến luật…. Đảng coi Hiến Pháp là một cương lĩnh chính trị của chính mình, là một bài văn mô tả ý định của đảng mà càng đi càng thấy xa dần.

Luật sư Lê Quốc Quân (phải) và Nguyễn Tiến Trung

Sự lâm thời thể hiện rõ trong điều hành quốc gia khi người ta dùng “nghị quyết” chứ không phải Luật. Các Hiến Pháp sau này, như một thầy dạy môn Luật Hiến Pháp tại Trường Đại Học Luật Hà Nội, gắng uống thật say, và sau khi triết lý:“đời là cái đinh, tình là cái que” liền lảo đảo một cách đầy dũng cảm thổ lộ: “tao biết biết rõ thằng nào copy Hiến Pháp 1980 và copy từ nước nào”.

Hiến Pháp được làm ra bằng con đường copy của Liên Xô như vậy thì dĩ nhiên nó bị sửa đổi liên miên. Thay đổi này là do sự câu thúc của thực tế. Thế nhưng khi người ta đã đi lạc hướng thì cách tốt nhất là quay đầu đi lại, chứ không thể cứ sửa dần bằng cách đi uốn cong theo một đường vòng cung.


Như thế, đối với một con người là tổn thất, đối với một đất nước là sự phá sản. Nếu thay đổi dần dần và liên tục, dân chúng sẽ quên rằng, ta đang có một Hiến Pháp, một khế ước cơ bản và thiêng liêng, nghĩa là quên “sự tác thành” của một tự tình dân tộc.


Đỉnh hay đáy kim tự tháp


Hiến Pháp là linh hồn, là hơi thở trong cơ thể quốc gia, nó ghi nhận được những điều gì mà người dân mong ước nhất, là đạo luật tối cao bao trùm xuống toàn bộ quá trình làm luật và thực thi. Nó như đỉnh chiếc kim tự tháp tỏa ánh sáng xuống soi rọi các đạo luật và văn bản khác nằm trong lòng và bên dưới nó.


Thế nhưng Hiến Pháp hiện hành như một chiếc Kim tự tháp lộn ngược. Hiệu lực của Hiến Pháp teo tóp nằm trên cùng, không có ánh sáng soi rọi, phía dưới cứ phình ra nào là Luật, Pháp Lệnh, các văn bản hướng dẫn, cứ xuống mỗi cấp lại nở to ra và hiệu lực trùm lên cả Hiến Pháp.

Hãy trả lại viên ngọc trai bị đánh cắp

Có người cho rằng nên sửa Hiến Pháp 1992 theo hướng Đảng lựa chọn ra ứng cử viên và giới thiệu cho nhân dân lựa chọn thông qua trưng cầu dân ý. Điều đó khác chi “đảng cử-dân bầu” vì những kẻ độc tài đã “thành thần” trong tổ chức “trưng cầu dân ý theo ý của Đảng”.

Lại nữa, Tiến sĩ Trần Ngọc Đường làm ở Viện nghiên cứu Lập Pháp, cho rằng cần thể chế hóa thành một điều luật trong Hiến pháp về vị trí, vai trò và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. Thực tế Đảng CS là một tổ chức chính trị - xã hội, cho nên có quyền và nghĩa vụ như bất cứ các tổ chức nào khác và hoạt động theo quy định pháp luật không cần phải có luật riêng, nếu có thì phải nằm chung trong Luật về Hội hoặc “Luật về các Đảng phái chính trị”

Tinh thần cơ bản của Hiến Pháp đa nguyên đầu tiên (1946) phải được tôn trọng và giữ nguyên. Đảng Cộng sản đã bắt cóc và cầm tù Hiến Pháp đó, nay nó phải được tự do và trở về với dân tộc.Hiến Pháp 1946 ngắn gọn và thiêng liêng, chắt lọc được cốt cách và tinh hoa Việt Nam, vượt qua thời gian khắc nghiệt, như hòn ngọc trai kết tinh theo dòng lịch sử đầy đau thương và trắc ẩn. Cho đến ngày nay những tinh hoa ấy vẫn giữ nguyên giá trị và được nhân dân tôn trọng, tuân thủ và mong muốn được bảo tồn. Có như vậy thì pháp lý, công lý và chân lý mới hy vọng đạt được.

Luật sư. Lê Quốc Quân 
 

Trục Ngoại Giao Quỷ Ám - Đinh Tấn Lực

Posted on

Đinh Tấn Lực - Cảm động biết mấy: “Năm đó nhân dân Trung Quốc trong điều kiện bản thân cực kỳ khó khăn đã giúp đỡ Việt Nam, nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ trong lòng…”. Tướng Việt Ngô Xuân Lịch, Chủ nhiệm TCCT/QĐNDVN, vừa mới nói với tướng Tàu đồng nhiệm Lý Kế Nãi như thế.

Cảm động gấp đôi, khi nghe Bộ trưởng KH-CN Nguyễn Quân tấu trình sớm sủa lên Đại sứ TQ Khổng Huyễn Hựu ngay tại Hà Nội một lời chúc thiếu chủ từ như sau: “Thay mặt Đảng, Chính phủ và nhân dân VN, gửi tới Đảng, Chính phủ và nhân dân TQ lời chúc mừng nhiệt liệt nhất nhân ngày lễ trọng đạicủa nhân dân TQ”. (quốc khánh 01 tháng 10)

Những rung động đến mờ lệ đó đã đánh nhòe khung cảnh thời sự “tàu chiến nước lạ” xả súng và bắn chất cháy vào hai tàu cá QNg-95337-TS và QNg-95850-TS trên đường tìm chỗ trú bão số 4 tại đảo Trụ Cấu của Việt Nam, vào lúc 13 giờ ngày 24-9-2011. Quy trình tấn công và rượt đuổi đó kéo dài non hai ngày liền. Tin tức về vụ này được ém kín, trang nào đã đăng đều được lệnh gỡ xuống.

Cũng ngay trong ngày 24-9-2011 đó, tại cuộc họp ở trụ sở Liên Hiệp Quốc, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (BNG) VN Phạm Bình Minh đã lễ phép đáp lời đồng nhiệm Dương Khiết Trì của TQ rằng: “VN sẵn sàng làm việc với TQ để tăng cường sự tin tưởng lẫn nhau và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước…”.

Có phải Đời Đời Nhớ ƠnSẵn Sàng Làm Việc là hai công thức ngoại giao của ta?

Xem ra đó chỉ là nguyên nhân và hệ quả tất yếu, nếu xét trên chiều dài những tuyên bố ngoại giao của ta từ thời sơ khai của người phát ngôn (NPN) Hồ Thể Lan, xuyên suốt các “thế hệ” Phan Thúy Thanh, Lê Dũng, Nguyễn Phương Nga, cho tới thời đương nhiệm Lương Thanh Nghị.

Còn công thức ngoại giao quỷ ám của ta thì có nhiều. Hãy thử điểm qua một vài ví dụ tiêu biểu:

“Có Lợi Cho Chúng Tôi”


Bộ Ngoại giao đã trước sau chứng tỏ một lòng một dạ, không chỉ với quan thầy hay đàn anh vĩ đại, mà còn với cả chủ nghĩa cộng sản, hay nỗ lực thờ phụng chủ nghĩa chư hầu của dàn ủy viên Bộ chính trị xứ ta.

Điển hình của công thức này là khi nghe tin về cuộc đảo chính lật đổ Gorbatchev ngày 19-8-1991 ở Liên Xô (ngay ngày kỷ niệm cách mạng tháng 8 ở Hà Nội), NPN Hồ Thể Lan đã tuyên bố: “Cuộc đảo chính là một mối quan tâm lớn, một sự kiện rất có lợi cho chúng tôi và hy vọng quan hệ Việt-Xô sẽ lại tốt đẹp như trước kia”. Chưa đầy 3 ngày sau đó, các “đồng chí trung kiên” lãnh đạo cuộc đảo chính đều bị bắt và bị truy tố về tội phản loạn, bắt mồi cho tiến trình chuyển hóa một Liên Bang Xô Viết từng đứng đầu Quốc Tế III bỗng chốc trở thành …Liên Xô Cũ.

Hệt vậy, khi nhà báo Kim Hạnh công du Bắc Triều Tiên và gửi về những bài tường thuật trung thực, thì NPN Hồ Thể Lan, cho dù là bạn thân với người viết, cũng đã “bác bỏ” nội dung những phóng sự đó, theo đúng tinh thần tả khuynh tuyệt đối.

Tháng 9-2002, để phản đối chiến dịch của Mỹ nhằm chống Iraq sau vụ khủng bố tòa tháp đôi ở New York, ngoài những lần nhà nước tổ chức biểu tình rầm rộ tại Hà Nội, NPN Phan Thúy Thanh, trong một buổi họp báo quốc tế, đã cực lực lên án: “Việc can thiệp từ bên bên ngoài nhằm thay đổi thể chế chính trị của một nước có chủ quyền là vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế, Hiến chương LHQ, và là điều không thể chấp nhận được… VN phản đối bất kỳ hành động quân sự nào chống Iraq nhằm lật đổ TT Saddam Hussein”.

Tháng 4-2003, ngay sau khi lực lượng Đồng Minh khai mở chiến dịch Red Dawn vào lãnh thổ Iraq, NPN Phan Thúy Thanh nhấn mạnh: “VN sẽ xem xét việc trợ giúp cho nhân dân Iraq trong khuôn khổ của LHQ và phù hợp khả năng của mình”… Có tin đồn đoán rằng sự trợ giúp đầu tiên là dàn chuyên gia phòng không bằng AK của VN thời đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Chỉ mấy tháng sau đó, nhân dân Iraq reo hò vang trời khi nhìn thấy trên truyền hình trực tiếp cảnh Saddam Hussein bị lôi ra khỏi hang ẩn núp ngày 13-12-2003.

Tháng 2-2011, về tình hình mùa Xuân Ai Cập, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “Việt Nam quan tâm theo dõi những diễn biến gần đây tại Ai Cập và mong muốn tình hình Ai Cập sớm đi vào ổn định”. Chỉ vài tuần sau, Ai Cập hoàn toàn ổn định, theo nghĩa khác, một khi kẻ độc tài Hosni Mubarak không còn cơ hội cầm quyền nữa.

Tháng 3-2011, về sự kiện chuyển hóa ở Libya, NPN Nguyễn Phương Nga đã mạnh dạn lên tiếng giáo dục cả thế giới: “Việt Nam lo ngại sâu sắc trước sự gia tăng căng thẳng và những hành động quân sự mới đây tại Libya với nhiều hệ lụy đối với đời sống của người dân Libya và hòa bình, ổn định ở khu vực. Việt Nam kêu gọi các bên kiềm chế, sớm chấm dứt các hoạt động quân sự, tích cực thúc đẩy đối thoại, tìm kiếm giải pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia”.

Tháng 9-2011, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “Nhờ sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các bạn bè ở Libya, nên Đại sứ và toàn bộ cán bộ, nhân viên của Đại sứ quán Việt Nam tại Tripoli đã tạm thời rời khỏi Libya”.

Có lần, khi đã phục viên, cựu phát ngôn viên Hồ Thể Lan du lịch Thái Lan cùng chồng là cựu Phó thủ tướng Vũ Khoan, tình cờ gặp lại một phóng viên người Nhật. Ông ta hỏi lại một câu hỏi từ nhiều năm trước, mong là có câu trả lời ít khuôn sáo và thật lòng hơn của một NPN đã về hưu, thì nhận được câu trả lời với sự hãnh tiến cực choáng: “Tôi vẫn khẳng định như vậy!”. Mới hiểu hết câu nói dân dã rằng xăng có thể cạn, lốp có thể mòn…

NPN Phan Thúy Thanh còn cho biết thêm, ngoài “sai lầm” về sự cố 1997, thì “trong quảng đời làm phát ngôn viên, chưa một lần nào bị cấp trên ‘nhắc nhở’…”. Hẳn là nhờ giữ đúng cái tinh thần thờ phụng một đồng một cốt nói trên.

Không như NPN Lê Dũng, cứ bị ám ảnh suốt: “Người ta sễnh nhà ra thất nghiệp, chứ mình thì sễnh miệng là thất nghiệp ngay”.

“Hoan Nghênh”

Đây là loại công thức trẻ con vỗ tay khi được bánh hoặc chờ được bánh.

Tháng 12-2006, NPN Lê Dũng nhiệt liệt “Hoan nghênh việc Quốc hội Hoa Kỳ thông qua dự luật PNTR về quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn đối với VN”.

Tháng 3-2008, nhân sự kiện Fidel Castro truyền ngôi cho em, NPN Lê Dũng tức khắc hoan nghênh quyết định sáng suốt đó và không quên đánh giá cao “Chủ tịch Fidel Castro mãi mãi là người bạn lớn của nhân dân VN”!

Tháng 12-2008, NPN Lê Dũng “Hoan nghênh quyết định của chính phủ Cộng hòa Séc nối lại việc cấp thị thực nhập cảnh dài hạn cho công dân VN sang Cộng hòa Séc từ tháng 1-2009”.
Tháng 2-2009, NPN LêDũng nhiệt liệt “Hoan nghênh Ngoại trưởng Nhật Bản Hi-rô-phư-ni Na-ca-xô-nê đã tuyên bố chính phủ Nhật quyết định nối lại viện trợ phát triển chính thức ODA cho VN”.

Tháng 8-2009, NPN Nguyễn Phương Nga phát biểu: “Chúng tôi xin chúc mừng thắng lợi của Đảng Dân chủ Nhật Bản trong cuộc bầu cử vừa qua và hy vọng dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhật Bản, chính phủ và nhân dân Nhật Bản sẽ thành công trong cải cách và phát triển đất nước..”.

Tháng 10-2009, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “Với việc Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Barack Obama được Ủy ban Giải Nobel Na Uy quyết định trao Giải Nobel Hòa bình năm 2009, chúng tôi hy vọng Tổng thống Obama sẽ đóng góp tích cực vào việc bảo vệ hòa bình – mục tiêu của giải thưởng này”.

Tháng 9-2010, NPN Nguyễn Phương Nga “Hoan nghênh việc Thái Lan không cho phép sử dụng lãnh thổ Thái Lan vào các hoạt động (tổ chức hội nghị nhân quyền) với mục đích chống phá VN.

Tháng 9-2011, NPN Lương Thanh Nghị cho biết: “Việt Nam ủng hộ mọi nỗ lực thành lập nhà nước Palestine độc lập, có chủ quyền, tồn tại hòa bình bên cạnh Israel với đường biên giới từ trước tháng 6/1967… Việt Nam ủng hộ các nỗ lực của Palestine sớm trở thành thành viên của Liên hợp quốc”.

“Hoàn Toàn Bịa Đặt”

Kỹ thuật thường dùng của bộ Ngoại giao xứ ta khi cần né tránh câu hỏi thì bảo là “chưa được thông tin”, hay “chưa sẵn sàng để trả lời”. Còn muốn chối bỏ sự thật thì tuyên bố ngay rằng đó là điều bịa đặt.

Tháng 9-2000, khi Phật Giáo Hòa Hảo thông báo tín đồ Nguyễn Châu Giang bị bóp cổ đến không ăn uống được trong tù, và tín đồ Nguyễn Duy Tâm bị kết án quản chế tại gia về tội thu âm bản tin tiếng Việt từ đài nước ngoài, NPN Phan Thúy Thanh gọi bản thông báo đó là một điều “hoàn toàn bịa đặt”.

Tháng 12-2001, về nguồn tin của RFI cho biết số người Thượng ở Tây Nguyên chạy sang tỵ nạn bên Kampuchia đã gia tăng gấp đôi trong vòng 4 tháng. NPN Phan Thúy Thanh bình luận rằng đó là những thông tin “sai sự thật”.

Tháng 1-2002, Khi tổ chức Quan Trắc Nhân Quyền (HRW) nhận định VN đã có những thụt lùi về mặt nhân quyền, đặc biệt trong lãnh vực tự do tôn giáo, NPN Phan Thúy Thanh tuyên bố rằng điều đó “không đúng sự thật”. Rồi lên án HRW đã “thường xuyên phụ họa với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo VN của các tổ chức phản động chống đối VN ở nước ngoài. Với việc làm này, họ (HRW) đã tự bôi xấu mình”.

Tháng 12-2002, về vụ kiện cá ba sa vi phạm hiệp định thương mại Mỹ-Việt, NPN Phan Thúy Thanh tuyên bố: “các quyết định của phía Hoa Kỳ liên quan đến vụ kiện này là thiếu khách quan, không công bằng”.

Tháng 5-2003, về dự luật HR1019 của Hạ Viện Mỹ đòi hỏi tự do thông tin tại VN, đặc biệt là về lời phát biểu của Dân biểu Ed Royce cho rằng VN thách đố các tiêu chuẩn hoàn vũ bằng cách ngăn chận tự do thông tin, NPN Phan Thúy Thanh đã cực lực lên án: “Những nhận xét này được xây dựng dựa trên những thông tin hoàn toàn sai sự thật”. Lại cẩn thận dẫn thêm 3 bằng chứng hùng hồn: Một: “Tất cả quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin ở VN đều được ghi trên hiến pháp”. Hai: “VN có 486 cơ quan báo chí với 600 ấn phẩm, xuất bản hàng năm 550 triệu bản báo”. Ba: “Hiện có trên 80% số hộ nghe được đài TNVN và 70% số hộ xem được chương trình của đài THVN”.

Tháng 5-2008, NPN Lê Dũng khẳng định “Báo cáo nhân quyền 2007 của BNG Hoa Kỳ vẫn đưa ra những nhận xét thiếu khách quan, dựa trên những thông tin định kiến, sai sự thật với tình hình thực tế ở VN”.

Tháng 10-2008, về Nghị Quyết mới của Nghị viện Châu Âu liên quan đến tình hình/điều kiện quan hệ giữa Liên Âu với VN, NPN Lê Dũng khẳng định : “Nghị quyết này không phản ảnh đúng tình hình VN”.

Tháng 11-2008, về thông tin (có hình) nhà nước huy động nhiều lực lượng tới đập phá khu vực giáo xứ Thái Hà, NPN Lê Dũng tuyên bố: “Tin giáo xứ Thái Hà bị đập phá là bịa đặt”.

Tháng 3-2009, NPN Lê Dũng khẳng định “Báo cáo nhân quyền của Mỹ về VN là dựa vào các thông tin sai trái”.

Tháng 4-2009, về sự kiện gáo xứ Thái Hà tụ tập cầu nguyện cho tiến trình đòi đất, NPN Lê Dũng tuyên bố: “Thông cáo của ‘Giáo xứ Thái Hà’ (trong nháy) có nội dung sai trái, xuyên tạc sự thật, vu cáo chế độ”.

Tháng 5-2009, NPN Lê Dũng tuyên bố: “HRW thường xuyên đưa ra những thông tin sai lệch về VN. Báo cáo ngày 4-5-2009 của tổ chức này là thiếu khách quan và không phản ảnh đúng tình hình thực tế của VN”.

Tháng 10-2009, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định: “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế 2009 của Bộ Ngoại giao Mỹ (công bố  ngày 26-10) vẫn còn có những đánh giá không khách quan dựa trên những thông tin sai lệch về tình hình VN”.

Tháng 11-2009, Quốc hội châu Âu lại thông qua một nghị quyết về Việt Nam, đề cập đến tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam với hàng trăm người bị giam chỉ vì niềm tin tôn giáo hoặc vì quan điểm chính trị của họ, NPN Nguyễn Phương Nga nhận định rằng nghị quyết này: “Hoàn toàn sai trái, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình thực tế ở Việt Nam”.

Tháng 3-2020, phê bình bản báo cáo nhân quyền năm 2009 được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 11-3, NPN Nguyễn Phương Nga nêu rõ: “Một lần nữa báo cáo nhân quyền năm 2009 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại đưa ra những nhận xét không khách quan dựa trên những thông tin sai sự thật về tình hình thực tế ở VN”.

Tháng 5-2010, liên quan đến các nguồn tin (có ảnh) về vụ công an đàn áp một đám tang của giáo dân Cồn Dầu, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định: “Những thông tin trên là bịa đặt với dụng ý xấu nhằm bôi nhọ Việt Nam. Sự thật là sự việc này hoàn toàn không có liên quan gì đến tôn giáo”.

Tháng 6-2010, NPN Nguyễn Phương Nga phân tích: “Báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ năm 2010 về nạn buôn bán người trên thế giới phần về Việt Nam mang tính chính trị và có những nhận xét không khách quan, không phản ánh đúng tình hình thực tế của Việt Nam”.

Tháng 11-2010, NPN Nguyễn Phương Nga lại phê bình: “Báo cáo Tự do Tôn giáo quốc tế 2010 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đưa ra những đánh giá không khách quan, dựa trên những thông tin sai lệch về Việt Nam”.

Tháng 12-2010, lý do VN không cử người đại diện tham dự buổi lễ trao giải Nobel Hòa bình cho ông Lưu Hiểu Ba – một nhà hoạt động đối lập của TQ hiện đang bị áp án 10 năm tù giam, được NPN Nguyễn Phương Nga giải thích như sau: “Mục đích của giải Nobel Hòa bình là thúc đẩy hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Do đó, chúng tôi mong rằng giải Nobel Hòa bình được trao cho những tổ chức và cá nhân xứng đáng, không bị sử dụng vào các mục đích chính trị”.

Tháng 12-2010, về việc Hạ viện Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết H.Res.20 kêu gọi đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước đặc biệt quan tâm” (CPC), NPN Nguyễn Phương Nga bình luận: “‘Nghị quyết H.Res.20 của Hạ viện Hoa Kỳ thông qua ngày 17-12-2010 là không khách quan, không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Việt Nam hiện nay”.

“Không Hề Có”

Ở VN, “Không Có Gì…” là một thương hiệu đã được cầu chứng:

Tháng 3-2002, NPN Phan Thúy Thanh khẳng định “không hề có nitrofuran trong tôm xuất khẩu từ VN”.

Tháng 12-2005, liên quan đến thông báo của HRW về trường hợp ông Hoàng Minh Chính bị tấn công khi trở về VN từ chuyến qua Mỹ chữa bệnh, NPN Lê Dũng nhấn mạnh: “Hoàn toàn không có cái gọi là ‘các cuộc tấn công’ nhằm vào ông Hoàng Minh Chính. Ông Hoàng Minh Chính cũng không hề gặp nguy hiểm”.

Tháng 7-2008, nhân sự kiện Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất không được tham dự lễ tang Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, NPN Lê Dũng khẳng định với phóng viên quốc tế rằng “Ở VN không có tổ chức nào mang tên Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất”.

Tháng 9-2011, để trả lời câu hỏi của phóng viên nước ngoài về vụ đàn áp bằng vũ lực ở Cồn Dầu, Bộ trưởng Ngoại giao VN Phạm Bình Minh tuyên bố “Đó là một cuộc tranh chấp đất đai”, và khẳng định tiếp: “Không có kỳ thị tôn giáo ở VN”.

Tháng 1-2009, NPN Lê Dũng đã tuyên bố: “Không có việc đàn áp người dân tộc Khơ-me ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long”.

Tháng 4-2009, NPN Lê Dũng họp báo cho biết: “Không nhận được đơn khiếu nại nào của giáo dân giáo xứ Thái Hà”.

Tháng 5-2009, về quyết định thông qua dự luật bổ sung của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ nhằm đưa CSVN vô lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo (CPC), NPN Lê Dũng cho rằng: “Quyết định này đi ngược với tình hình thực tế VN… Không có ai bị bắt, bị giam hay quản chế vì lý do tôn giáo”.

Tháng 10-2009, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định: “Hoàn toàn không có cái gọi là Việt Nam ép 400 người đi tu theo pháp môn Làng Mai phải rời khỏi Tu viện Bát Nhã. Còn những thông tin nói rằng đã xảy ra “đụng độ” giữa các sư thầy, sư cô tại Tu viện Bát Nhã với chính quyền địa phương làm cho một số người bị thương và nhiều người bị bắt là hoàn toàn sai sự thật”.

Tháng 10-2009, nhân sự kiện Hạ Viện Mỹ thông qua Nghị quyết H.Res.672 đòi nhà nước VN trả tự do cho các bloggers bị bắt và đòi tự do internet ở VN, NPN Nguyễn Phương Nga tuyên bố: “Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, trong đó có quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Tại Việt Nam không có ai bị bắt, giam giữ và xét xử vì bày tỏ chính kiến”.

Tháng 12-2009, NPN Nguyễn Phương Nga tuyên bố về kết quả cuộc họp các Đại sứ Liên minh Châu Âu về thuế chống bán phá giá giầy mũ da Việt Nam ngày 17/12/2009: “Các doanh nghiệp giầy da Việt Nam không bán phá giá, không có ý định và cũng không đủ khả năng theo đuổi chính sách này”.

Tháng 4-2011, về tuyên bố của Quyền Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liên quan đến phiên tòa xét xử TS Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định: “Không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam”.

Tháng 7-2011, về việc nhà nước bắt giam lại Linh mục Nguyễn Văn Lý, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định lần nữa với thế giới: “Ở Việt Nam không có ai bị giam giữ vì lý do bày tỏ chính kiến”.

Tháng 7-2011, NPN Nguyễn Phương Nga xác quyết: “Không có việc quân đội Việt Nam tham gia buôn lậu gỗ từ Lào”.

Tháng 8-2011, về vụ xử phúc thẩm TS Cù Huy Hà Vũ, NPN Nguyễn Pgương Nga lặp lại: “Không có cái gọi là ‘tù nhân lương tâm’ ở Việt Nam”.

Điều duy nhất có, và được NPN Nguyễn Phương Nga (của BNG thuộc Chính phủ) long trọng trình làng: “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng sẽ diễn ra vào nửa đầu tháng 1 năm 2011”!!!

“Hành Động Khiêu Khích”

Hãy khoan nói tới các loại hành động khiêu khích trên Biển Đông.

Tháng 2-2001, về sự kiện quân đội huy động cả trực thăng đàn áp hàng chục ngàn tín hữu Tin Lành và người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, NPN Phan Thúy Thanh tuyên bố: “Họ đã có những hành động khiêu khích”… Rồi giải thích rõ thêm: “Chúng là những kẻ gây bất ổn xã hội, hủy hoại trường học và kháng cự nhà nước”.

Tháng 9-2008, về việc phóng viên AP Ben Stocking bị đánh, bị cướp máy và bị tạm giam khi lấy tin ở Thái Hà, NPN Lê Dũng đã trả lời họp báo rằng: “Ben đã vi phạm pháp luật VN”.

Tháng 7-2009, nhân sự kiện thư ngỏ của nhiều Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ kêu gọi Chủ tịch nước VN trả tự do cho Linh mục Nguyễn Văn Lý, NPN Lê Dũng khẳng định: “Nguyễn Văn Lý (không ghi chức danh trước tính danh) bị bắt, xét xử và kết án tù vì vi phạm luật pháp VN, hoàn toàn không phải vì lý do tôn giáo hay chính kiến”.

Tháng 8-2009, NPN Nguyễn Phương Nga thông báo: “Cơ quan an ninh đã tạm giữ một số blogger và phóng viên là Bùi Thanh Hiếu, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh để điều tra vì có những dấu hiệu xâm hại an ninh quốc gia. Hiện Hiếu, Trang đã được thả, Quỳnh đang bị tạm giữ để tiếp tục điều tra… Cơ quan an ninh đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Việt Nam khi tạm giữ những người này. Đáng tiếc một số tổ chức và cá nhân đã cố ý thổi phồng sự việc này để xuyên tạc với dụng ý xấu”.

Tháng 5-2011, về sự kiện đàn áp nhân dân Mường Nhé, Điện Biên, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “đã có một số thông tin thổi phồng, không đúng sự thật về sự việc ở Mường Nhé với dụng ý xấu là xuyên tạc chính sách của nhà nước Việt Nam, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam”.

Tháng 8-2011, NPN Nguyễn Phương Nga phê bình: “Sứ quán Mỹ đã ‘sai trái’ và ‘không phù hợp’ khi họ bày tỏ lo ngại về việc một số người được cho là ‘có hành vi tụ tập trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng’ bị tạm giữ hôm chủ nhật 21/8/2011 tại Hà Nội”.

“Nhúng Mũi Vào VN”

Bất cứ cái gì liên hệ tới tình hình tồi tệ của VN đều trở thành loại ứng xử thô bạo:

Tháng 10-2000, trước khi TT Mỹ Bill Clinton vào giữa tháng 11, các Thượng nghị sĩ lưỡng đảng của Hoa Kỳ (John McCain/Charles Robb/Barbara Boxer/Diane Feinstein/Daniel Akaka) đã ký chung một thư yêu cầu TT Clinton nỗ lực đạt kỳ được những tiến bộ cụ thể/hiện thực của nhà nước VN về việc phóng thích các tù nhân chính trị và chấm dứt nhũng nhiễu các nhân vật đấu tranh cho dân chủ/nhân quyền tại VN. NPN Phan Thúy Thanh đã lên án bức thư đó là “can thiệp thô bạo vào nội bộ VN”.

Tháng 4-2001, khi Hoa Kỳ đồng ý nhận 24 người Thượng bị giam ở Kampuchia và xin tỵ nạn chinh trị, NPN Phan Thúy Thanh đã lên án Mỹ có âm mưu gây bất ổn khu vực: “Ý đồ của Mỹ là lợi dụng tình thế này đã thấy rất rõ. Chúng tôi một lần nữa yêu cầu Mỹ hãy ngừng lại”.

Tháng 4-2003, về bản Báo cáo Nhân Quyền 2002 của Mỹ, NPN Phan Thúy Thanh tuyên bố: “Chúng tôi coi đây là sự vi phạm thô bạo công việc nội bộ của VN”.

Tháng 9-2007, NPN Lê Dũng tuyên bố “phản đối mạnh mẽ Dự luật Nhân quyền VN năm 2007 của Quốc Hội Mỹ”.

Tháng 10-2009, NPN Nguyễn Phương Nga khẳng định “Mặc dù đã được cung cấp và tạo điều kiện để có thông tin khách quan về tình hình Việt Nam, thông cáo (14-10 của Sứ quán Mỹ tại VN) vẫn thiếu khách quan, không phản ánh đúng thực tế. Những đòi hỏi nêu trong thông cáo báo chí của ĐSQ Mỹ là can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Tháng 1-2010, phản ứng trước những phát biểu của phía Anh, Mỹ và Liên minh châu Âu liên quan đến các phiên tòa áp án các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long, NPN Nguyễn Phương Nga phê bình rằng đó là việc làm “thiếu thiện chí, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

Tháng 4-2011, đối với những nhận xét về Việt Nam nêu trong các báo cáo nhân quyền năm 2010 của Bộ Ngoại giao Anh, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và tuyên bố của Trưởng phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam liên quan đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam, NPN Nguyễn Phương Nga nhận định: “Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Anh, phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam và một vài tổ chức đã có những nhận xét thiếu khách quan, dựa trên những thông tin sai lệch, không phản ánh chính xác tình hình và có những ý kiến can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam”.

“Cực Lực Lên Án”

Rõ ràng ngư dân VN bị bắn chết hay bị đâm chìm tàu trên Biển Đông chẳng là cái đinh gì trên bình diện ngoại giao xứ ta:

Tháng 7-2008, NPN Lê Dũng “Cực lực lên án vụ đánh bom Đại sứ quán Ấn Độ ở Afganistan làm nhiều người thiệt mạng”.

Tháng 9-2008, báo QĐND đăng tin họp báo của BNG: “Ngày 22-9, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam về vụ đánh bom khủng bố khách sạn Marriott tại thủ đô I-xla-ma-bát của Pa-ki-xtan ngày 20-9-2008, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói VN cực lực lên án vụ đánh bom gây nhiều thiệt mạng này”.

Tháng 11-2008, NPN Lê Dũng “Cực lực lên án vụ khủng bố ngày 26-11-2008 tại Mumbai, Ấn Độ làm nhiều người chết và bị thương”.

Tháng 1-2009, nhân sự kiện Israel tiến công vào dải Gaza, NPN Lê Dũng đã (đứt ruột mà quên phứt trận Mậu Thân để) “Cực lực lên án mọi hành động tiến công quân sự gây thiệt hại cho thường dân vô tội”.

Tháng 7-2009, NPN Lê Dũng (lại đứt thêm ruột) “Cực lực lên án các vụ đánh bom dã man ngày 17-7-2009 tại thủ đô Gia-các-ta, In-đô-nê-xi-a làm nhiều người chết và bị thương. Chúng tôi cho rằng thủ phạm của các vụ đánh bom trên phải bị trừng trị nghiêm khắc”.

Tháng 10-2009, NPN Nguyễn Phương Nga đã “Cực lực lên án các vụ khủng bố tại Pakistan và tin rằng thủ phạm sẽ bị nghiêm trị”.

Tháng 3-2010, NPN Nguyễn Phương Nga lại “Cực lực lên án hai vụ đánh bom tại ga điện ngầm Lubyanka và Công viên Văn hóa ở thủ đô Mátxcơva và tin rằng thủ phạm gây ra các vụ khủng bố sẽ sớm bị nghiêm trị”.

Tháng 5-2010, NPN Nguyễn Phương Nga tuyên bố: “Việt Nam lên án mạnh mẽ việc quân đội I-xra-en tấn công đoàn tàu chở hàng cứu trợ tới dải Ga-da làm nhiều người thiệt mạng và bị thương”.

Tháng 7-2010, NPN Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh: “Chúng tôi vô cùng phẫn nộ được tin về hai vụ đánh bom hôm 11/7 tại Thủ đô Kampala, Uganda làm nhiều dân thường bị chết và bị thương”.

Tháng 7-2010, NPN Nguyễn Phương Nga tiếp tục: “Cực lực lên án vụ tấn công khủng bố ngày 15/7/2010 tại Iran làm nhiều người bị thiệt mạng và bị thương”.

“Hết Sức Quan Tâm”

Ngôn ngữ ngoại giao là mềm mỏng. Ở ta, nó chỉ mềm mỏng đối với các đối tượng cần phải nhất trí mềm nhũn:

Tháng 5-2001, TQ ra lệnh cấm biển để thao diễn quân sự và bắn đạn thật trong khu vực Hoàng Sa & Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh hải của VN, NPN Phan Thúy Thanh đã tuyên bố “Chúng tôi hết sức quan tâm và lo ngại về tin trên”.

Tháng 6-2001, tờ Washington Times đi tin về việc giới chức tình báo Mỹ cho biết TQ điều động hàng chục chiến hạm, kể cả khu trục hạm, bao quanh khu vực Trường Sa từ hồi giữa tháng 6, NPN Phan Thúy Thanh tuyên bố: “Chúng tôi rất chú ý đến tin hải quân TQ tăng cường hoạt động ở Trường Sa và sẽ kiểm điểm lại những tin này”.

Tháng 12-2007, về quyết định của TQ thành lập huyện hành chánh Tam Sa, bao gồm cả Hoàng Sa & Trường Sa của VN, nhà nước VN đã long trọng khẳng định “tăng cường nhịp độ đàm phán, phối hợp giải quyết thỏa đáng các vấn đề nảy sinh trên tinh thần láng giềng hữu nghị, đồng chí anh em…”. Còn về các cuộc tuần hành trước cổng sứ quán và tổng lãnh sự quán TQ ở VN, NPN Lê Dũng đã đề đạt lời thanh minh chân thành và cực kỳ thống thiết: “Đây là việc làm tự phát, chưa được phép của các cơ quan chức năng VN. Khi các vụ việc xảy ra, các lực lượng bảo vệ (sứ quán & lãnh sự quán) đã kịp thời có mặt, giải thích và yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này”.

Tháng 2-2008, ngược lại trường hợp Palestine, ngay khi nghe tin Đài Loan tổ chức trưng cầu dân ý về việc gia nhập LHQ dưới danh xưng Đài Loan, NPN Lê Dũng lập tức tuyên bố: “VN kiên trì thực hiện chính sách Một Nước TQ… Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của TQ… Chính phủ Trung Hoa là duy nhất đại diện cho toàn TQ”. Rồi giải thích rõ thêm: “VN ủng hộ sự nghiệp thống nhất TQ, phản đối hành động ‘Đài Loan độc lập’ dưới mọi hình thức”.

Tháng 4-2008, về sự kiện TQ huy động quân đội đàn áp nhân dân Tây Tạng tại thủ phủ La-sa, NPN Lê Dũng khẳng định: “Mọi vấn đề liên quan đến Tây Tạng là việc nội bộ của TQ”.

Tháng 5-2008, NPN Lê Dũng “Chia sẻ với những mất mát mà nhân dân TQ gánh chịu trong trận động đất ở Tứ Xuyên, và bày tỏ niềm tin tưởng TQ sẽ nhanh chóng vượt qua thảm họa này”.

Tháng 10-2008, nhân vụ án 2 ký giả Nguyễn Việt Chiến & Nguyễn Văn Hải, NPN Lê Dũng đã khẳng định: “Chính phủ VN luôn khuyến khích báo chí tham gia vào cuộc chiến chống tham nhũng một cách toàn diện, triệt để và theo đúng luật định”.

Tháng 1-2009, nhân vụ việc Cục hải dương TQ khuyến khích các đơn vị, cá nhân khai thác, sử dụng các đảo thuộc khu vực Hoàng Sa & Trường Sa, NPN Lê Dũng đã phản ứng ngay: “Chúng tôi hết sức quan tâm đến thông tin này…”.

Tháng 3-2009, về việc Cty TNHH Châu Giang mở tuyến du lịch ra đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, NPN Lê Dũng đã tái khẳng định: “Lập trường của VN về vấn đề 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rõ ràng”.

Tháng 3-2009, khi TQ đưa tàu Ngư Chính 311 ra hoạt động tại Biển Đông, NPN Lê Dũng đã tái khẳng định lần nữa: “Lập trường của VN đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là rất rõ ràng”.

Tháng 3-2009, về sự kiện Cty dầu khí BP rút khỏi 2 lô thăm dò dầu khí ở Biển Đông, NPN Lê Dũng cực lực giải trình rằng “Quyết định này xuất phát từ các yếu tố thuần túy thương mại và kỹ thuật”.

Tháng 5-2009, trước lệnh cấm đánh bắt cá của TQ trên Biển Đông từ ngày 16-5 đến 1-8, NPN Lê Dũng long trọng tuyên bố: “VN khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

Tháng 6-2009, NPN Lê Dũng cho biết: “Ngày 4-6 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã giao thiệp với đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, lưu ý việc phía Trung Quốc gần đây thực hiện lệnh cấm đánh cá tại một số vùng biển, trong đó có những khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông và tăng cường tàu tuần tra, bắt, phạt tàu cá tại những vùng biển này”. Còn người đọc tin thì cần lưu ý sự công nhận của BNG-VN về quyền tuần tra/bắt/phạt của TQ trên vùng biển của ta, tức là mặc nhiên công nhận sự vi phạm của ngư dân VN ngay trên ngư trường của VN.

Tháng 6-2009, NPN Lê Dũng khẳng đinh “Lực lượng tuần tra TQ bắt 3 tàu cá cùng 37 ngư dân VN khi họ đang đanh bắt trong vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN”. Cần lưu ý sự công nhận của BNG-VN lần nữa về quyền tuần tra của TQ trên vùng biển của ta.

Tháng 7-2009, nhân sự kiện đàn áp nhân dân khu tự trị Tân Cương, NPN Lê Dũng lập tức tuyên bố: “VN quan tâm theo dõi tình hình xảy ra gần đây ở Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương và tin rằng, Chính phủ TQ đã và đang có những biện pháp phù hợp nhằm sớm khôi phục tình hình, duy trì trật tự, ổn định xã hội ở khu vực này”.

Tháng 7-2009, về sự kiện “tàu lạ” đâm chìm tàu cá QNg-2203 ngay trên ngư trường VN, làm 9 ngư dân bị thương vào ngày 16-7-2009, NPN Lê Dũng đã “Đề nghị TQ phối hợp điều tra làm rõ”. Hôm sau, Cục khai thác nguồn lợi thủy sản VN cũng gửi thư đến đồng nhiệm phía TQ, “Đề nghị TQ trao trả tàu và ngư dân VN đang bị giam giữ”. Ở đây, ngôn ngữ ngoại giao không thể nào nhũn hơn được nữa.

Tháng 8-2009, NPN Lê Dũng khẳng định rằng: “Việc bắt giam và xét xử bà Aung San Suu Kyi là việc nội bộ của Myanma”.

Tháng 8-2009, báo QĐND long trọng đi 1 bản tin ngoại giao thậm thượt gồm đúng 2 câu, như sau: “Ông Lê Dũng, nguyên Vụ trưởng Vụ Thông tin Báo chí kiêm người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, vừa được Chính phủ bổ nhiệm làm Người đứng đầu cơ quan Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Hau-xtơn bang Tếch-dớt Mỹ, đã tới thành phố này cùng với một nhóm công tác để chuẩn bị các thủ tục, điều kiện cần thiết tiến tới mở Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Hau-xtơn. Ngay sau khi tới Hau-xtơn, ông Lê Dũng đã có cuộc tiếp xúc đầu tiên với bà Bét-ti Mắc Cắt-chan, Đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ tại Hau-xtơn”. Còn báo Hà Nội Mới thì giật tít: “Việt Nam sẽ mở Tổng lãnh sự quán tại Hốt-xtơn (Mỹ)”.

Tháng 1-2010, NPN Nguyễn Phương Nga tuyên bố: “Lãnh đạo cấp cao hai nước đã quyết định lấy năm 2010 là Năm Hữu nghị Việt-Trung. Hai nước đã thỏa thuận trong năm 2010 sẽ tổ chức nhiều hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, giao lưu hữu nghị… ở cấp trung ương và địa phương. Việt Nam tin tưởng rằng, trên cơ sở những thành tựu to lớn trong quan hệ hữu nghị và hợp tác trong những năm qua, với nỗ lực chung của cả hai bên, Năm Hữu nghị Việt-Trung 2010 sẽ thành công tốt đẹp”.

Tháng 3-2010, liên quan việc 12 ngư dân Việt Nam bị bắt giữ cùng tàu đánh cá QNg-0326, NPN Nguyễn Phương Nga họp báo cho biết: “Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp phía Trung Quốc khẳng định rõ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Tháng 5-2010, phản ứng trước việc Trung Quốc chính thức khai thông mạng di động ở Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa, NPN Nguyễn Phương Nga đã  “Khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa”.

Tháng 6-2010, về việc Ủy ban Cải cách và Phát triển Nhà nước TQ thông qua cương yếu xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam năm 2010-2020, bao gồm các hoạt động du lịch tới đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ VN, NPN Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động này”.

Tháng 9-2010, về việc tàu cá QNg-66478-TS cùng 9 ngư dân VN bị phía TQ bắt giữ ngày 11/9/2010 tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “BNG-VN đã nhiều lần giao thiệp với phía Trung Quốc về vấn đề này ở nhiều cấp khác nhau tại Hà Nội và Bắc Kinh”.

Tháng 4-2011, về việc TQ quyết định tu bổ Đảo Cây (TQ gọi là Triệu Thuật) trong quần đảo Hoàng Sa, NPN Nguyễn Phương Nga tuyên bố: “Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Tháng 6-2011, về việc tàu Hải giám TQ cắt cáp của tàu thăm dò Viking2, sau khi đã cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh trước đó 2 tuần, Nguyễn Phương Nga tỏ ra cực mềm: “Việt Nam mong rằng phía Trung Quốc, xuất phát từ tầm cao chiến lược của quan hệ Việt-Trung chấm dứt ngay và không để tái diễn các hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trong thềm lục địa và và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.Việt Nam mong Trung Quốc thực hiện các cam kết mà Trung Quốc đã tuyên bố trên các diễn đàn quốc tế là duy trì hòa bình và ổn định ở biển Đông”.

Tháng 7-2011, về việc tàu hải giám TQ định cắt cáp tàu thăm dò của VN lần thứ ba, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “Bộ Ngoại giao Việt Nam không có thông tin về việc bạn hỏi”.

Tháng 7-2011, về lời tuyên bố tại Bắc Kinh của Thứ trưởng BNG Hồ Xuân Sơn rằng hai bên khẳng định tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, NPN Nguyễn Phương Nga giải thích thêm, nhận thức chung đó là: “hai bên khẳng định quyết tâm gìn giữ hòa bình, ổn định ở biển Đông”.

Tháng 8-2011, về việc tàu cá Quảng Bình QB1825-TS cùng 5 ngư dân đã bị TQ bắt giữ, NPN Nguyễn Phương Nga cho biết: “Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao đã liên hệ với Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, đề nghị các cơ quan chức năng của Trung Quốc sớm trả tự do cho ngư dân và tàu cá Việt Nam”. Hẳn TQ phải lưu ý/hài lòng về 2 cụm từ “đề nghị” và “cơ quan chức năng của TQ”.

Tháng 9-2011, về việc TQ phản đối Ấn Độ hợp tác với Việt Nam thăm dò dầu khí tại Lô 127, Lô 128 thuộc Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, NPN Lương Thanh Nghị nêu rõ: “VN khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

“Đầy Đủ Bằng Chứng”

Thử Google cụm từ cắt ngắn “Hoàng Sa, Trường Sa là rõ ràng”, người ta có ngay 26.000 kết quả lời khẳng định khuôn mẫu về tuyên bố chủ quyền của VN.

Và đây là lời tuyên bố đạt kỷ lục về số lượt phát thanh, qua nhiều thế hệ NPN ở xứ ta:

VN có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể phủ nhận của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Chỉ cần nhớ lại câu này là mọi người có thể tạm quên thèm món Bún Suông?

Chính những phát ngôn cực nhũn, thiếu hành động cụ thể và lại dư nỗ lực trù dập các cuộc biểu tình của người VN tuần hành chống TQ gây hấn… đã nảy sinh một số tuyên bố trịch thượng/cha chú của Bắc Kinh:

Khi VN bổ nhiệm ông Đặng Công Ngữ làm Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa, NPN Khương Du của TQ đã tức khắc lớn tiếng: “Bất hợp pháp!”.

Về vụ cắt cáp 2 tàu thăm dò của VN trong lãnh hải VN, vẫn Khương Du tuyên bố: “Tàu Hải giám của TQ chỉ làm việc thực thi pháp luật trước sự hoạt động bất hợp pháp của tàu VN”.

Tháng 5-2011, Khương Du lại bảo: “Chúng tôi thúc giục Việt Nam dừng ngay các hoạt động xâm phạm chủ quyền và kiềm chế tạo nên các rắc rối mới”.

Tháng 9-2011, NPN Hồng Lỗi của TQ đã cao giọng: “Bất cứ nước nào thăm dò dầu ở vùng này không có phép của Trung Quốc là vi phạm chủ quyền và lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là bất hợp pháp”.

***

Lời Nhắn Gửi BNG-VN

Chắc chắn BNG-VN lưu trữ đầy đủ dữ liệu của bộ. Trên đây chỉ là một số ví dụ lược kê vài loại công thức phát ngôn ngoại giao, qua đó, rõ ràng chính sách đối ngoại của VN mang tính cứng rắn một phía và nhũn nhặn phía còn lại (theo cảm tính/ơn nghĩa/quên sử), để thấy ra dằng dặc hệ quả của sự lựa chọn một trục ngoại giao tả khuynh hoàn toàn bất lợi cho VN.

Không ai đặt hy vọng vào NPN mới Lương Thanh Nghị, bởi bài bản/giáo án/khuôn đúc đã có sẵn, và ngay trong những phát ngôn đầu tiên, Lương Thanh Nghị đã tỏ rõ cung cách máy móc lặp lại, như chức năng Replay của Youtube. Người ta chỉ cần Lương Thanh Nghị đừng quên những lần bị kiều bào VN ở Nhật phản ứng trực tiếp khi Phó TLS ở Osaka Lương Thanh Nghị nói sai sự thật.

Ngược lại, chẳng phải vô cớ mà có nhiều người kỳ vọng vào Ngoại trưởng Phạm Bình Minh. Không chỉ vì nhân thân (và có thể cả ý chí) liên hệ đến vị tiền nhiệm Nguyễn Cơ Thạch vang danh nhiều đời trước. Đó còn vì một tinh thần đối ngoại quân bình/khôn ngoan/trẻ trung/sáng tạo… để bảo vệ chủ quyền quốc gia, không chỉ trên mặt lãnh thổ/lãnh hải, mà ngay trên danh dự/thể diện của dân tộc, của đất nước.

Đặc biệt nên tránh hẳn loại lập luận theo kiểu “ai cũng tham thì việc ăn cắp ở đây chỉ là chuyện vặt” để biện cãi rằng “mọi chính phủ đều dữ dằn như nhau, thì sá gì chuyện đàn áp ở VN”. Điều đó không khỏi làm ố danh thân phụ.

Hãy giúp cho thế gới thấy rõ chí bất khuất và tính bình đẳng của dân tộc Việt trên bình diện ngoại giao.

Đừng để ngày 1-10 này trở thành ngày quốc khánh tương lai của Khu Tự Trị Quang-Nam.

1-10-2011.

Blogger Đinh Tấn Lực