Sóng thần đã tấn công Nhật Bản vào 3 tuần trước đây và đã gây ra cái chết cùng sự tàn phá đáng thương tâm, nhưng đau thương như nó có, chỉ là một phần nhỏ trong số do cơn sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, đã quét gọn và nhấn chìm dưới dòng nước làm cho 250.000 người phải chết.
Lần này, sở dĩ sóng thần Nhật Bản đã có một tác động tâm lý lớn, làm kinh hoàng cho hơn tỷ người trên toàn thế giới bởi vì nó diễn ra trực tiếp trên truyền hình. Ngày nay, sóng thần không còn là một loại cổ tích đẹp trong truyện bà kể cho con trẻ nghe ở nhiều quốc gia nữa. Thay vào đó, truyền hình đã đem nỗi ám ảnh cảnh quay của khối lượng nước khổng lồ màu đen sâu rộng đang dọn hàng loạt xe hơi, nhà ở, và thị xã trên bờ biển phía đông của Nhật Bản trôi đi như các món đồ chơi nhỏ bằng nhựa.
Hình ảnh này sẽ ấn tượng vào bộ nhớ của một thế hệ hôm nay, những người mà có lẽ không hoàn toàn hiểu được quy mô kinh hoàng của thiên tai năm 2004, bởi không được truyền hình ghi nhận, dù cơn sóng thần 2004 với độ người chết gấp 10 lần số tử vong ở Nhật trong 3 tuần qua.
Với sự kiện khủng khiếp được ghi nhận từ truyền hình, sóng thần đã trở nên ăn sâu trong suy nghĩ phổ biến, và được cho là bản chất thảm họa đáng sợ nhất có thể xẩy ra trong thời này
Từ đó, người ta cũng nhận thấy, phải chăng chuyện sóng thần bây giờ dường như đang trở nên thường xuyên hơn và khủng khiếp hơn?
Mặc dù sóng thần đã xảy ra kể từ khi mới khai thiên lập địa, hay chính xác hơn là từ con người biết ghi lại sử sách, nhưng có vài điểm khá khác thường trong hai lần gây chết người hàng loạt mà người ta ghi nhận là - thảm nạn sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 và Nhật Bản vừa qua - quá gần nhau. Thêm vào đó là các trận động đất 2009 gần Samoa cũng tung ra một cơn sóng thần ở Samoa, American Samoa và Tonga, làm chết hơn 189 người.
Trước sự kiện này, một số chuyên gia về sóng thần đã trấn an rằng dù hai cơn sóng dữ của 2004 và Nhật Bản khá gần nhau chỉ chưa đầy 10 năm, nhưng điều này vẫn không có bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho tuyên bố rằng thảm nạn sóng thần đang trở nên thường xuyên hơn. Sự kiện sóng thần trước đây đã được ghi nhận, và biết đến trong suốt bề dài lịch sử, nhưng nó đã không thu hút sự chú ý của nhiều người ở cùng một cách giống nhau
Lần này, cơn sóng thần của Nhật Bản đã có một tác động lớn đến tâm lý con người bởi vì, Nhật là một trong những nước có chuẩn bị phòng chống lẫn đương đầu với thiên tai vào loại tốt nhất thế giới. Dù vậy trong thiên tai nó hoàn toàn không đương đầu được gì, toàn thị trấn chỉ còn lại một đống khổng lồ của vỡ vụng đổ nát. Chính điều này đã là một tác động sâu sắc tâm lý cho con người.
Như chúng ta biết, lý do xuất hiện sóng thần, dĩ nhiên do những trực tiếp liên quan đến sự kiện này, đó là do các cơn địa chấn của việc động đất ở dưới mặt biển. Các trận sóng thần có thể hình thành khi đáy biển đột ngột bị biến dạng theo chiều dọc, chiếm chỗ của lượng nước nằm trên nó. Những sự di chuyển lớn theo chiều dọc như vậy của vỏ trái đất có thể xảy ra tại các rìa mảng lục địa. Những trận động đất do nguyên nhân va chạm mảng đặc biệt hay tạo ra các cơn sóng thần.
Khi một mảng đại dương va chạm với một mảng lục địa, đôi khi nó làm rìa mảng lục địa chuyển động xuống dưới. Cuối cùng, áp suất quá lớn tác dụng lên rìa mảng, khiến nó nhẩy giật lùi lại (snaps back) tạo ra các đợt sóng chấn động vào vỏ trái đất, sự kiện này đã khiến xảy ra cơn địa chấn dưới lòng biển, được gọi là động đất tại đáy biển. Những vụ lở đất dưới đáy biển (thỉnh thoảng xảy ra vì nguyên nhân động đất) cũng như những vụ sụp đổ của núi lửa cũng có thể làm chấn động cột nước khiến trầm tích và đá trượt xuống theo sườn núi rơi xuống đáy biển.
Tương tự như vậy, một vụ phun trào núi lửa mạnh dưới biển cũng có thể tung lên một cột nước để hình thành sóng thần. Các con sóng được hình thành khi khối lượng nước bị dịch chuyển vị trí chuyển động dưới ảnh hưởng của trọng lực để lấy lại thăng bằng và tỏa ra trên khắp đại dương như các gợn sóng trên mặt ao.
Trong thập niên 1950 người ta đã khám phá ra rằng những cơn sóng thần lớn có thể xuất hiện từ các vụ lở đất, hoạt động phun trào núi lửa và các vụ va chạm thiên thạch. Những hiện tượng đó khiến một lượng nước lớn nhanh chóng bị chuyển chỗ, khi năng lượng từ một thiên thạch hay một vụ nổ chuyển vào trong nước nơi xảy ra va chạm. Các cơn sóng thần với xuất hiện từ những nguyên nhân đó, khác với những trận sóng thần do động đất gây ra, thường nhanh chóng tan rã và hiếm khi lan tới những bờ biển quá xa vì diện tích xảy ra sự kiện nhỏ.
Các hiện tượng đó có thể gây ra các cơn sóng địa chấn lớn chỉ trong một khu vực, như vụ lở đất ở Vịnh Lituya tạo ra một sóng nước ước tính tới 50-150 m và tràn tới độ cao 524 m trên các ngọn núi ở trong vùng. Tuy nhiên, một vụ lở đất cực lớn có thể gây ra một trận sóng thần với độ lớn tương thích, tạo ảnh hưởng trên toàn bộ đại dương.
Và cũng theo ghi nhận thì số lượng các trận động đất lớn cũng dường như đã được gia tăng trong những năm gần đây. Hãy suy nghĩ và nhớ lại xem. Từ Nhật Bản vừa qua, Christchurch, Haiti và tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc.
Không có trận động đất nào có cường độ cao hơn 8,5 trên thang Richter trong những năm 1970, 80 hoặc 90, nhưng đã có sáu trận cao hơn 8,5 trong 11 năm đầu thế của kỷ này.
Điều này cũng bị các nhà khoa học phản biện. Họ cho rằng việc ghi nhận nhiều trận động đất với độ Richter cao hơn chỉ đơn giản bởi vì ngày nay con người có nhiều trạm giám sát hơn có khả năng nhận ra các trận động đất nhỏ đã đi qua, mà trước đây không có phương tiện để phát hiện.
Các nhà khoa học mô tả một nhóm các trận động đất lớn như một hiện tượng ngẫu nhiên. Tỷ như người ta vứt hột xí ngầu ra bát, đôi khi nó sẽ đi một loạt mấy lần liên tiếp chỉ toàn mặt 6 nút. Đây chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên nhưng gây được sự chú ý vì mọi chỉ chú ý đến các cụm, họ không nhận thấy những khoảng trống ở giữa.
Câu chuyện sóng thần cũng vậy. Rất ít người, trừ các nhà khoa học có thể dự đoán và thông báo trước được cơn sóng thần nào đó sẽ rửa sạch toàn bột một thành phố hay làng mạc bên bờ biển. Chỉ là vì con người không thể quan sát hết mọi ngõ ngách trên toàn bề mặt của trái đất, cho nên đã có những thảm nạn thiên tai, dù có khả năng biết trước được nhưng vẫn bị thiếu sót.
Ngay cả khi thảm nạn chết người xẩy ra và thiên tai gây ra trên quy mô lớn, người ta cũng chỉ biết đến theo cách nhìn từ xa, và bị giới hạn rất nhiều cho các phương tiện truyền thông có thể bao phủ trong phạm vi sự kiện.
Có bao nhiêu người ngày nay còn nhớ những cơn sóng thần trước cửa nhà nước Úc của mình tại Papua New Guinea vào năm 1998, khiến hơn 2.200 người chết?
Khoa học đã được xem là tương đối chậm để tập trung vào tính chất, và mối đe dọa của sóng thần, mặc dù những hiện tượng đã đến được với chúng ta qua các thời đại. Đa phần, người ta dành khoa học cho các việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên khác như động đất, cháy rừng và lũ lụt.
Không chỉ là quy mô của sóng thần Ấn Độ Dương 2004, mà còn nhiều cơn sóng tương tự đã xảy ra trong phạm vi rộng lớn của khu vực Đông Nam Á và Nam Á, điều này đã là một nhắc nhở chung cho Australia và các nước khác phải tích cực hơn trong việc nghiên cứu để đẩy mạnh sự khám phá và phòng chống cho hiện tượng này.
Và đây cũng là lần đầu tiên nhiều người Úc bị gặp phải “hạn” sóng thần trên hải cảng của Nhật.
Trung tâm liên kết báo động sóng thần (The Joint Australian Tsunami Warning Centre), đã được hình thành vào năm 2005 thời chính phủ Howard cũng vừa mới hoạt động trong năm 2009.
Đã có vài cảnh báo cho sóng thần Ấn Độ Dương và giảm nhẹ đến hệ thống trực tuyến trong năm 2006. Và hệ thống cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương ở Hawaii cũng đã được ghi nhận từ 40 năm trước, nhất là phản ảnh tần số của trận động đất trong địa chất không ổn định cắt ngang bề mặt của “vòng tròn lửa” (Ring of Fire) lớn nhất thế giới nằm trên đại dương, được coi là nguyên do, và là kẻ chịu trách nhiệm về thảm họa Nhật Bản vừa qua.
Nhưng ngay cả với những nghiên cứu tốt nhất của khoa học ngày nay, vẫn còn những thiếu sót nghiêm trọng trong khả năng của các nhà khoa học, để dự đoán và theo dõi sóng thần, và sau đó cảnh báo người dân về thảm họa này đang sắp xảy ra.
Mặc dù khoa học có thể phát hiện động đất, thậm chí còn rất nhỏ trên đáy biển, nhưng người ta vẫn không có cách nào, ngay lập tức, để biết xem liệu động trận đất này sẽ dẫn đến sóng thần hay không.
Như đã dẫn, để tạo ra một cơn sóng thần, sự kiện động đất phải làm thay đổi dòng nước, thông qua sự chuyển động thẳng đứng của đáy biển, hoặc sạt lở một bên nào đó. Vì vậy có một số trận động đất rung chuyển đáy biển nhưng nó lại không vỡ, và dó đó nó sẽ không gây ra một cơn sóng thần nào, và điều này cho đến nay người ta chưa có cách nào biết được ngay lập tức trong dự báo là trận động đất sắp xẩy ra dưới biển có làm vỡ mặt đáy biển hay không.
Kết quả là, thế giới đã có nhiều cảnh báo sóng thần không có thiệt được rải rác tung ra, đôi khi làm mất niềm tin về khoa học cho người nghe những cảnh báo này. Dù vậy, các cơ quan không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ra cảnh báo như vậy, trong trường hợp thấy cần cảnh báo. Người ta ước tính rằng chỉ có tỷ lệ 20% hay khoảng chừng, một cảnh báo, trong nhiều cảnh báo hàng năm, được coi là gần chính xác.
Vấn đề là nếu có quá nhiều cảnh báo hàng năm, rồi sau đó sự việc không xảy ra như cảnh báo, sẽ làm người ta không chú ý và dễ bỏ qua các lời báo nguy chết người.
Theo trung tâm cảnh báo sóng thần của Úc, thì trung tâm này phát hiện sóng thần gần như mỗi tuần, nhưng phần lớn là những cơn sóng quá nhỏ để đe dọa đến cuộc sống con người.
Trong một nỗ lực để tránh ra quá nhiều cảnh báo, trung tâm cấp quy mô của các mối đe dọa từ con số không, đến một cảnh báo hàng hải, có nghĩa là chỉ ghi nhận những cơn sóng có thể ảnh hưởng đến các tàu trên biển, hơn là với các mối đe dọa tràn vô đất liền.
Kể từ năm 2009, Trung tâm đã báo hiệu cảnh báo 4 lần cho hàng hải, nhưng chưa có mối đe dọa nào liên quan đến đất bờ, Và viễn ảnh của việc này sẽ như là kết quả của trận sóng thần Nhật Bản vừa qua có thể lập lại tại Úc trong tương lai.
Khi sóng thần đã được phát hiện, các nhà khoa học có thể theo dõi tiến trình của nó một cách chính xác. Người ta có thể dự đoán khi nào, và nơi nào mà nó sẽ quất vô, nhưng thật khó để dự đoán chiều cao của nó để biết rằng nơi nó ụp vô sẽ bị tàn phá như thế nào, có cần chạy trước khi nó đến hay không.
Nhưng ngay cả những hệ thống cảnh báo tốt nhất, đều chỉ dự phòng được nếu như động đất xảy ra gần bờ biển, như đã xảy ra trong trường hợp của Nhật Bản.
Và như người ta biết, Nhật Bản có hệ thống cảnh báo sóng thần rất cao, nhưng thời gian đưa lời cảnh báo ra công chúng lại rất ngắn, chỉ 10 đến 15 phút trước lúc sóng thần đổ ập vào bờ.
Thời gian này, không đủ để cho người ta làm được chuyện gì ngoài chuyện cầm máy quay phim bay lên cao thu hình cảnh con người đang trả nợ thiên nhiên…
Lần này, sở dĩ sóng thần Nhật Bản đã có một tác động tâm lý lớn, làm kinh hoàng cho hơn tỷ người trên toàn thế giới bởi vì nó diễn ra trực tiếp trên truyền hình. Ngày nay, sóng thần không còn là một loại cổ tích đẹp trong truyện bà kể cho con trẻ nghe ở nhiều quốc gia nữa. Thay vào đó, truyền hình đã đem nỗi ám ảnh cảnh quay của khối lượng nước khổng lồ màu đen sâu rộng đang dọn hàng loạt xe hơi, nhà ở, và thị xã trên bờ biển phía đông của Nhật Bản trôi đi như các món đồ chơi nhỏ bằng nhựa.
Hình ảnh này sẽ ấn tượng vào bộ nhớ của một thế hệ hôm nay, những người mà có lẽ không hoàn toàn hiểu được quy mô kinh hoàng của thiên tai năm 2004, bởi không được truyền hình ghi nhận, dù cơn sóng thần 2004 với độ người chết gấp 10 lần số tử vong ở Nhật trong 3 tuần qua.
Với sự kiện khủng khiếp được ghi nhận từ truyền hình, sóng thần đã trở nên ăn sâu trong suy nghĩ phổ biến, và được cho là bản chất thảm họa đáng sợ nhất có thể xẩy ra trong thời này
Từ đó, người ta cũng nhận thấy, phải chăng chuyện sóng thần bây giờ dường như đang trở nên thường xuyên hơn và khủng khiếp hơn?
Mặc dù sóng thần đã xảy ra kể từ khi mới khai thiên lập địa, hay chính xác hơn là từ con người biết ghi lại sử sách, nhưng có vài điểm khá khác thường trong hai lần gây chết người hàng loạt mà người ta ghi nhận là - thảm nạn sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 và Nhật Bản vừa qua - quá gần nhau. Thêm vào đó là các trận động đất 2009 gần Samoa cũng tung ra một cơn sóng thần ở Samoa, American Samoa và Tonga, làm chết hơn 189 người.
Trước sự kiện này, một số chuyên gia về sóng thần đã trấn an rằng dù hai cơn sóng dữ của 2004 và Nhật Bản khá gần nhau chỉ chưa đầy 10 năm, nhưng điều này vẫn không có bằng chứng khoa học để hỗ trợ cho tuyên bố rằng thảm nạn sóng thần đang trở nên thường xuyên hơn. Sự kiện sóng thần trước đây đã được ghi nhận, và biết đến trong suốt bề dài lịch sử, nhưng nó đã không thu hút sự chú ý của nhiều người ở cùng một cách giống nhau
Lần này, cơn sóng thần của Nhật Bản đã có một tác động lớn đến tâm lý con người bởi vì, Nhật là một trong những nước có chuẩn bị phòng chống lẫn đương đầu với thiên tai vào loại tốt nhất thế giới. Dù vậy trong thiên tai nó hoàn toàn không đương đầu được gì, toàn thị trấn chỉ còn lại một đống khổng lồ của vỡ vụng đổ nát. Chính điều này đã là một tác động sâu sắc tâm lý cho con người.
Như chúng ta biết, lý do xuất hiện sóng thần, dĩ nhiên do những trực tiếp liên quan đến sự kiện này, đó là do các cơn địa chấn của việc động đất ở dưới mặt biển. Các trận sóng thần có thể hình thành khi đáy biển đột ngột bị biến dạng theo chiều dọc, chiếm chỗ của lượng nước nằm trên nó. Những sự di chuyển lớn theo chiều dọc như vậy của vỏ trái đất có thể xảy ra tại các rìa mảng lục địa. Những trận động đất do nguyên nhân va chạm mảng đặc biệt hay tạo ra các cơn sóng thần.
Khi một mảng đại dương va chạm với một mảng lục địa, đôi khi nó làm rìa mảng lục địa chuyển động xuống dưới. Cuối cùng, áp suất quá lớn tác dụng lên rìa mảng, khiến nó nhẩy giật lùi lại (snaps back) tạo ra các đợt sóng chấn động vào vỏ trái đất, sự kiện này đã khiến xảy ra cơn địa chấn dưới lòng biển, được gọi là động đất tại đáy biển. Những vụ lở đất dưới đáy biển (thỉnh thoảng xảy ra vì nguyên nhân động đất) cũng như những vụ sụp đổ của núi lửa cũng có thể làm chấn động cột nước khiến trầm tích và đá trượt xuống theo sườn núi rơi xuống đáy biển.
Tương tự như vậy, một vụ phun trào núi lửa mạnh dưới biển cũng có thể tung lên một cột nước để hình thành sóng thần. Các con sóng được hình thành khi khối lượng nước bị dịch chuyển vị trí chuyển động dưới ảnh hưởng của trọng lực để lấy lại thăng bằng và tỏa ra trên khắp đại dương như các gợn sóng trên mặt ao.
Trong thập niên 1950 người ta đã khám phá ra rằng những cơn sóng thần lớn có thể xuất hiện từ các vụ lở đất, hoạt động phun trào núi lửa và các vụ va chạm thiên thạch. Những hiện tượng đó khiến một lượng nước lớn nhanh chóng bị chuyển chỗ, khi năng lượng từ một thiên thạch hay một vụ nổ chuyển vào trong nước nơi xảy ra va chạm. Các cơn sóng thần với xuất hiện từ những nguyên nhân đó, khác với những trận sóng thần do động đất gây ra, thường nhanh chóng tan rã và hiếm khi lan tới những bờ biển quá xa vì diện tích xảy ra sự kiện nhỏ.
Các hiện tượng đó có thể gây ra các cơn sóng địa chấn lớn chỉ trong một khu vực, như vụ lở đất ở Vịnh Lituya tạo ra một sóng nước ước tính tới 50-150 m và tràn tới độ cao 524 m trên các ngọn núi ở trong vùng. Tuy nhiên, một vụ lở đất cực lớn có thể gây ra một trận sóng thần với độ lớn tương thích, tạo ảnh hưởng trên toàn bộ đại dương.
Và cũng theo ghi nhận thì số lượng các trận động đất lớn cũng dường như đã được gia tăng trong những năm gần đây. Hãy suy nghĩ và nhớ lại xem. Từ Nhật Bản vừa qua, Christchurch, Haiti và tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc.
Không có trận động đất nào có cường độ cao hơn 8,5 trên thang Richter trong những năm 1970, 80 hoặc 90, nhưng đã có sáu trận cao hơn 8,5 trong 11 năm đầu thế của kỷ này.
Điều này cũng bị các nhà khoa học phản biện. Họ cho rằng việc ghi nhận nhiều trận động đất với độ Richter cao hơn chỉ đơn giản bởi vì ngày nay con người có nhiều trạm giám sát hơn có khả năng nhận ra các trận động đất nhỏ đã đi qua, mà trước đây không có phương tiện để phát hiện.
Các nhà khoa học mô tả một nhóm các trận động đất lớn như một hiện tượng ngẫu nhiên. Tỷ như người ta vứt hột xí ngầu ra bát, đôi khi nó sẽ đi một loạt mấy lần liên tiếp chỉ toàn mặt 6 nút. Đây chỉ là hiện tượng ngẫu nhiên nhưng gây được sự chú ý vì mọi chỉ chú ý đến các cụm, họ không nhận thấy những khoảng trống ở giữa.
Câu chuyện sóng thần cũng vậy. Rất ít người, trừ các nhà khoa học có thể dự đoán và thông báo trước được cơn sóng thần nào đó sẽ rửa sạch toàn bột một thành phố hay làng mạc bên bờ biển. Chỉ là vì con người không thể quan sát hết mọi ngõ ngách trên toàn bề mặt của trái đất, cho nên đã có những thảm nạn thiên tai, dù có khả năng biết trước được nhưng vẫn bị thiếu sót.
Ngay cả khi thảm nạn chết người xẩy ra và thiên tai gây ra trên quy mô lớn, người ta cũng chỉ biết đến theo cách nhìn từ xa, và bị giới hạn rất nhiều cho các phương tiện truyền thông có thể bao phủ trong phạm vi sự kiện.
Có bao nhiêu người ngày nay còn nhớ những cơn sóng thần trước cửa nhà nước Úc của mình tại Papua New Guinea vào năm 1998, khiến hơn 2.200 người chết?
Khoa học đã được xem là tương đối chậm để tập trung vào tính chất, và mối đe dọa của sóng thần, mặc dù những hiện tượng đã đến được với chúng ta qua các thời đại. Đa phần, người ta dành khoa học cho các việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên khác như động đất, cháy rừng và lũ lụt.
Không chỉ là quy mô của sóng thần Ấn Độ Dương 2004, mà còn nhiều cơn sóng tương tự đã xảy ra trong phạm vi rộng lớn của khu vực Đông Nam Á và Nam Á, điều này đã là một nhắc nhở chung cho Australia và các nước khác phải tích cực hơn trong việc nghiên cứu để đẩy mạnh sự khám phá và phòng chống cho hiện tượng này.
Và đây cũng là lần đầu tiên nhiều người Úc bị gặp phải “hạn” sóng thần trên hải cảng của Nhật.
Trung tâm liên kết báo động sóng thần (The Joint Australian Tsunami Warning Centre), đã được hình thành vào năm 2005 thời chính phủ Howard cũng vừa mới hoạt động trong năm 2009.
Đã có vài cảnh báo cho sóng thần Ấn Độ Dương và giảm nhẹ đến hệ thống trực tuyến trong năm 2006. Và hệ thống cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương ở Hawaii cũng đã được ghi nhận từ 40 năm trước, nhất là phản ảnh tần số của trận động đất trong địa chất không ổn định cắt ngang bề mặt của “vòng tròn lửa” (Ring of Fire) lớn nhất thế giới nằm trên đại dương, được coi là nguyên do, và là kẻ chịu trách nhiệm về thảm họa Nhật Bản vừa qua.
Nhưng ngay cả với những nghiên cứu tốt nhất của khoa học ngày nay, vẫn còn những thiếu sót nghiêm trọng trong khả năng của các nhà khoa học, để dự đoán và theo dõi sóng thần, và sau đó cảnh báo người dân về thảm họa này đang sắp xảy ra.
Mặc dù khoa học có thể phát hiện động đất, thậm chí còn rất nhỏ trên đáy biển, nhưng người ta vẫn không có cách nào, ngay lập tức, để biết xem liệu động trận đất này sẽ dẫn đến sóng thần hay không.
Như đã dẫn, để tạo ra một cơn sóng thần, sự kiện động đất phải làm thay đổi dòng nước, thông qua sự chuyển động thẳng đứng của đáy biển, hoặc sạt lở một bên nào đó. Vì vậy có một số trận động đất rung chuyển đáy biển nhưng nó lại không vỡ, và dó đó nó sẽ không gây ra một cơn sóng thần nào, và điều này cho đến nay người ta chưa có cách nào biết được ngay lập tức trong dự báo là trận động đất sắp xẩy ra dưới biển có làm vỡ mặt đáy biển hay không.
Kết quả là, thế giới đã có nhiều cảnh báo sóng thần không có thiệt được rải rác tung ra, đôi khi làm mất niềm tin về khoa học cho người nghe những cảnh báo này. Dù vậy, các cơ quan không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ra cảnh báo như vậy, trong trường hợp thấy cần cảnh báo. Người ta ước tính rằng chỉ có tỷ lệ 20% hay khoảng chừng, một cảnh báo, trong nhiều cảnh báo hàng năm, được coi là gần chính xác.
Vấn đề là nếu có quá nhiều cảnh báo hàng năm, rồi sau đó sự việc không xảy ra như cảnh báo, sẽ làm người ta không chú ý và dễ bỏ qua các lời báo nguy chết người.
Theo trung tâm cảnh báo sóng thần của Úc, thì trung tâm này phát hiện sóng thần gần như mỗi tuần, nhưng phần lớn là những cơn sóng quá nhỏ để đe dọa đến cuộc sống con người.
Trong một nỗ lực để tránh ra quá nhiều cảnh báo, trung tâm cấp quy mô của các mối đe dọa từ con số không, đến một cảnh báo hàng hải, có nghĩa là chỉ ghi nhận những cơn sóng có thể ảnh hưởng đến các tàu trên biển, hơn là với các mối đe dọa tràn vô đất liền.
Kể từ năm 2009, Trung tâm đã báo hiệu cảnh báo 4 lần cho hàng hải, nhưng chưa có mối đe dọa nào liên quan đến đất bờ, Và viễn ảnh của việc này sẽ như là kết quả của trận sóng thần Nhật Bản vừa qua có thể lập lại tại Úc trong tương lai.
Khi sóng thần đã được phát hiện, các nhà khoa học có thể theo dõi tiến trình của nó một cách chính xác. Người ta có thể dự đoán khi nào, và nơi nào mà nó sẽ quất vô, nhưng thật khó để dự đoán chiều cao của nó để biết rằng nơi nó ụp vô sẽ bị tàn phá như thế nào, có cần chạy trước khi nó đến hay không.
Nhưng ngay cả những hệ thống cảnh báo tốt nhất, đều chỉ dự phòng được nếu như động đất xảy ra gần bờ biển, như đã xảy ra trong trường hợp của Nhật Bản.
Và như người ta biết, Nhật Bản có hệ thống cảnh báo sóng thần rất cao, nhưng thời gian đưa lời cảnh báo ra công chúng lại rất ngắn, chỉ 10 đến 15 phút trước lúc sóng thần đổ ập vào bờ.
Thời gian này, không đủ để cho người ta làm được chuyện gì ngoài chuyện cầm máy quay phim bay lên cao thu hình cảnh con người đang trả nợ thiên nhiên…
Minh Anh
from : ChinhNghiaViet groups
http://www.thegioinguoiviet.net/showthread.php?t=2685&page=5
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét