Nguyễn Quốc Khải gửi RFA
Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris
1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những
hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới
ngày nay.

Ảnh tư liệu_Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ
không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger,
Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.
Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho
CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau.
Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần
đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.
Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973
Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống
Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng
không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi
Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt
được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ,
Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong
cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc
Kinh. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV
đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi
tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa
đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải
Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền
Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.
Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa
hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào
27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt
Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày,
quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại
những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi
hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách
Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự
do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa
sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.
Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình
Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ.

Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.
Khoảng cách chạy tội
Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán,
nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp
Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt
Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì
như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ
sụp đổ theo.
Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình,
Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào
tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên
với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger
bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.
Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu
tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội.
Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như
sau:
“We need a decent interval. You have our assurance.”
Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại
những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói
rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời
gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu
thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền
Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng
rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can
thiệp.
Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:
“We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals
there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the
agreement breaks down then it is quite possible that the people in
Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as
unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are
withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown
after we withdraw, we will not intervene. We can put on a time limit,
say 18 months or some period [for a cease-fire]. National Security
Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971.
Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng
sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng
thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả. VNCH cần
phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về
cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông
Nixon về vấn đề này:
“The country would care if South Vietnam became Communist in a
matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.”
President Richard M. Nixon, March 17, 1973.
Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt:
“ We’ve got to find some formula that holds the thing together a
year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a
backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no one
will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August
1972.
Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau
cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975,
thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976.
Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng:
“Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự
cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ
cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken
Hughes, June 2010.
Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm
thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và
Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự
bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt
Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval).
Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh
Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng:
1. Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ.
2. Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ
làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng
cách chạy tội).
Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết,
Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh
đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh
sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II. Chính vì vậy mà Ông
Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm.
Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói:
“We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July
to August to September [to] October [to] November to December [to]
January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971.
Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào
năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng
thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972.
Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu:
1. Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công.
2. Giữ lời hứa khi tranh cử.
2. Giữ lời hứa khi tranh cử.
Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình
tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận
với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% – 55 %) và bất
kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không.
Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971:
Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.”
Kissinger: “No Question.”
Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp
hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ
khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công –
khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị.
Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm
Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho
phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài
liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá
Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH
tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính
phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát.
Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:
“In the proposal you have suggested, our Government will continue
to exist. But it is only an agonizing solution, and sooner or later the
Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide
somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October
4, 1972.
Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm
cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ
quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông
Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị
của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe
dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu:
“I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do
any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President
Richard Nixon, January 20, 1973.

Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris.
Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an
toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại
Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy,
khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp
Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến
trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa
xôi hẻo lãnh.Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho
Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa
1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt
Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông
qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện
trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để
trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris.
Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến
đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào
ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975
Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang
nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và
II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975
đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán.
Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc
Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống
Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ
chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham
chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên
bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt.
Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản
nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby,
báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.
Phục hồi Hiệp Định Paris 1973?
Gần đây, có vài nhóm người Việt tại hải ngoại chủ trương vận động
quốc tế để phục hồi lại Hiệp Định Paris 1973, đặc biệt mới đây nhất là
Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH), một hình thức chính phủ lưu
vong nhưng không dùng danh xưng tổng thống hay thủ tướng, của Ông Nguyễn
Ngọc Bích (75 tuổi). Các tổ chức này tin rằng nếu vận động quốc quốc tế
làm sống lại Hiệp Định Paris 1973 (nhưng không nói gì đến Hiệp Định
Geneva 1954 mà chính VNCH đã xé bỏ), Hà Nội sẽ phải trả lại miền Nam
Việt Nam cho VNCH.
Giả sử rằng UBLĐLTVNCH có khả năng làm chuyện này, mặc dù tôi nghĩ là
không có một cơ may nào cả, UBLĐLTVNCH sẽ không thâu tóm toàn bộ phần
đất dưới vĩ tuyến thứ 17 ngay được. Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển
cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ
Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán
vào ngày 25-4-1976) . Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu
người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ 150,000 quân CSBV được Ông
Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay. Tóm
tắt lại để đỡ tốn giấy mực, ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang
tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngay cả nước Mỹ cũng muốn quên
Hiệp Định Paris 1973 đau lòng này do chính họ dựng lên.
Kết luận
Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đông minh của mình là một điều đáng
hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng
may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh
phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry
Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận:
1. Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982).
2. No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).
2. No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).
Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp
đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Ông
Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và
nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn
ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất
nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một
bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang
nào dù là đồng minh.
Tài liệu tham khảo:1. Larry Berman, “No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam,” The Free Press, 2001.
2. Finding Dulcinea, “On this Day: Paris Peace Accords Signed, Ending American Involvement in Vietnam War,” January 27, 2012.
3. Trọng Đạt, “Nixon và Hòa Bình Trong Danh Dự,” 27-01-2012.
4. Kennedy Hickman, “Vietnam War end of conflict, 1973-1975,” Military History.
5. Ken Hughes, “Fatal Politics: Nixon’s Political Timetable For Withdrawing From Vietnam,” Diplomatic History, Vol. 34, No. 3, June 2010.
6. Stanley Karnow, “Vietnam A History,” Penguin Books, 1997.
7. Jeffrey Kimball, “Decent Interval or Not? The Paris Agreement and the End of the Vietnam War,”December 2003.
8. Henry Kissinger, “Years of Renewal,” Simon & Schuster, 1999.
9. Richard Nixon, “No More Vietnam,” Arbor House, New York 1985.
10. Frank Snepp, “Decent Interval,” Random House, 1977.
11. Global Security, “A Decent Interval – Who Lost Vietnam?” May 7, 2011.
12. Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, “Hiệp Định Paris 1973.”
(Visited 153 times, 153 visits today)
This entry was posted in Tài Liệu - Nguồn Gốc and tagged Hiệp Định Paris 1973, Nguyễn Quốc Khải, Sự thật phũ phàng. Bookmark the permalink.
Trở lại cái chết của cố tổng thống Ngô Đình Diệm, hoàn toàn do sách lược của nước Mỹ muốn đưa quân vào VN, Chính là nguyên nhân mở đầu cho sự bại trân của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh tại VN Những chính trị gia của cường quốc này đã biến sinh mạng của những người lính Mỹ, những công dân yêu chuộng tự do, hòa bình và công lý cho cả thế giới, thành món hàng rẻ mạt. Tội ác của những tay chính khách gian thương quân phiệt này do muốn mở rộng chiến tranh đã gây ra cái chết tang thương cho hơn 58 ngàn lính Mỹ sau đó không là tội ác hay sao?
Mất đảo Hoàng Sa, nước VNCH bị hủy diệt, cộng sản tràn ngập Đông Dương, cánh đồng máu tại Kampuchia…là do đâu? Nước Mỹ không có quyền nói vô can và đứng ngoài trong những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của các nước Đông Dương, lãnh hải của VN tại biển Đông… vì những tội ác đã phạm phải nói trên. Đó là nỗi sĩ nhục cho lương tâm của cả loài người trên thế giới. Tội ác đó chà đạp lương tri con người, một tội ác chiến tranh, gieo rắc những cái chết kinh hoàng cho nhân loại nhân danh sự phất triển và hòa bình cho thế giới, cũng có nghĩa là chống lại luật pháp, chống lại công lý, chống lại loài người! Chúng ta không chỉ xét lại việc thực thi hiệp định Paris mà thôi. Chúng ta cần phải đưa tội ác chiến tranh chống lại loài người này ra trước sự xét xử của công lý của thế giới! Ngày nào trên thế giới này KHÔNG CÓ CÔNG LÝ là KHÔNG THỂ CÓ HÒA BÌNH “cho cả thế giới này được! “PAS DE JUSTICE, PAS DE PAIX”/”NO JUSTICE, NO PEACE”
LỜI KÊU GỌI
Nhân danh những người dân khốn cùng của đất nước VN đang sống dưới ách cai trị của gông cùm bọn vc, chúng tôi đã trở thành nạn nhân của bọn khủng bố cộng sản quốc tế sau khi đã đứng lên đấu tranh cho nền độc lập tự do dân chủ của dân tộc mình. Và cũng vì đất nước của chúng tôi đã từng là một tiền đồn chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa CS lan tràn ra thế giới, án ngữ ngăn cản CS bạo tàn, bảo vệ nền hòa bình chung cho thế giới tự do. Và cũng vì sự can thiệp của thế giới tự do vào nội tình đất nước VN, để chung tay chống lại CS (kẻ thù chung của loài người) đã bị bọn chính trị gia Hoa Kỳ lợi dụng tư thế đồng minh (biết rõ nội tình) đã bán đứng đất nước này (một tội ác hèn hạ của những kẻ bất lương vô liêm sĩ cần phải đưa ra công lý). Hiện nay, tình hình tệ hại của đất nước VN lại càng thêm nguy cấp vì sự bành trướng của Trung cộng ( một chế độ theo CNCS bạo tàn còn sót lại) đang châm ngòi lửa chiến tranh xâm lược nhờ vào sức mạnh quân sự bùng nổ, được thế giới nâng đỡ, hà hơi giúp sức để phát triển nền kinh tế nhiều năm qua. Chúng tôi kêu gọi mọi người ở các nước trong tình liên đới trách nhiệm cho sự phát triển chung của toàn thế giới, góp tiếng nói, chung tay xây dựng nền công lý và nền hòa bình cho khu vực biển Đông của châu Á, Thái Bình Dương này. Thật không công bằng nếu các nước chỉ chăm lo phân chia quyền lợi của riêng mình mà bỏ mặc sự an nguy của những nước có liên quan quanh vùng biển Đông mà các nước đang đòi hỏi quyền lợi của mình trong đó. Kinh nghiệm lịch sử đau thương về cuộc chiến tranh đã nhân danh vì nền hòa bình chung cho cả thế giới bị lợi dụng để phân chia quyền lực giữa 2 phe tư bản và CS, biến đất nước VN thành bãi chiến trường cho cả thế giới thi thố mọi thứ sức mạnh. Kết quả cả thế giới có sự phát triển tốt đẹp như mong muốn, riêng một nước VNCH bị bán đứng và bị tiêu diệt, khiến hàng triệu con người phải bỏ đất nước ra đi để tìm bến bờ tự do, một số đã vùi thây giữa biển khơi, một số chết nơi rừng thiêng nước độc, một số bị đày ải và chết trong nhưng trại cải tạo…đất nước VN trở nên điêu tàn và trở thành một ngục tù lớn dưới sự cai trị hà khắc của chủ nghĩa cộng sản quốc tế qua cánh tay tay sai của đảng vc! Vì chính nghĩa tự do, vì cuộc sống hòa bình nhân đạo, vì đòi hỏi của công lý phải được bảo vệ, người dân VN chúng tôi không bao giờ chấp nhận ngừng cuộc tranh đấu để sống còn. Tiếp tay với con người VN là lương tâm, là trách nhiệm, là công lý và là vinh dự của tất cả mọi người sống trong xã hội văn minh nhân ái của thế giới hôm nay.
Chúng tôi kêu gọi cả thế giới hãy tiếp tay với người VN để tìm kiếm công lý và hòa bình với trách nhiệm liên đới của cả nhân loại.
Thật vô lương tâm nếu các tổ chức quốc tế, các tổ chức tôn giáo, tổ chức của các nước…bình tâm đứng ngoài nhìn tội ác chống lại loài người, tiêu diệt một đất nước VN nhỏ bé trong thế giới văn minh nhân đạo này!
Nhân danh là một con người khốn cùng sống trong xã hội thời đại Internet nối mạng toàn cầu này, NDV nay lên tiếng thống thiết kêu gọi sự giúp đỡ của cả thế giới loài người!