Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Tin Việt Nam: Trung Quốc ồ ạt vét nông sản: Nguy hay cơ?

Tác giả: Ngọc Hà
Bài đã được xuất bản.: 06/07/2011 06:00 GMT+7

 

(VEF.VN) - Lũ lượt sang thu gom hàng nông sản, sự xuất hiện của đông đảo tư thương người Hoa ở Việt Nam lâu nay trở nên quen thuộc. Điều đó thổi bùng lên sự lo ngại về một mối nguy "chảy máu" nguyên liệu và sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường. Nhưng, đó cũng là cơ hội để "phe ta" nhìn lại mình.
Có một số đặc điểm không thể trộn lẫn khi thương lái Trung Quốc sang Việt Nam gom hàng, đó là mua với số lượng lớn, giá cao, sẵn sàng lùng lục vào tận vườn, leo lên đồi và xắn quần lội ao, đìa thu mua nông thuỷ sản.
Họ "càn quét" từ Bắc vào Nam, từ sắn lát, cao su, hạt tiêu, gạo, thịt lợn, thuỷ sản... đến các loại nông sản theo mùa vụ, như vải Lục Ngạn (Bắc Giang) và trứng muối, đậu xanh... cho vụ Trung thu tới.
Rõ ràng, thương lái Trung Quốc thu gom nông sản do nhu cầu cao về lương thực thực phẩm, để phục vụ sản xuất. Song, chính sự lỏng lẻo, không đồng bộ, thiếu sự phối kết hợp giữa nhà sản xuất và người cung cấp ở Việt Nam là yếu tố thuận lợi giúp họ dễ dàng đạt được mục đích của mình.
Nhãn tiền là người cung cấp được hưởng lợi nhờ giá cao. Nhưng, đã thấy có nhiều tiếng kêu than từ các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu trong nước vì "đói" hàng, máy móc đắp chiếu, công nhân ngồi chơi. Đã có nhiều chuyên gia bày tỏ sự lo ngại sâu sắc về một mối nguy "chảy máu" nguyên liệu và quá lệ thuộc vào một thị trường.
Trao đổi với báo giới, PGS.TS Phạm Tất Thắng - chuyên gia kinh tế cao cấp, Viện Nghiên cứu Thương mại, lo ngại rằng thương nhân Trung Quốc có thể đẩy giá bất cứ nông sản nào của ta lên cao ngất ngưởng. Tuy nhiên, đã xảy ra việc, lúc nông dân dồn được hàng thì họ ép giá ngay lập tức. Hay lúc nông sản vào chính vụ, ta tập trung dồn hàng lên biên giới để xuất sang Trung Quốc thì họ lại bày ra kiểm dịch, thông quan... nhằm đánh tụt chất lượng cũng như giá cả hàng hóa của ta. Bài học về dưa hấu, sắn lát, rau quả... vẫn còn nguyên giá trị. Chưa kể nguyên liệu Việt Nam phải đội lốt "Tàu".
Về phía các DN, khi không có hàng, Việt Nam sẽ mất những thị trường xuất khẩu lớn các mặt hàng vốn là chủ lực.
Bà con nông dân tấp nập chuẩn bị trứng muốn bán cho thương nhân Trung Quốc (ảnh SGTT)

Trên Tiền Phong, TS. Vũ Đình Ánh - chuyên gia giá cả thị trường, cảnh báo, việc thương nhân Trung Quốc thu gom các mặt hàng nông sản của Việt Nam để xuất khẩu sẽ tạo ra sự mất cân đối cung cầu cục bộ đối với các mặt hàng. Hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu để phục vụ nhu cầu trong nước nhưng nay đem xuất khẩu sẽ dẫn đến thiếu hụt nguồn cung, có thể kéo giá lương thực, thực phẩm tại thị trường Việt Nam lên cao, khiến việc kiềm chế lạm phát sẽ khó khăn hơn.
Dưới góc độ quy hoạch sản xuất nguyên liệu, ông Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Trồng trọt (Bộ NN&PTNT) cũng cảnh báo, việc họ mua giá cao có tính tức thời sẽ phá vỡ quy hoạch sản xuất của chúng ta. Bài toán trồng - chặt, từng diễn ra ở nhiều địa phương.
"Phải làm rõ việc thu gom này kéo theo sự bất bình đẳng về nghĩa vụ, kéo theo hệ quả xấu, như ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo công ăn việc làm của các doanh nghiệp trong nước. Cần rà soát lại các quy định. Nếu họ làm thiệt hại cho Việt Nam, cần phải có hành động", ông Ánh nói.
Tuy nhiên, việc thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam gom hàng cũng có ý kiến khác biệt.
Trao đổi với Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, báo VietNamNet, ông Phạm Quang Diệu, Công ty CP Phân tích và Dự báo thị trường Việt Nam (Agromonitor) đưa ra 3 lập luận cho rằng, sự việc trên chứng tỏ các cơ quan quản lý, doanh nghiệp Việt Nam cũng có lỗi, và nên tự trách mình trước.
Thứ nhất, Việt Nam quá thiếu thông tin về thị trường Trung Quốc. Lỗi đó ai chịu trách nhiệm? Trong khi quốc gia láng giềng là một thị trường lớn, có thể tác động và làm thay đổi cả thế giới, thì chúng ta lại thiếu một hệ thống theo dõi giám sát tình hình.
Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam quen với kiểu xuất nhập khẩu hàng tại cảng, hàng hoá cứ đi/về cảng là xong. Còn Trung Quốc, khi họ có nhu cầu, họ lặn lội sang tận nơi, họ không ngại lội ruộng để mua nguyên liệu. Các nước Âu, Mỹ thường nhập hàng qua cảng, nhưng với Trung Quốc là mọi con đường.
Thứ ba, cách thức kinh doanh khác biệt của Trung Quốc. Chẳng hạn, mặt hàng gạo Trung Quốc nhập khoảng 40 nước khác nhau, nên tin đồn từ thị trường này đôi khi lớn hơn sự thực rất nhiều, và cũng có thể nhỏ hơn sự thực nên kết cục, thực hư lẫn lộn.
Trong khi, từ trước đến nay, do quản lý còn chồng chéo và các Bộ, ngành chưa thực sự phối hợp hành động, nên, ngoài việc mập mờ về nguyên nhân Trung Quốc lựa chọn và thu gom quá lớn nguyên liệu từ Việt Nam, kể cả hàng hoá không đảm bảo chất lượng, cũng chưa thấy một con số chính thức công bố công khai về tổng lượng hàng hoá và nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc.
Họ đã thu mua của ta bao nhiêu tôm, bao nhiêu thịt lợn, bao nhiêu trứng... không cơ quan nào nắm được, không doanh nghiệp nào biết. Do vậy, chúng ta đang ở thế bị động trong việc kiểm soát hàng hoá xuất tiểu ngạch sang quốc gia chung đường biên mậu.
Để khắc phục tình trạng trên, các chuyên gia cho rằng, Việt Nam cần phải tổ chức buôn bán nông sản một cách bài bản sang Trung Quốc. Xuất khẩu phải đi vào chính ngạch, ký hợp đồng rõ ràng. Trong điều kiện xuất khẩu tiểu ngạch hiện nay, để đề phòng rủi ro, các cơ quan quản lý cần có chế độ cảnh báo, phân tích, truyền thông nhằm nêu rõ lợi, hại từ việc bán nguyên liệu cho thương nhân Trung Quốc để người dân quyết định thiệt hơn.
Cũng có ý kiến cho rằng, nên nghĩ tới phương án giữ nguồn nguyên liệu trong nước, giống như cách làm của Indonesia khi thực hiện lệnh cấm xuất khẩu nguyên liệu hải sản trong nước.
Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cũng không thể cứ đứng nhìn nguyên liệu vuột khỏi tay mình, trong khi bản thân cũng phải đi nhập khẩu (chẳng hạn như tôm, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi... ).
Rõ ràng, đây là cơ hội để xem xét lại sự hợp tác giữa nhà cung cấp nguyên liệu và chế biến, bảo đảm quyền lợi của người sản xuất. Và cũng là bài học về việc nhập khẩu nguyên liệu tận gốc, tránh qua khâu trung gian cho các doanh nghiệp Việt.
Đâu là nguyên nhân khiến thương nhân Trung Quốc phải lặn lội để thu gom hàng nông sản từ Việt Nam? Chúng ta nên mừng hay lo về câu chuyện này? Làm thế nào để vừa xuất khẩu được hàng nông sản giá cao sang Trung Quốc, có lợi cho bà con nông dân, vừa đảm bảo được nguồn nguyên liệu trong nước và tránh lệ thuộc quá nhiều vào một thị trường?
--------------------------
Viettin: Ở mọi lãnh vực, Trung Quốc luôn là tai họa đối với dân tộc Việt Nam. Ở mọi thời đại, Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc. Đỉnh điểm của những tai họa đến từ kẻ thù truyền kiếp này là việc chúng ta sắp mất nước. Trong khi Đảng CSVN lại ra sức cưỡng ép mọi người "học tập", "phát huy" tình hữu nghị với "láng giềng tốt" theo phương châm phì cười của những tên hề rẻ tiền trong Đảng tung ra: "16 chữ vàng & 4 tốt"
(VT TGNV)

Nhau thai khô mua dễ như mua rau
Tác giả: Hoàng Nhung - Lệ Hà

Đối với đông y, nhau thai là một bài thuốc quý thường được dùng để chữa các bệnh sinh lý. Tuy vậy, chưa ai xác định được độ tin cậy về chất lượng cũng như tính an toàn của sản phẩm này. Hiện nay, nhau thai khô đang được bày bán như rau tại chợ dược liệu ở quận 5, TP.HCM và người có bệnh được tư vấn vẫn vô tư ra mua về dùng.
Chúng tôi dạo một vòng quanh phố đông y (quận 5), hầu như nhà nào cũng bán tử hà xa. Người bán đông, người mua cũng lắm. Chị Thị Hoài Lê (33 tuổi) đang mua nhau thai khô ở phố Hải Thượng Lãn Ông cho biết, chồng chị bị yếu tinh trùng, chị lại ít trứng nên khó có con, được một thầy thuốc đông y tư vấn nên dùng loại thuốc này để chữa trị nên chị đã mua và dùng liên tục từ nhiều tháng nay. Chị Lê bảo, món này dễ nấu, lại bổ. Trước đây, chị phải mua từ ông thầy bốc thuốc 250.000 đồng/gói, sau biết giá chợ chỉ 110.000 đồng nên chị ra đây mua.
Loại tử hà xa bán với giá 75.000 - 85.000 đồng/gói (có năm chữ) và loại bán với giá từ 100.000 đồng trở lên (có mười chữ). Trên bao bì của cả hai sản phẩm đều không đề nguồn gốc xuất xứ, không có phụ nhãn tiếng Việt. Ảnh: Hoàng Nhung

Cách khoảng 200m từ ngã ba Hải Thượng Lãn Ông vào đường Triệu Quang Phục, một người đàn ông khoảng 40 tuổi lạng tới một cửa hàng dược liệu mua tử hà xa. Bà chủ cửa hàng hỏi: "Mua tử hà xa làm gì?" Ông này nói: "Tôi hồi này không được khoẻ, nghe người ta mách ăn tử hà xa cơ thể sẽ khoẻ lên. Bà bán cho tôi năm bịch". Người chủ cửa hàng liền đưa ra năm gói tử hà xa được sấy khô, sợi màu vàng như sợi mì gói với giá 500.000 đồng và dặn, ăn loại này rất bổ, cả hai vợ chồng có thể cùng ăn bằng cách nấu canh, xào với rau hoặc hấp.
Một chủ cửa hàng người Bắc cho biết, tử hà xa được nhập từ Trung Quốc về bán với giá 100.000 đồng/gói, có thể yên tâm về chất lượng, chế biến đơn giản. Khi thấy chúng tôi lo sợ không biết có diệt hết virút gây viêm gan và virút HIV hay không, người chủ cửa hàng phản ứng: sấy khô như thế này thì còn virút nào sống sót nữa!
Hầu hết các cửa hàng dược liệu trong khu vực chợ đông y đều bán tử hà xa với giá từ 75.000 - 85.000 đồng (loại chỉ có năm chữ viết của Trung Quốc), loại giá cao nhất từ 110.000 - 135.000 đồng/gói (có bốn chữ Trung Quốc lớn và sáu chữ nhỏ ở dưới), không có xuất xứ nguồn gốc, không có nhãn phụ tiếng Việt.
Mang tử hà xa đi hỏi nhiều thầy thuốc đông y chúng tôi được biết, phần đông các thầy thuốc đều dùng tử hà xa để chữa bệnh "tinh khô - huyết kiệt", rối loạn tình dục, yếu sinh lý, bệnh đường hô hấp. Đặc biệt thường dùng cho những cặp vợ chồng hiếm muộn, khó có con...
Nếu mua ở chợ dược liệu, giá trung bình một gói tử hà xa khoảng 100.000 - 120.000 đồng. Còn tại các phòng mạch đông y, nếu bệnh nhân đặt hàng, thầy thuốc sẽ bán với giá gấp đôi (khoảng 200.000 - 250.000 đồng/gói). Nếu chia nhỏ thành thang, mỗi thang thuốc có giá trung bình khoảng 40.000 - 100.000 đồng/thang. Tại các phòng khám Trung Quốc, nếu một thang thuốc bao gồm khoảng bảy thuốc điều trị vô sinh, trong đó có vị tử hà xa, trung bình mỗi thang có giá từ 300.000 - 500.000 đồng. Một số thầy thuốc còn mua cả nhau thai tươi về ngâm rượu hoặc viên thành những viên thuốc nhỏ để bán cho người tiêu dùng.
Theo SGTT
 *
“Chết” bất động sản - hệ lụy ngân hàng
Tác giả: Lê Mỹ
Bài đã được xuất bản.: 3 giờ trước

 
Dư nợ BĐS hiện chiếm 10% dư nợ toàn hệ thống. Hai năm trở lại đây, khi NH có mức tăng trưởng tín dụng cao, thì tín dụng đổ vào thị trường BĐS cũng “leo thang” tương ứng.
Bộ Xây dựng đã có văn bản đề xuất NHNN điều chỉnh cho vay linh hoạt đối với từng khoản mục bất động sản (BĐS), thay vì "ém" tất cả các khoản vay BĐS vào cùng một lĩnh vực phi sản xuất để siết vốn. Đây có thể xem là một cái "phao" cứu hộ cho thị trường BĐS lúc này ?
Không ít nhà đầu tư tỏ ra khấp khởi về khả năng thị trường BĐS sẽ được "giải cứu" khỏi tình trạng đóng băng và xuống giá hiện tại. Nhiều người đã rục rịch lên kế hoạch, đón vốn, gom hàng.
"Chết" bất động sản - hệ lụy ngân hàng
Ông Huỳnh Văn Minh - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM cho biết: Tính đến tháng 6, nhiều DN là các đại gia trong làng BĐS đã rất nguy ngập. Tình trạng "khô máu" do bị hệ thống tín dụng ngưng nguồn cung vốn khiến DN không chỉ đình lại các dự án đang triển khai dở dang, mà còn bị chặn luôn cả đầu ra tiêu thụ sản phẩm. Trong trường hợp không được "tiếp máu" kịp thời, ông Minh cho rằng có hai kịch bản xảy ra:
Một là tài sản của nhiều DN BĐS sẽ về tay NH, do bị siết nợ.
Hai là tài sản đó không chóng thì chầy sẽ thuộc quyền sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài. Lúc đó, với sự thao túng của những nhóm lợi ích lớn, chưa biết hệ quả sẽ ra sao ?
Ý kiến của ông Minh cũng phơi bày một thực tế là ở tất cả các nền kinh tế, thị trường BĐS và hệ thống tín dụng luôn có một mối liên thông rất bền chặt. Tại VN, từ năm 2006 đến năm 2010, tăng trưởng tín dụng của hệ thống NH cũng luôn gắn chặt với tín dụng BĐS. Năm 2009 và 2010, tỉ lệ tăng trưởng tín dụng NH - BĐS lần lượt là 37,73% và 41,74%, 27,65% và 27,2%.
Lấy ví dụ về con số tăng trưởng trong 2 năm gần đây nhất, sẽ thấy khi NH có mức tăng trưởng tín dụng cao, thì tín dụng đổ vào thị trường BĐS cũng "leo thang" tương ứng. Khi tăng trưởng tín dụng NH có chiều giảm, tín dụng đổ vào thị trường BĐS cũng giảm tương ứng.
Hai quý đầu năm 2011, tuy chưa có con số thống kê cụ thể, nhưng nếu căn cứ vào tỉ lệ dư nợ tín dụng phi sản xuất được ấn định ở mức 22% trước thời hạn 30/6, và 16% vào cuối năm 2011, cũng có thể thấy tín dụng BĐS là con số tương đương 1/5 tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống NH.
Mới đây, Bộ Xây dựng đã khẳng định dư nợ BĐS hiện chiếm 10% dư nợ toàn hệ thống. Đối với một nền kinh tế mà các lĩnh vực phát triển chính đều trông đợi từ nguồn vốn chủ yếu là tín dụng NH, trong khi, NH đã chôn vốn 10% cho các khoản nợ vay dài hạn vào BĐS, thì ngay cả con số đã được giảm thiểu này, cũng không nhỏ.

"Phép mầu" kéo tín dụng phi sản xuất
Với mối liên thông hai chiều như vậy, các NH có dễ buông nguồn lợi nhuận của mình, hay sẽ nỗ lực tìm cách nào đó để làm thỏa mãn tỉ lệ 22%, như đã làm được với việc lách lãi suất huy động vốn mà vẫn "êm xuôi trót lọt" suốt thời gian qua?
Và các NĐT, chủ dự án BĐS, liệu có dễ đánh mất niềm tin vào cái phao sẽ tung ra vào đúng lúc để không chỉ cứu TT BĐS, mà còn tránh được những hệ lụy dắt dây đến toàn bộ nền kinh tế ?
Trao đổi với DĐDN, TS Lê Thẩm Dương - Trưởng khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH Ngân hàng cho rằng giả dụ các NH đạt được đúng yêu cầu của NHNN là đưa tỉ trọng tín dụng phi sản xuất về 22%, nhưng trên thực tế, theo ông, chỉ có "phép mầu" mới thực hiện được điều đó.
Bởi tính đến trung tuần tháng 6, vẫn còn 23 NH có cơ cấu dư nợ cho vay trong lĩnh vực này trên 23-50%, trong đó có 18 NH có tỉ lệ từ 31-37%, một NH có tỉ lệ 50%. Cơ cấu cổ đông lớn tại các NH nhỏ, phần lớn các vai trò chủ chốt như Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc hay thành viên HĐQT đều là những ông chủ của các dự án chung cư, cao ốc, khu công nghiệp, chủ những khu đất vàng hoặc góp vốn, có tên trong HĐQT của nhiều DN BĐS khác.
Dù tính đến ngày 10/6, dư nợ cho vay phi sản xuất của toàn hệ thống đã giảm 9,46%, chiếm tỉ trọng 16,92% tổng dư nợ thì chỉ trong vòng hai tuần, với tình trạng TTCK chưa bước ra khỏi vùng đáy, BĐS chưa có dấu hiệu rã băng, tuyệt nhiên không có cơ sở nào để các khoản vay phi sản xuất trước đây có thể thanh lý đúng hạn.
Mặt khác, trong khi ai cũng biết là có thể thỏa thuận lãi suất huy động với các NHTM trên mức trần quy định, nhưng khi thanh tra, NHNN vẫn chưa bắt quả tang và xử phạt được NH nào. Điều đó cho thấy nếu "đến hẹn lại lên" 100% các NH đạt yêu cầu của Chỉ thị 01/ CT- NHNN, cũng chẳng có gì là ngạc nhiên !
Một tổng giám đốc NHTM trên địa bàn TP HCM đề nghị không nêu tên, bày tỏ: Theo ông biết, nhiều NH có quy mô vốn nhỏ mới thành lập hoặc chuyển đổi địa bàn từ nông thôn lên thành phố, có cổ đông lớn hoặc thành viên HĐQT là các đại gia BĐS.
Dĩ nhiên là các NH này đã được lập ra với mục tiêu không phải thứ yếu là cung vốn cho các dự án BĐS của chính các cổ đông. Khi thị trường BĐS đóng băng triền miên, trò chơi "sân trước - sân sau" này khiến thanh khoản của những NH dạng đó luôn nguy ngập.
Đồng thuận với quan điểm này, TS Đinh Thế Hiển - thành viên Hội đồng cố vấn NH EximBank đề xuất NHNN nên đối chiếu, kiểm tra về... cơ cấu cổ đông lớn tại các NH nhỏ, để thấy phần lớn các vai trò chủ chốt như Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc hay thành viên HĐQT đều là những ông chủ của các dự án chung cư, cao ốc, khu công nghiệp, chủ những khu đất vàng hoặc góp vốn, có tên trong HĐQT của nhiều DN BĐS khác, và để hiểu tại sao các DN BĐS đều đưa ra kiến nghị phải phân biệt rõ giữa BĐS có vai trò sản xuất với BĐS đầu cơ. Tuy nhiên, thế nào là đầu tư và thế nào là đầu cơ, thì lại chính các NH, của các nhà đầu tư (hay đầu cơ) này, thẩm định.
Khó "ngoảnh mặt" ?
Kiểm soát mối liên thông giữa hai thị trường đặc biệt này lại là lĩnh vực đòi hỏi bản lĩnh và năng lực của cơ quan quản lý, cũng như mức độ hoàn thiện và hiệu lực của hành lang pháp lý.
Nhiều chuyên gia đều đồng thuận với quan điểm hiện nay, NH đã hoạt động theo cơ chế thị trường, mà đã là cơ chế thị trường thì tất yếu có cạnh tranh, có tăng trưởng, có phá sản. Đã đến lúc phải chấp nhận để các NH yếu kém, cũng như bất kỳ DN nào khác yếu kém, có thể phá sản. Điều đó buộc các NH phải tự siết lại kỷ luật tín dụng và kiểm soát chặt chẽ nợ xấu.
Không thể để các NH cứ sinh ra, cho vay vốn tràn lan, bừa bãi, không kiểm soát được tỉ lệ nợ xấu, luôn thiếu thanh khoản, không đảm bảo an toàn vốn, mà vẫn ung dung tồn tại ngay cả trong khủng hoảng.
Còn để tránh hệ lụy dắt dây toàn hệ thống, với cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, NHNN có thể chỉ định một NH quốc doanh sáp nhập, mua lại tổng tài sản, cổ phần của NH phá sản, đảm bảo đồng vốn cũng như niềm tin của người dân. Hoặc, chính NHNN đứng ra tái cấu trúc NH có nguy cơ phá sản, cử người tham gia HĐQT và có chính sách quản lý, giám sát những NH đó.
Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn, những giải pháp lâu dài kể trên sẽ chỉ hiệu quả với điều kiện sau khi đã "dập lửa" từ thị trường BĐS, đưa thị trường này trở về giá trị thực, đồng thời không để xảy ra phá sản hàng loạt DN BĐS. Qua đó, cũng "chống cháy" cho khối NH.
Đại diện Hiệp hội DN TP HCM vừa cho hay đã có nhiều đối tác ngoại tìm đến và đề nghị hội giới thiệu tới các DN BĐS để hỗ trợ cho vay tài chính, giúp giải nguy phá sản với mức lãi suất rất thấp chỉ bằng khoảng 1/3 so với lãi suất hiện hành.
Bởi các DN BĐS hay NH đều có thể phá sản theo Luật DN, nhưng nếu quá nhiều DN BĐS phá sản, nợ xấu NH tăng vọt không thể kiểm soát, thanh khoản khô cạn, khi có một NH phá sản thì sẽ gây liên lụy tới cả hệ thống tín dụng và toàn bộ nền kinh tế - ông Sơn nói.
Mới đây, nhằm bảo vệ quyền lợi của người dân và tăng cường khả năng chịu đựng rủi ro của các tổ chức tín dụng (TCTD) trước những cú sốc của thị trường, đặt các TCTD trước yêu cầu cơ cấu lại danh mục đầu tư theo mức độ rủi ro đối với từng loại tài sản trên cơ sở sử dụng nguồn vốn, NHNN đã đưa ra lấy ý kiến thị trường dự thảo Thông tư quy định về các tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD.
Tạo lề luật trước những gì có thể xảy đến trong tương lai là trách nhiệm của nhà quản lý. Nhưng kiểm soát mối liên thông giữa hai thị trường đặc biệt này lại là lĩnh vực đòi hỏi bản lĩnh và năng lực của cơ quan quản lý, cũng như mức độ hoàn thiện và hiệu lực của hành lang pháp lý.
Đại diện Hiệp hội DN TP HCM vừa cho hay đã có nhiều đối tác ngoại tìm đến và đề nghị hội giới thiệu tới các DN BĐS để hỗ trợ cho vay tài chính, giúp giải nguy phá sản với mức lãi suất rất thấp chỉ bằng khoảng 1/3 so với lãi suất hiện hành.
Cho dù vấn đề này hiện thực ở mức độ nào, đó cũng là một tín hiệu cho thấy thị trường BĐS tiếp tục ẩn chứa nhiều vấn đề mà nếu không kiểm soát chặt, hậu họa không chỉ là sự suy thoái của nhiều lĩnh vực kinh tế.
(Theo DĐDN)

Không có nhận xét nào: