Tổng Hợp Tin Tức ngày 21-3-2012 – Trích Diễn Đàn Paltalk VietnamExodus
Đầu thập kỷ cuối của thế kỷ trước, Chiến Tranh Lạnh (CTL) đã kết thúc cùng với sự sụp đổ đế quốc cộng sản.
Từ đó, thế giới không còn “chia làm hai phe”; cũng chẳng ai thèm “phất
cờ đại thắng”, hay “vênh váo” hỏi “ai thắng ai?”, mà chỉ lo tận tình
giúp đỡ kẻ vừa “ngã ngựa”, tạo điều kiện cho nó “tự diễn biến” thành một
cái gì đó “không phải là nó” của những ngày vừa qua. Vế cộng sản trong
thế đối đầu lưỡng cực – bipolar Tư Bản / Cộng Sản đang “lãnh đạo cách
mạng thế giới” bỗng “chuyển sang từ trần”; vế còn lại là Tư Bản, “một
mình một chợ”, tại sao không “cướp thời cơ” làm “độc bá” cho “tiện việc
sổ sách” ? Ấy là vì, hơn ai hết, Tư Bản “nắm vững nguyên lý” của chủ
nghĩa tư bản : cạnh tranh là động lực của phát triển. Nói khác đi, độc
bá, độc quyền là kẻ thù của tự do cạnh tranh. Với cùng nguyên lý ấy, sau
Thế Chiến II (TC2), Mỹ và “đồng minh chiến thắng” đã không trả thù hay
áp chế kẻ chiến bại, không chiếm đóng rồi “vào vơ vét về” như cộng sản
từng làm ở bất cứ nơi nào chúng “thắng đại”. Ngược lại, kẻ thắng TC2 đã
tận tình giúp đỡ kẻ bại hồi sinh, lần hồi vươn lên ngang hảng với mình,
cạnh tranh sòng phẳng với nhau, cùng phát triển. Hai nước bại trận TC2
(Đức và Nhật) đã hàn gắn vết thương, phát triển sau chiến tranh như thế
nào, mọi người đã biết. Nhật đã vươn lên trong hòa bình, cạnh tranh
ngang ngửa, có lúc còn vượt qua Mỹ, trở thành “chủ nợ” của kẻ thắng mình
trong chiến tranh. Đức, vì bị chia đôi, nửa phía Đông bị Liên Xô chiếm
đóng, trở thành cộng sản “bất đắc dĩ” nên không bằng Nhật, nhưng nửa
phía Tây có tự do, đã dư sức “cõng” Đông Đức “thoát cộng sản” sau khi
thống nhất “trong hòa bình”, trở thành nước mạnh nhất của khối Liên Âu
ngày nay.
Không đơn phương “miễn cưỡng
lãnh đạo” thế giới sau CTL, không còn thế đối đầu lưỡng cực, Mỹ lấy gợi
ý từ thập niên 1970 của “Lò Chính Sách” (think tank) Ủy Hội Tam Phương
(UHTP) – The Trilateral Commission –, chuyển sang thế đa tâm –
polycentric – coi sự “liên thuộc” – interdependence – về vốn, năng lượng
và tài nguyên giữa các quốc gia là nền tảng của xu thế “toàn cầu hóa”,
trên đó loài người cùng nhau xây dựng một trật tự mới theo phương châm
Hòa Bình – Hợp Tác – Phát Triển.
Thời 1970, UHTP quan niệm
đơn giản “tam phương” là : Bắc Mỹ,Tây Âu, Nhật Bản. Theo thời gian, Bắc
Mỹ soải dài xuống Nam Mỹ; Tây Âu gồm hầu hết Đông Âu sau CTL; Nhật không
còn đơn độc ở Á Châu, mà bên cạnh có thêm Đài Loan, Nam Hàn, Singapore …
rồi bọn “cộng sản sống sót” … Tàu Cộng và Việt gian cộng sản (VGCS).
Theo Samuel Huntington, sau
CTL giữa Tư Bản và Cộng Sản, mọi xung đột trên thế giới (vũ trang hay
không), nếu có xảy ra, không còn là“chiến tranh ý hệ” mà, ít hay nhiều,
chỉ là “đối chọi văn minh” – Clash of Civilizations. Quan niệm này gây
nhiều tranh cãi nhưng, chính các tranh cãi ấy gián tiếp cho thấy tư
tưởng giới của loài người hiện đại xác quyết hai điều : 1/ Cái gọi là “ý
hệ cộng sản” đã không kết tinh nổi thành một thứ “văn minh” nào đó; 2/
Tham vọng của đế quốc cộng sản, áp đặt một hệ giá trị nhất nguyên duy
vật lên loài người, đã trở thành ảo vọng, chết theo cái chết của đế quốc
ấy. Hơn nữa, loài người cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, đã nỗ lực không
ít, trả giá khá nhiều (xương máu và của xải),“hóa giải” các “đối chọi
văn minh”, tạo đồng thuận về những giá trị phổ quát – universal values
–, lấy đó làm “mẫu số chung” xây dựng một trật tự toàn cầu – global
order – với Con Người Là Cứu Cánh.
Trong khung toàn cầu như
trên, bọn “cộng sản sống sót” có chỗ đứng nào hay không, tùy vào “căn
cước” của chúng. Không thể chối cãi, chẳng qua chúng là những “mảnh vỡ”
của hệ giá trị cộng sản, sau những “đấu tranh giai cấp” và “tranh cướp
quyền bính”, trong đó chúng đã bị “đại bại”, cho dù đã phải trả giá bằng
hàng chục triệu mạng người. Sau khi “theo Mỹ, phản cộng sản”, góp phần
vào “sự nghiệp” làm vỡ vụn đế quốc cộng sản do Liên Xô “lãnh đạo”, cộng
sản Tàu đã được Mỹ dành cho trên 30 năm ưu đãi, kể từ 1979. Mười năm sau
đó, tuy Tàu bị Mỹ “cấm vận chiếu lệ” vì vụ thảm sát Thiên An Môn 1989,
nhưng đã lại được “tha Tào” năm 2001, khi vụ khủng bố 11-9 đẩy “mũi nhọn
đối phó” của Mỹ sang Trung Á thay vì chĩa vào Tàu. Với cái gọi là Đồng
Thuận Bắc Kinh, hưởng quy chế “đối tác chiến lược”, Tàu Cộng (TC) khai
thác triệt để “chủ nghĩa tư bản rừng rú” – savage capitalism – ngoi lên
thành “siêu cường kinh tế”, ngang hàng, ngày càng lộ liễu “cạnh tranh
bất chính” với Mỹ và Liên Âu. Năm 2007-09, khi thế giới lâm vào khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, thì Tàu đã từ lâu vươn vòi bạch tuộc ra khắp thế
giới, tay phải bơm tiền cho Mỹ vay để Mỹ lún sâu vào chiến tranh chống
khủng bố, tay trái đồng lõa với Pakistan “chứa chấp” trùm khủng bố Bin
Laden, yểm trợ đồng bọn của y cả về tình báo lẫn tiếp vận quân sự. Bám
đuôi và “sao chép” TC là VGCS, với chủ trương “theo voi Tàu, hít bã mía
Mỹ”. Bản thân VGCS cũng đội trên đầu một thứ “căn cước không minh bạch”,
vì không xác định được “chỗ đứng” của chúng, trong cũng như sau CTL.
Thí dụ : với căn cước “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” (CNXH), khi
Liên Xô/Tàu Cộng bắn nhau và TC phản LX theo Mỹ, VGCS khó xác định được
cái CNXH nào (LX hay TC) là cái mà chúng yêu. Sau “thắng đại” năm 1975,
Lê Duẩn quyết ra mặt “phản TC, theo LX”, ghi cả vào Hiến Pháp của “nước
ta” và điều lệ của “đảng ta”, coi TC là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm
nhất”, là quyết đem vận mạng của cả nước lẫn đảng ra “đánh bạc” (VGCS
nói là “cá cược”) với sự “còn hay mất” cái “tổ quốc XHCN” của chúng, vào
lúc nó đã “nứt rạn” đến độ “hết thuốc chữa”, đang “diễn biến hòa bình”
thành một “đống rác của lịch sử”. Liên Xô sụp đổ. VGCS “đánh bạc ké”
nhầm phải “cửa đen”, thua “cạn láng”, không còn cách nào khác, phải
“liếm lại bãi nước bọt” chúng đã nhổ ra, khom lưng sang Tàu “bán nước
cầu sinh”. Từ “bẩm sinh”, chúng là nạn nhân của chính mình, với những
“căn cước vay mượn” từ các “thế lực nước ngoài”, mà chúng lúc thì “thờ”
như “thày”, như “bạn”, như “ân nhân”, lúc lại “mắng” lả “kẻ thù nguy
hiểm nhất”. Chúng bị “khủng hoảng căn cước” từ bẩm sinh, khi thành hình
đảng của chúng. Suốt dòng sinh mệnh của nó, đảng VGCS “sớm đầu tối
đánh”, với thủ đoạn “lá mặt lá trái”, là chuyện “cơm bữa”.
Điểm lại “căn cước” của hai
đảng “cộng sản sống sót”, còn “giữ tên đảng” và còn cầm quyền ở Châu Á –
TC và VGCS – ta thấy chúng “giống nhau như đúc”, là những “mảng rơi
vãi” lạc lõng của hệ giá trị cộng sản nhất nguyên duy vật, đã bị quy
luật khách quan của loài người hiện đại đào thải. Điểm khác biệt duy
nhất là : TC “tự đặt, tự chọn” căn cước; ngược lại, “căn cước” VGCS do
“thế lực nước ngoài cấp phát”, hoặc do VGCS “vay mượn”, tùy theo hoàn
cảnh. Do đó, trong hoàn cảnh hệ giá trị cộng sản bị đào thải, TC có khả
năng trở về với “truyền thống Tàu”, với “Chủ Nghĩa Hán Tộc Bành Trướng”.
VGCS không có khả năng đó, vì từ khi lập đảng để “phục vụ quyền lợi đế
quốc cộng sản”, chúng đã tự tay “chặt đứt đường về”. Căn cước cộng sản,
tuy đã bị loài người đào thải, nhưng chúng phải “cố bám”, dùng nó làm
“mỏ neo”, gắn chúng vào quyền bính chúng đã nhờ “thế lực nước ngoài” mà
cướp được. Bộ máy (hay “cơ chế”) cộng sản được “thiết kế” hữu dụng trong
chiến tranh (dù “nóng” hay “lạnh”), nhưng bị “phản tác dụng” trong hòa
bình, nhất là trong trật tự thế giới ngày nay, đang được sắp xếp lại
theo phương châm Hòa Bình – Hợp Tác – Phát Triển. Mười bảy năm tái lập
quan hệ ngoại giao với Mỹ, được ưu đãi không kém TC, VGCS“khẩn trương
tranh thủ” cơ hội này để “vội vã vơ vét”, vì chúng luôn bị “con ma diễn
biến hòa bình” ám ảnh, không biết “nhiệm kỳ đô la” của chúng kéo dài
được bao lâu.
Từ năm 2009, Mỹ thay đổi ưu
tiên chiến lược đối ngoại, giữa lúc thế giới chưa hoàn hồn sau Đại Khủng
Hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2007-2008. Với chiến lược mới, Mỹ
“giải kết” khỏi những vướng mắc của “xung khắc văn minh” ở Trung Á,
Trung Đông và Bắc Phi, quay về Châu Á, nói rõ là để “cân bằng ảnh hưởng
với TC”. Rõ ràng là quan hệ “ta-bạn-thù” giữa Mỹ/TC/VGCS, một lần nữa,
phải xác định lại. Quan hệ Mỹ/TC đang từ “đối tác chuyển sang đối đầu”.
Lại thêm một lần, “khủng hoảng căn cước” xô VGCS vào thế “chết chẹt”
giữa Mỹ và TC. Hai nước này đều từng là “cựu thù” của VGCS. Riêng TC,
từng bị VGCS “phản chủ Tàu theo chủ LX”, bị TC “giáo trừng”, đồng thời
bị Mỹ “cấm vận”, phải ăn bo-bo đi “đánh giặc thuê cho LX” ở Kampuchea
gần 13 năm. Khi LX “chuyển sang từ trần”, tức thì VGCS phải “chuyển sang
hòa bình”, sang Tàu “bán nước”, được Tàu cho phép nhận là “một bộ phận
của Tàu”, cho đến ngày nay. Tranh chấp Mỹ/Tàu ở Biển Đông VN (Tàu gọi
là Nam Hải) buộc VGCS bộc lộ “căn cước thật”, là việt gian, bán nước cho
Tàu từ năm 1950, khi giặc Hồ rước Tàu vào “nhân dân hóa” VN, theo lệnh
Tàu “phóng tay phát động đấu tranh giai cấp” giết hại hàng chục vạn dân
trong khi cần “đoàn kết dân tộc” để chống Pháp. Phạm Văn Đồng tái xác
nhận căn cước ấy với công hàm 14-9-1958, đem biển đảo VN “cúng cụ” Tàu.
Năm 1988, khi VGCS phản Tàu theo LX, Tàu đánh chiếm đảo Gạc Ma ở Trường
Sa, giết hại hàng trăm bộ đội hải quân; nay “dân và gia đình” tổ chức
tưởng niệm các anh bộ đội ấy, lại bị “trên” không cho phép. Thanh niên
sinh viên xuống đường “chống Tàu cứu nước”, bị đàn áp và “hạ nhục”. Tất
cả đã chứng tỏ VGCS hết đường chối cãi tội bán nước. Bí quá, có lúc
chúng muốn “mở hơi lấp liếm”, lập tức bị truyền thông Tàu tiết lộ thêm
bằng chứng chuyện chúng bán nước ở Thành Đô năm 1990-91 với đầy đủ chi
tiết tỉ mỉ. Trong thế bí, trước nguy cơ “nhiệm kỳ đô la” có thể chấm
dứt, bọn “sứ quân” VGCS thay vì tìm cách “giảm nhiệt”, lại không ngừng
“giải phóng mặt bằng”, tiếp tục “cưỡng chế”, đổ thêm dầu vào lửa, khiến
Bom Tiên Lãng nổ tung, đồng thời Tiếng Hát Việt Khang với hai câu hỏi
“Anh Là Ai?” và “Việt Nam Tôi Đâu?” làm rúng động con tim từng ngưởi VN
từ trong ra ngoài nước, từ trong ra ngoài đảng cộng sản vn. Chóp bu VGCS
phải công khai “tự kiểm điểm” những “căn bệnh trầm kha” có thể đưa
“đảng và chế độ đến nguy cơ sụp đổ”. Chúng hô hào “chỉnh đốn đảng”, vì
trong đảng là “một bầy sâu bọ” (Trương Tấn Sang).
Những biện pháp cụ thể
“chỉnh đảng”, cùng với 19 điều cấm đảng viên không được làm, do “tổng
bí” Trọng đưa ra, chẳng bõ làm trò cười cho cả nước, kể luôn những “mục
tiêu trong tầm ngắm cấm kỵ” của “đảng ta”.
Mọi người đều cho rằng VGCS
đã mất niềm tin của quần chúng. Thực ra, cái gọi là “niềm tin” kia, VGCS
chưa bao giờ có, để bây giờ “mất”. Chẳng qua quần chúng bị cỗ máy cai
trị “sắt máu” của VGCS xô vào thế “trói vào mà đánh, khen thay chịu
đòn”. Bộ máy ấy thất bại trong áp đặt, nhưng thành công phần nào trong
phá nát hệ giá trị truyền thống VN, từ đó gây ra khủng hoảng giá trị và
khủng hoảng căn cước triền miên cho đến bây giờ. Khủng hoảng chế độ là
giai đoạn chót của diễn trình sụp đổ.
Dưới đây là bài Tổng Hợp Tin Tức mới nhất của LS Đinh Thạch Bích …
This entry was posted in L.s Đinh Thạch Bích. Bookmark the permalink.

Chỉ có ĐỐN, Không Thể CHỈNH
Tại vì theo đảng chỉ vì BỔNG LỘC
Nay 19 thứ, thứ gì cũng cấm
Vậy theo đảng làm cái mẹ gì?
Xin lỗi đã xổ nho!
*
VIỆT NAM có hố tử thần
Có HỒ quốc tặc có công an đồn
Nhân dân khiếp vía mất hồn
Mỗi khi diện kiến quỷ môn côn đồ
Hội đồng lâm trận “xào khô”
“Luộc ướt” thắt cổ mạng thô trong tù
Nhiều người ngủ giấc ngàn thu
Thân nhân chẳng rõ đòn thù của ai
*
Phải chăng vì sợi dây giày
Hay condom chụp mặt mày nghi can
“Cướp cò” súng nổ đầu làng
CỒN DẦU NÚI CHẼ VINH QUANG TAM TÒA
BA ĐÌNH hán hóa cộng HOA
“Phục hồi nhân phẩm” đàn bà vì dân
Lâu la khuyển mã công thần
Tà quyền độc trị ấm thân họ hàng
*
Bom VƯƠN TIÊN LÃNG ngỡ ngàng
NO – U đạn TIẾN bắn tan nỗi hèn
Đầm đìa CỐNG RỘC chưa quen
“Gà đá phi” tử dế mèn mộng du
Ba Dơ Trọng lú Sang mù
Chủ nhân đành để tớ ngu dẫn đường
Non sông đất nước thảm thương
Tham quan hủ hóa theo phường sát nhân
*
TÂM THANH