Hoàng Sơn Long (Danlambao)
- Đã 38 năm trôi qua, một thời gian khá dài có những việc với trí nhớ
của con người có thể quên đi hoặc có nhớ lại hình như nó rất mơ hồ.
Nhưng có những việc người ta không quên được, mỗi một lần có dịp hồi
tưởng, nó lại hiển hiện trước mắt y như vừa mới xảy ra. Sự kiện đó trở
thành một dấu ấn khắc sâu vào tâm trí con người, và nó mãi mãi in đậm
vào lòng có khi đến chết vẫn còn mang theo. Những người thuộc thế hệ 4X
của thiên niên kỷ trước được sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến
tranh, có thể nói chúng tôi là chứng nhân hay nạn nhân của một cuộc
chiến kéo dài trên 20 năm.
Vào đầu thập niên 60 chúng tôi là những thanh niên mang bầu nhiệt huyết.
Chúng tôi biết chiến tranh đang xảy ra trên quê hương. Chúng tôi tham
gia vào cuộc chiến với lí tưởng muốn phục vụ quốc gia dân tộc. Ở lứa
tuổi chúng tôi không có nhiều con đường để lựa chọn, nếu không được vào
các trường đại học chuyên nghiệp như kỹ thuật, luật khoa, y, nha, dược,
sư phạm… để tiếp tục con đường học vấn thì trước sau gì cũng phải thi
hành nghĩa vụ quân sự. Vào quân trường học bài học đầu tiên “Quân trường
đổ mồ hôi, sa trường bớt đổ máu.” Qua thời gian huấn luyện, ra chiến
trường chúng tôi đối diện với bom đạn mìn bẫy, với cái chết trong gang
tấc. Bao nhiêu người bạn, người đồng đội không trở về hậu cứ sau những
cuộc hành quân. Những chiếc khăn tang trên quấn trên đầu người góa phụ.
Trong trái tim chúng tôi trở thành chai đá. Bất cần đời, sống nay chết
mai.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi người lính theo khai sinh có 30 năm và 4
tháng tuổi, với 9 năm quân vụ, từ quân khu thuyên chuyển về tiểu khu
được 2 tuần. Chưa nhận nhiệm vụ gì hết, mấy ông đơn vị trưởng khi đọc
tướng mạo quân vụ của tôi đền ngần ngại không muốn thu dụng tôi. Thế
thì, sáng cà phê, trưa hủ tiếu, chiều đi nhậu với bạn bè. Thanh niên
trong thời khói lửa chắc không mấy người được như vậy. Hơn nữa lúc này
tình hình đang sôi động, an nhàn lúc nào hay lúc đó. Sáng ngày 30 sau
khi vào đơn vị cho có mặt xong tôi chuồn ra quán nhâm nhi ly cà phê đen.
Nhạc tình ru hồn người buổi sáng nó nhạt nước ốc. Đột nhiên quán tắt
nhạc và mở radio để nghe đài phát thanh Sài Gòn phát đi lời kêu gọi của
Tổng Thống Dương Văn Minh. Bây giờ trong lời tuyên bố phần đầu, tôi
không nhớ rõ lắm nhưng tôi còn nhớ tổng quát lời ông Minh nói: “...Tôi yêu cầu các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó…” Tôi như người vừa tỉnh giấc mơ hư thực thế nào đây? Lập tức trả tiền ly cà phê chạy về đơn vị xem sao.
Một không khí nặng nề bao trùm cả trung tâm yễm trợ tiểu khu, mọi người
đều ngơ ngác, không biết phải làm gì. Quân địch còn chưa đến, vậy đầu
hàng với ai? Tôi về nhà ăn trưa và không định trở lại đơn vị. Nằm nhà mở
ra radio để nghe tin, nhưng tất cả đều im lặng. Vào lúc 2 giờ trưa hôm
đó đài phát thanh Sài Gòn phát bài hát “Nối Vòng Tay Lớn” của
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do chính tác giả hát sau đó ông còn kêu gọi mọi
người nên họp tác với chánh quyền cách mạng. Tôi tự hỏi Trịnh Công Sơn
là Việt cộng hay là kẻ cơ hội.
Tình hình ở đây vào lúc nầy giống như các tỉnh miền Trung. Việt cộng
chưa đến, chính quyền bỏ dân chạy trước. Không riêng gì tỉnh lỵ tôi, hầu
hết quân khu IV quân lính và vũ khí vẫn còn đầy đủ. Mặc dù chúng tôi
nghe đài phát thanh bảo bỏ súng đầu hàng Việt cộng, nhưng buổi trưa hôm
đó ông Đại tá tỉnh trưởng đứng trước Tòa Hành Chánh bảo binh sĩ phải tử
thủ. Tôi không biết ông nhận lệnh ai. Cá nhân tôi cũng không biết nghe
ai. Mỉa mai thay đến chiều tối lại mới hay tin ông Tỉnh trưởng lấy máy
bay trực thăng đi mất. Tội thật sự thất vọng về vị chỉ huy nầy, tôi có
cảm tưởng như mình bị lừa dối. Một hình ảnh luôn ám ảnh tôi cho đến ngày
hôm nay, tôi muốn tìm một lí do để giải thích. Tiếp quản đơn vị tôi
không phải là những anh bộ đội mà là những tên du kích cộng với dân nằm
vùng và một vài tên 30/4 trên cánh tay buộc khăn đỏ. Giá như trước đây
tôi chỉ ho một tiếng thì mấy tên này cũng chạy té khói. Bây giờ đúng là
mèo vuốt râu cọp.
Cuộc chiến tranh kéo dài từ bao năm nay, bỗng dưng chấm dứt một cách đột
ngột. Lời tuyên bố đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh làm mọi người
hoang mang, mới nghe tưởng như lời nói đùa, nhưng có lời chấp thuận đầu
hàng của phía bên kia và những lời phát thanh nầy được phát liên tục.
Như vậy cuộc chiến nầy không đánh nữa mà phải bỏ vũ khí đầu hàng kẻ
địch. Với tôi việc ra trận mà buông súng đầu hàng địch trong khi chưa
bắn một viên đạn nào là một điều sỉ nhục trong lòng tôi tự hỏi và rất
băn khoăn. Đời mình sẽ ra sao? Con đường binh nghiệp coi như chấm dứt,
chắc phải về nhà đuổi gà cho vợ. Cái suy tính đầu tiên là làm sao tìm
một lối thoát an toàn cho cá nhân. Câu hỏi đi đâu bây giờ? Tổ chức nào
dung chứa mình. Chạy ra nước ngoài phương tiện đâu? Hoàn cảnh mình bây
giờ có thể ví như con cá trong rọ.
Năm 1973 Hiệp định Paris được bốn bên tham chiến ký kết nhằm mục đích
chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình cho Việt Nam đã không được thi
hành. Chỉ có người Mỹ thực thi là rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt
Nam và cắt giảm viện trợ cho chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 17 tháng 4
năm 1975 Thượng Viện Hoa Kỳ từ chối viện trợ khẩn cấp 722 triệu đô la
mà Tổng Thống Gerald Ford đề nghị.
Ngày 20 tháng 4 năm 1975 Đại sứ Mỹ ông Martin thuyết phục ông Thiệu từ
chức. Tối ngày 21 tháng 4 năm 1975 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn
văn từ chức trước Quốc hội và trao quyền lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn
Hương. Trong bài diễn văn của Tổng Thống Thiêu, ông không quên tố cáo
người Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa. Ông còn hứa sẽ trở về với quân đội để
cùng anh em chiến sĩ để chiến đấu chống quân xâm lược. Nhưng lời hứa
của ông không thực hiện, sau đó ông và gia đình được tòa đại sứ Mỹ bí
mật đưa ra phi cơ trong đêm tối để rời Việt Nam. Việc ông rời Việt Nam
không mang theo 16 tấn vàng đã bạch hóa về sau.
Ngày 19 tháng 4 năm 1975 quân trú phòng Xuân Lộc được lệnh rút về phòng
thủ Sài Gòn. Mười ngày trước đó cộng sản đã tập trung 3 sư đoàn đánh
chiếm thị xã Xuân lộc. Nhưng bên VNCH đưa Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Sư Đoàn 18
bộ binh, tiểu đoàn 83 Biệt Động Quân với sự yễm trợ của Sư đoàn 3 Không
Quân đã đánh bật quân cộng sản ra khỏi cứ địa Xuân Lộc. Đây là trận thư
hùng cuối cùng của hai bên trước khi chiến tranh kết thúc. Trên võ đài
hai võ sĩ đấu với nhau phải có sự cân xứng thì trận đánh mới phân biệt
cao thấp. Phía Việt Nam Cộng Hòa bị trói chặt tay chân phải lệ thuộc vào
quân viện từ 2,1 tỷ năm 1973 đến năm 1975 chỉ còn 700 triệu nhưng Quốc
hội Hoa Kỳ không chịu tháo khoán. Như vậy làm sao quân đội Việt Nam Cộng
Hòa có thể đánh trận được?
Ngày 10 tháng 3 năm 1975 miền Nam mất Ban Mê Thuộc. Quân Đoàn II bị áp
lực của cộng sản. Tổng Thống Thiệu ra lệnh triệt thoái khỏi cao nguyên.
Phía Bắc lính Bắc Việt vượt sông Bến Hải trắng trợn xâm lăng miền Nam.
Ngày 23 tháng 3 mất Huế rồi Đà Nẵng. Trong khi đó Mỹ không có một hành
động can thiệp nào nhưng Tổng thống Mỹ vẫn cam kết với Tổng thống Thiệu
luôn đứng sau lưng Việt Nam Cộng Hòa. Ban đêm nghe đài phát thanh BBC
tường thuật các thành phố miền Trung bỏ ngỏ trước khi quân Bắc Việt tiến
vào. Ngày hôm sau hoặc ngày kế tiếp đài phát thanh bên ta mới cho biết
tình hình chiến sự. Quân trang quân dụng của ta bị quân địch chiếm dụng
và tiếp tục đánh mạnh thêm. Quân lính Việt Nam Cộng Hòa bị bắt làm tù
binh lên đến mấy chục ngàn người.
Ngày 27 tháng 4 năm 1975 thành phố Sài Gòn bị quân đội cộng sản pháo
kích. Ba loạt hỏa tiển rơi vào trung tâm Sài Gòn báo cho biết quân đội
Bắc Việt đang tiến gần đến thủ đô. Trung tuần tháng 4 năm 1975 sứ quán
Mỹ bắt đầu cho người Mỹ và thân nhân của họ rời Việt Nam với một thủ tục
đơn giản, tốc độ ra đi càng nhanh theo đà tiến quân của Việt cộng.
Người Mỹ bắt đầu cho di tản các công dân Mỹ và những người Việt làm cho
các cơ quan Mỹ một cách ồ ạt sau khi ông Vũ Văn Mẫu yêu cầu người Mỹ
phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Làn sóng người Việt
chạy đến các sứ quán ngoại quốc, đến phi trường Tân Sơn Nhất hay các bến
tàu để tìm đường vượt thoát khỏi Việt Nam đã tạo ra cảnh hỗn loạn.
Trong khi đó ngoài mặt trận các sĩ quan và quân lính Việt Nam Công Hòa
vẫn còn chiến đấu ngăn chận quân địch. Họ không hay biết gì về tình hình
thủ đô Sai Gòn đang thay đổi từng giờ.
Ngày 28 tháng 4 năm 1975 Đại tướng Dương Văn Minh nhận lãnh vai trò Tổng
Thống để điều đình với Việt cộng. Tướng Vĩnh Lộc thay thế Đại tướng Cao
Văn Viên. Tướng Lộc kêu gọi binh sĩ phải chiến đấu đến cùng và không
được bỏ chạy như một số tướng tá đã làm. Nhưng cuối cùng ông cũng phải
tìm đường thoát thân trước với những phương tiện có sẵn trong tay.
Sáng ngày 29 tháng 4 một số lớn cứ điểm phòng thủ trong vòng đai Sài Gòn
đã bị quân Bắc Việt phá vỡ. Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích nặng
nề và một số phi cơ bị hư hại khiến cho cuộc di tản trở nên khó khăn.
Một số phi cơ đi yễm trợ các đơn vị bạn khi trở về không thể hạ cánh ở
phi trường nên đành phải bay qua Thái Lan hay ra hạm đội 7 của Mỹ đang
chờ ngoài bờ biển Việt Nam. Họ ra đi một cách bất ngờ không có dự tính
trước.
8 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi
nóc nhà tòa đại sứ Mỹ. Ông Graham Martin Đại sứ Mỹ là người rời sứ quán
sau cùng. 10 giờ 45 phút chiến xa T54 mang số hiệu 843 tiến vào cổng
phụ của dinh Độc Lập và dừng lại đây, cùng trong lúc đó một chiếc T54
khác mang số 390 húc vào cổng chính của Dinh Độc Lập và chạy thẳng vào
phủ Tổng Thống. Cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã được treo lên nóc
Dinh Độc Lập. Kể từ giây phút đó chế độ Việt Nam Công Hòa không còn
nữa.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 trong lòng mỗi người Việt Nam mang một nghĩa
khác nhau. Người Việt tị nạn Cộng sản gọi Ngày Quốc Hận, Ngày Quốc Nhục
hay Tháng Tư Đen. Riêng cán binh Cộng sản thì họ ăn mừng ngày chiến
thắng. Đặc biệt có một nhà văn nữ miền Bắc sau ngày 30 tháng 4 năm 1975
khi bà vào tham quan thành phố Sai Gòn đã phát biểu: “Sau ngày 30 tháng 4
người miền Bắc tràn vào Sài Gòn và vui mừng như điên dại. Chỉ riêng Bà
như một con điên. Bởi vì mọi người đang vui mừng thì bà lại khóc như Bố
chết.” Bà giải thích tại sao bà khóc, vì bà cảm thấy cuộc chiến tranh
nầy là một trò đùa rất ngu xuẩn của lịch sử. Tất cả năng lực của một dân
tộc bị dồn vào cuộc chiến phi lí. Bà còn nói thêm “Bên quân thắng trận
lại thuộc một thể chế man rợ hơn bên người thua trận. Bà cảm thấy tuổi
trẻ của bà đã mất đi một cách oan uổng, đồng thời mang theo một nỗi
hoang mang và cay đắng.” Bà còn chiêm nghiệm thêm không phải bao giờ
cái đẹp (cái thiện) cũng chiến thắng cái xấu. Có khi nó còn bị tan nát,
vùi dập. Nền văn minh phải chịu thua đôi khi phải qui hàng những thứ man
rợ rừng rú!
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 người dân miền Nam phải chịu những nỗi nhọc
nhằn. Tủi nhục nhất là những người đã làm việc cho chế độ VNCH bị những
người chủ mới phân biệt đối xử. Bị gọi là bọn ngụy quân, ngụy quyền làm
tay sai cho đế quốc Mỹ..., và còn nhiều tên gọi rất khó nghe. Người dân
miền Nam không sợ mấy ông cách mạng (cán binh cộng sản được gọi cách
mạng) bằng bọn 30/4 là những người cơ hội chủ nghĩa làm cách mạng một
ngày 30. Chính thành phần nầy thừa dịp trắng đen lẫn lộn, ám hại người
ngay để trả thù riêng. Còn biết bao nhiêu việc làm sai lầm khác mà người
Cộng sản đang áp đặt cho người dân từ mấy chục năm nay.
Mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 cá nhân tôi cũng như các anh em
đồng đội khác xin thắp nén nhang thơm để tưởng nhớ năm vị tướng lãnh anh
hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang tuẫn tiết, xứng danh
“Sanh Vi Tướng Tử Vi Thần”. Ngoài 5 vị tướng lãnh còn có những binh si,
sĩ quan khác đã tự sát trong ngày 30 tháng 4 năm 1975. Việc làm của các
Anh đã rửa mặt cho anh em chúng tôi. Ai là Ngụy Quân xin để lịch sử ngàn
sau phán xét. Không phải chờ lâu thêm nữa, ngay bây giờ người dân Việt
Nam đã thấy rõ Cộng sản là thứ Ngụy cực kỳ tàn ác, man rợ hơn dã thú.
6 Comments
-

Quỷ Đỏ Bán Nước • 6 hours ago -

Bá Năm trầu • 6 hours ago -

CÙI BẮP GẶM DỞ • 3 hours ago


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét