April 25, 2013

Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.
NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH
Trong
cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế
với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt
và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã
rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những
người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ
thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh
sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn
vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân,
không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người
lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt
ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Ðó là
NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình
trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị
hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào
ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài
được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh
Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai
oán.
Những
người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong
những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy
nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng
gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm
bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với
vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một
dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy
khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.
Cả gia
đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh
mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở,
không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm
365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc
chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ
yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác
vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức
nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và
con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị
cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn
ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.
CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG
Người
vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc
nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt
Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt
Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng
những bữa ăn.
Thứ
hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì
những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường
ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết
dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại
súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé
của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm
gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch
sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình
này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm
2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị
diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính
nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của
quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị
áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính
cộng.
Ðây là
một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm
hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa
Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực
lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia
đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta
bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn
luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những
“người giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng
ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải
cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ
ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác
rất đốn mạt của cộng sản nữa không.
Ðúng 2
giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích,
đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng
điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một
thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười
lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục
được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.
Trên
lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người
lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi
thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng
quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá
cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn,
cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ
chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24
chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không,
không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn
tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của
các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn
Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến
đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải
chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.
Ðồn
Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một
Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn
Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm
thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay
súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được
chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ
khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.
Trong
nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em
bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem
tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính
cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao
có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục
ngoài chiến hào.
Khi
chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì
tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến
sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm
thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy
về Tiểu Khu.
Anh
Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội
đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối,
chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn
Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ
anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của
địch.
Nhìn
ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con
quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và
16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai
đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần,
các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng
anh Hùng. Chị Thàng thì thào:
-
Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất
là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào
thì… thì… em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh
Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng
súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở
đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng
lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội.
Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết
cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót,
là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:
- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.
Anh
Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn
lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn
sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô
cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào
những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa
những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn.
Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng
tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.
Nước
mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng
súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh
biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm
gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ
còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính
anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ
con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi
thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình
đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.
Cuộc
chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp
kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng
rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn
Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh
giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:
- Hãy
bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn… Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai
đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi,
Việt cộng đông lắm. Bắn đi… bắn…
Sau
tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công
lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi
cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch,
quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen
nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của
chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng
xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng
từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ
dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt
Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì
“Thượng Úy” Việt cộng Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận
thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần
thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng,
chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và
những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.
Khi
ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do
chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung
quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn
có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn
Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết
không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và
bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự
cuối cùng này.
Anh
Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với
nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm
trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải
thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu
chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều,
18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta
bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị
những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ
mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do
giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy
người thương phế binh cộng sản trên đường phố.
Nhưng
đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc
tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân
cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào
mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng
mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng
bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa
con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như
thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái
lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ
không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người
chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa
con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào,
chị rút chốt!
Tiếng
nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được
đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như
ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang
khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng
dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu
sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng
trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những
viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại
kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến
nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng
vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con
của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.
Anh
Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những
người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ
đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và
hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính
trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều
người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi
Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng
chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan
nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn
thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên
vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người
lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù
Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia
đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh
mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là
may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở
về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong
một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía
Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều
ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng
gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép
nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai
nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy
ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn
vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng,
bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên
đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không
phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.
Người
vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng
tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc
hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những
cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng
đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị
Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên
cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến
tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên
chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi
chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống
Cộng sản quốc tế và Cộng sản Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân
tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con
người.
AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN
Quân
cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các
sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí
cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng
góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân
miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người
Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai
phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may
lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn Phỉ Cộng. Có nhiều
trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc,
đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.
Chính
phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những
vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã
được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng
cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào
Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị
nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn
nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến
tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng
triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách
nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư
nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt
cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng
san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân
chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở
và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù
có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương
nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.
Với
bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện
nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người
Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên
thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng
kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc
về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt
khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền
Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần,
lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có
nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha,
chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu
loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị
nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn
dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc
đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc
theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên
hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái
phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng
bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng
thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận
đáy địa ngục.
Tức
nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân
Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku,
Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình
thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp
đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của
người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ
cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến
những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản
đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập
trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương
bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm
viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.
Ngày
đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến
dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những
tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những
cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng
của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây
tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó
thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3
giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa
Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..
Cuộc
tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có
những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838
Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến
sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở
thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền
dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi
người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh
cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở
nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai
không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân
trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh
tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên
nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn
giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc
chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành
những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người
chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.
Anh
chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc,
tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng
cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên
giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị
: Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công
Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên
cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị
giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên
sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc
chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị
trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến với
anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay
không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một
thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một
vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên
Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng
xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay
đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những
cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc
súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại
liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.
Nhưng
chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền
lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị
quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa
tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm
thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì
anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở
thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào
hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với
khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn
nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách
chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái
mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.
Khi
ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường
đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu
rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei
Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và
thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc
nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị
Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng.
Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân
bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính
không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một
vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .
Tấm
gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm
lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc
chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế
hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy
vũ bất năng khuất, mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng, từng một thời
thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam
Cộng Hòa, là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng
đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt,
cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn, và bắn những tràng đại
liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc, vô thần
đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người dân Nước Nam.
Phạm Phong Dinh18/4/2013
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét