E-mail Bản in
Cây đinh lăng vừa dùng làm cảnh, vừa là thứ rau ăn kèm với một số món ăn như: nem cuốn, gỏi, thịt chó... Ngoài ra, cây còn được dùng để làm thuốc.
Ảnh vdn
Đinh lăng, Cây gỏi cá - Polyscias fruticosa (L,) Harms (Tieghempanax fruticosus R Vig.), thuộc họ Nhân sâm - Araliaceae.
Mô tả: Cây nhỏ dạng bụi, cao 1,5-2m. Thân nhẵn, ít phân nhánh, các
nhánh non có nhiều lỗ bì lồi. Lá kép mọc so le, có bẹ, phiến lá xẻ 3 lần
lông chim, mép có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá chét và các đoạn
đều có cuống. Cụm hoa chuỳ ở ngọn, gồm nhiều tán. Hoa nhỏ, màu trắng
xám. Quả hình trứng, dẹt, màu trắng bạc. Cây ra hoa tháng 4-7.
Tính vị, tác dụng: Rễ Đinh lăng có vị ngọt, tính bình; lá vị nhạt,
hơi đắng, tính bình; có tác dụng bổ năm tạng, giải độc, bổ huyết, tăng
sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm. Đinh lăng là thuốc tăng lực. Nó làm tăng
sức chịu đựng của cơ thể đối với các yếu tố bất lợi như kiệt sức, gia
tốc, nóng. Đối với người, Đinh lăng làm cho nhịp tim sớm trở lại bình
thường sau khi chạy dai sức và làm cho cơ thể chịu được nóng. Người bệnh
bị suy mòn uống Đinh lăng chóng phục hồi cơ thể, ăn ngon, ngủ tốt, tăng
cân. Nó cũng làm tử cung co bóp mạnh hơn. Đinh lăng ít độc hơn cả nhân
sâm và khác với Nhân sâm, nó không làm tăng huyết áp.
Công dụng, chỉ định và phối hợp: Đinh lăng dùng làm thuốc bổ, trị suy
nhược cơ thể, tiêu hoá kém, phụ nữ sau khi đẻ ít sữa, sản hậu huyết
xông nhức mỏi. Còn dùng làm thuốc chữa ho, ho ra máu, thông tiểu tiện,
chữa kiết lỵ. Thân và cành dùng chữa phong thấp, đau lưng. Lá dùng chữa
cảm sốt, mụn nhọt sưng tấy, sưng vú. Ở Ấn Độ, người ta cho là cây có
tính làm se, dùng trong điều trị sốt.
Rễ đinh lăng được thu hái ở những cây đã có từ 4 - 5 tuổi trở lên.
Khi đào lấy rễ, rửa sạch, cắt bỏ phần rễ sát với gốc thân, rễ nhỏ thì
dùng cả, nếu rễ to thì dùng phần vỏ rễ. Thái nhỏ, phơi khô chỗ râm mát,
thoáng gió để giữ mùi thơm.

Chú ý: Không được dùng rễ đinh lăng với liều cao, sẽ bị say, có hiện tượng mệt mỏi đối với cơ thể.
Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin giới thiệu một số phương thuốc trị liệu các bệnh chứng trong đó có đinh lăng.
Cách dùng: Thường
sử dụng ở dạng bột, ngày dùng 2g trở lên. Cũng có thể thái miếng phơi
khô, ngày dùng 1-6g dạng thuốc sắc. Từ năm 1976, Học viện quân y phối
hợp với Xí nghiệp dược phẩm 1 Bộ Y tế đã sản xuất viên Đinh lăng 0,15g
với công dụng chữa suy mòn, sút cân, kém ăn kém ngủ, lao động mệt mỏi,
ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 2-3 viên.
Phụ
nữ sau khi sinh uống nước sắc lá Đinh lăng khô, thấy cơ thể nhẹ nhõm,
khoẻ mạnh có nhiều sữa. Lá tươi 50-100g băm nhỏ cùng với bong bóng lợn
trộn với gạo nếp nấu cháo ăn cũng lợi sữa. ỞCampuchia, người ta còn dùng
lá phối hợp với các loại thuốc khác làm bột hạ nhiệt và cũng dùng như
thuốc giảm đau. Lá dùng xông làm ra mồ hôi và chứng chóng mặt. Dùng tươi
giã nát đắp ngoài trị viêm thần kinh và thấp khớp và các vết thương. Lá
nhai nuốt nước với một chút phèn trị hóc xương cá. Vỏ cây nghiền thành
bột làm thuốc uống hạ nhiệt.
Lá đinh lăng chống bệnh co giật cho trẻ em, lấy lá non và lá già phơi khô đem lót vào gối hoặc trải giường cho trẻ nằm để đề phòng bệnh kinh giật.
Thân cành đinh lăng sắc uống chữa được bệnh đau lưng, mỏi gối, tê thấp,
dùng phối hợp với rễ cây xấu hổ, cúc tần, cam thảo dây.
* Chữa vết thương: Lá đinh lăng giã nát đắp nơi bị thương.
* Bồi bổ và khai vị (nhờ công hiệu của rễ đinh lăng tăng cường sinh
lực, sức dẻo dai và khả năng chịu đựng của cơ thể): Chọn dùng một trong
các cách như: Lấy rễ đinh lăng khô thái lát 150g, không sao tẩm, tán
bột, ngâm trong 1.000ml rượu gạo 35 - 40 độ, trong 7 - 10 ngày liền
(hằng ngày lắc đều 1 lần) ngày uống 2 lần vào trước bữa ăn 30 phút, mỗi
lần uống 5 - 10ml.
* Chữa đau lưng mỏi gối (chữa cả tê thấp): Dùng thân cành đinh lăng
20 - 30g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày. Có thể phối hợp cả rễ
cây xấu hổ, cúc tần và cam thảo dây.
* Thông tia sữa tắc: Rễ đinh lăng 30 - 40g, sắc với 500ml nước còn
250ml chia 2 - 3 lần uống nóng trong ngày, uống liền 2 - 3 ngày.
(Theo Bee)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét