Cập nhật: 00:37 GMT - thứ tư, 12 tháng 12, 2012

Mốc thời gian quan trọng: Sài Gòn 30 tháng 4 năm 1975
Khi tin ‘giải phóng
miền Nam’ lan đến một vùng quê Hà Tĩnh, một cậu bé còn chơi
với bạn ở ngoài ruộng và bọn trẻ đã ‘buông nhau ra thôi không
đánh vật’ nữa, nhưng cuộc giằng co chọn lối đúng và sai cho cả
một dân tộc hóa ra mới chỉ bắt đầu và còn chưa kết thúc.
Với cậu bé chăn trâu ngày đó mà nay thành
danh với cái tên blogger Osin, hành trình vào đời và nghiệp
làm báo cũng bắt đầu từ tháng 4/1975 khi sự ‘nhận mặt nhau’
diễn ra có triệu người vui và triệu người buồn của hai miền
Nam Bắc Việt Nam sau cuộc nội chiến quốc tế hóa.
Khi được đọc bản thảo ‘Bên
Thắng Cuộc’ (cả hai tập), tôi băn khoăn không hiểu vì sao Huy Đức
không đặt tựa cho sách là ‘Bên Thắng Trận’ với cả sự oai
hùng, hào khí cách mạng như truyền thông chính thống vẫn nêu?
Có phải trận chiến quân sự và ý thức hệ
dù lớn lao đến đâu cũng chỉ là một cuộc cờ và trận chiến
vì tâm hồn và tương lai Việt Nam vẫn chưa dứt?
Những suy luận đến từ cuốn sách chắc sẽ
còn nhiều, vì chỉ trong vòng vài tuần qua, số bài bình luận
về cuốn ‘Bên Thắng Cuộc’ đã xuất hiện đông đảo với đầy đủ
những lời khen nhưng cũng có một số ý phê bình, đa số tôn
trọng và không gay gắt.
Vì thế nên ở đây, tôi chỉ chia sẻ một số
cảm quan riêng và tập trung vào những gì tôi nghĩ rằng sách đã
gợi mở ra và tạo đà cho những người viết trong và ngoài nước
đi tiếp.
Trước hết, cuốn sách mổ xẻ khá rành
mạch, chi tiết và làm mới lại nhiều giai đoạn lịch sử, biến
cố, sự kiện quan trọng trong một thời kỳ cầm quyền của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ 1975 đến Đổi Mới.
Các đoạn có giá trị nhất, nhiều tư liệu
mới nhất và tổng hợp được cách nhìn của các bên nhất phải
kể đến giai đoạn lực lượng cộng sản Nam và Bắc tiến vào Sài
Gòn, và thời kỳ quân quản rồi thống nhất hai miền.
"Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc"
Sau đó là các diễn biến của thời kỳ
đánh tư sản, tiêu diệt văn hóa, văn nghệ tự do, quy kết loại
trừ tư bản Hoa kiều, cưỡng bức kinh tế mới, cho tới cuộc chiến
với Khmer Đỏ cùng thời gian các nỗ lực duy chí ý nhằm áp
đặt mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa bao cấp trên cả nước, đưa
đến các thảm họa nhân đạo và sự suy sụp kinh tế.
Ở các chương này, ngòi bút Huy Đức tỏa
sáng trong giọng văn âm thầm, cố gắng giữ vẻ bình thản nhưng
bên trong sôi sục, thậm chí có chỗ nghẹn đi vì các biến cố đau
đớn cho hàng triệu người mà anh chứng kiện cận cảnh, nhất là
ở trong tâm thức một người đi bộ đội về và từ Bắc vào sống
trong Nam.
Qua các chương đó, người đọc dù thuộc các
thế hệ sau có thể hình dung ra được khá rành mạch vì sao sự
mê tín với một mô hình độc tôn đã khiến lãnh đạo Đảng cầm
quyền ở Việt Nam liên tiếp sai lầm mà các di chứng vẫn còn
đang là chính sách hiện hành dù đã được bớt liều nhờ tác
động khách quan và sự tự ý thức.
Dòng đời trong lịch sử
Cách viết ‘sử ký’ di chuyển từ bối cảnh
lịch sử chung đến hoạt động của các nhân vật chính đã dựng
lại nhiều hình ảnh sống động nhờ số lượng phong phú các tư
liệu nguồn mà tác giả ghi lại hoặc phỏng vấn trực tiếp với
nhiều nhân chứng, người trong cuộc ở cả các cấp cao.
Cuộc đời riêng, hoạt động và suy nghĩ,
tính toán cá nhân và chính trị của các ông Lê Duẩn, Võ Nguyên
Giáp, Võ Văn Kiệt, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức
Thọ...được tái hiện rõ rệt.
Chuyện tình yêu, hôn nhân, gia đình vợ con
họ được kể lại, ghi lại vừa đủ để phụ thêm cho các hiểu tính
cách, các bước ngoặt trong đời những nhân vật này trong bối
cảnh xã hội, lịch sử mà không sa đà vào chuyện riêng tư.
Chẳng hạn cuộc tình và cuộc đời làm vợ
thứ nhì của ông Lê Duẩn mà bà Nguyễn Thụy Nga phải gánh chịu
cho thấy một giai đoạn mà văn hóa chính trị cộng sản rất hà
khắc, thậm chí tàn khốc với việc riêng của tất cả mọi người,
kể cả những nhân vật cao cấp, ngược hẳn với thời kỳ tung hê,
thả cửa của quan chức hiện nay.
Một cách nhìn khác xuyên qua những tư liệu
quý mà Huy Đức thu lượm và tìm cách kiến giải là dòng ‘sinh
hoạt quân sự’.

Ông Võ Văn Kiệt đến hội nghị sơ kết Thanh niên Xung phong năm 1981 ở Đắc Nông
Lồng vào các chiến dịch tiến vào Sài
Gòn năm 1975, chiến tranh biên giới Tây Nam, xung đột Trung – Việt,
hay đi ngược về thời kỳ kháng Pháp, chiến tranh Mỹ – Việt là
các chân dung sỹ quan, tướng lĩnh, nhân chứng của nhiều phía.
Các trận đánh, các cuộc ra quân, những vụ
thảm sát, tàn phá của quân Pol Pot, quân Trung Quốc được mô tả
bằng ngòi bút của người làm báo, viết phóng sự nên sống động
hơn nhiều so với các cuốn tiếng Việt từ trước tới nay về
cùng chủ đề mà tôi được đọc.
Các vụ ‘thâm cung bí sử’ trong chính
trường Việt Nam, nhất là giới tướng lĩnh như cái chết của các
tướng Nguyễn Chí Thanh thời chiến tranh, rồi những chuyện đột
tử của các tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện
sau này cùng một âm mưu bao vây, hạ thấp tướng Võ Nguyên Giáp
được mô tả thật sinh động.
Cuộc đời và các suy tư của ông Võ Văn
Kiệt mà tác giả có thời gian gặp gỡ nhiều cũng được trình
bày lại khá đầy đủ, cho người đọc cơ hội thấy được chân dung
một nhân vật cộng sản miền Nam luôn trăn trở để càng về cuối
đời lại càng về gần với tinh thần dân tộc.
Nhân chứng và tư liệu
Đã có người khác đã bình luận về phương
pháp viết của Huy Đức, gồm cả phần được và phần thiếu sót
nên ở đây, tôi chỉ muốn chú ý đến cách sử dụng tư liệu của
tác giả để tạo dựng bối cảnh quốc tế hoặc khu vực cho phần
nội dung Việt Nam của anh.
Giai đoạn viết về cuộc cách mạng dân chủ Đông Âu và Liên Xô sụp đổ không phải là phần mạnh nhất của tác giả.

Nhà báo Huy Đức và TBT Lê Khả Phiêu: bản thân tác giả là nhân chứng của nhiều sự kiện lịch sử
Huy Đức chủ yếu sử dụng lời kể của tiến
sỹ Lê Đăng Doanh về chuyến đi của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
sang Đông Đức, cuộc gặp Erich Honecker, Mikhail Gorbachev và Nicolai
Ceaucescu và tư liệu của Bùi Tín đã xuất bản khá lâu để dựng
lại ‘cú sốc thể chế’ mà perestroika và glasnost gây ra cho ban
lãnh đạo Hà Nội.
Sang để 'chấn chỉnh' lãnh tụ phe cộng sản
quốc tế Gorbachev về đường lối xét lại, ông Linh đã cảm lạnh,
sốt và ốm (theo cả nghĩa đen và bóng?) khi gặp sự hắt hủi,
coi thường của 'đồng chí đàn anh' - dấu hiệu Hà Nội bị Đông Âu
bỏ rơi nên dần tìm sang ngả Trung Quốc.
Nhưng cũng vì dựa trên các trích dẫn đó
là chính, nhiều lý giải về Đông Âu trong sách không theo kịp
các tác phẩm xuất bản tại khu vực này hoặc sách của các tác
giả Phương Tây trong 10 năm qua.
"Khi được đọc bản thảo ‘Bên Thắng Cuộc’, tôi băn khoăn không hiểu vì sao Huy Đức không đặt tựa cho sách là ‘Bên Thắng Trận’ với cả sự oai hùng, hào khí cách mạng? "
Nguyễn Giang
Về sự dính líu và cuộc tháo chạy của
người Mỹ khỏi Đông Dương, quan hệ Mỹ – Trung về Campuchia cuốn
sách cũng dùng quá nhiều luận điểm của nhân vật nổi tiếng
thiên kiến và thiên hữu, ông Henry Kissinger trong cuốn ‘Ending the
Vietnam War’ (2003), thiếu hẳn các cuốn mới hơn về Trung Quốc như
‘Inside Ten Episodes of China’s Diplomacy’ (2006) của Tiền Kỳ Tham.
Các đoạn về quan hệ Trung Xô hoặc Trung Mỹ
hay vai trò chỉ đạo của Moscow với Hà Nội trong nhiều thập
niên cũng thiếu nhiều phần đối chiếu từ các sách mới mà giới
nghiên cứu Âu Mỹ liên tiếp đưa gia thời gian qua như cuốn
‘Revolution 1989: The Fall of the Soviet Empire’ của Victor Sebestyen
(2009) hay ‘Russian’s Cold War’ của Jonathan Haslam (2012).
Nói như thế không phải là để phê phán
cuốn sách đầy đủ nhất từ trước tới nay về chính trị Việt Nam
mà để bạn đọc Việt Nam tin tưởng rằng chủ đề ‘hệ thống cộng
sản’ vẫn được giới khoa bảng quốc tế theo đuổi, cập nhật, và
trong dòng sách này Bên Thắng Cuộc chắc chắn là một hồ sơ
quan trọng nếu được dịch ra ngoại ngữ.
Phần trong nước, tác giả cũng sử dụng
khá nhiều các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam để ghi nhận
các bước tiến và lùi trong chính sách.
Nhưng vì ở Việt Nam luôn có khoảng cách
khá lớn giữa ngôn từ văn bản với chính sách áp dụng thực và
kết quả cuối cùng nên cách làm này dù cần thiết cho giới cần
tra cứu, lại dễ khiến bạn đọc bình thường có cảm giác bội
thực của một thời phải ăn độn bo bo.
Trái lại, khi đi xa văn kiện, ngòi bút báo
chí tinh tế đã giúp tác giả giải mã được chiến lược ‘pháo
đài huyện’ mà các con đẻ của nó vẫn đang lãnh đạo đất nước
ngày hôm nay.

Xé rào: ông Trường Chinh thăm nhà máy bột giặt Viso năm 1983
Nào ai nghĩ chính phong trào ông Lê Duẩn
tung ra nhằm gây dựng cán bộ trẻ từ huyện để đẩy thẳng lên
trung ương hồi đó, theo Huy Đức, đã tạo đà cho ông Nguyễn Tấn
Dũng từ huyện Cà Mau, tỉnh Minh Hải hay bà Trương Mỹ Hoa từ
huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang và một số nhân vật khác lên cao.
Chính cách để các nhân vật thật tái hiện
trong ánh sáng mới của lịch sử và tư liệu khiến 'Bên Thắng
Cuộc' không nằm vào dạng tác phẩm nghiên cứu academic mà giống
ký sự hay non-fiction biographic history tựa như của Simon Sebag
Montefiore trong ‘Stalin: The Court of the Red Tsa’ hay ‘Jerusalem: The
Biography’.
‘Bên Thắng Cuộc’ còn nhiều phần phát hiện
thú vị khác về ‘người trong cuộc’ mà tôi tin là bạn đọc sẽ
đánh giá cao, và nếu những gì tác giả viết ra có gây dư luận
khen chê hay tạo ra tranh luận thì cũng là điều tốt vì đã lâu
người đọc tiếng Việt chưa có trong tay một bộ sách đầy đủ,
chân thực và nhiều tính gợi mở như thế về đất nước họ.
Và nếu vì đọc ‘Bên Thắng Cuộc’ mà có
các tác giả khác nung nấu muốn viết thêm, viết lại, viết tiếp
về chủ đề Việt Nam thì hẳn cũng là một thành công ‘ý tại
ngôn ngoại’ cho tác giả.
Nguyễn Giang
Nguyễn Giang

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét