Trong bài ĐA ĐẢNG VÀ CHÍNH ĐẢNG ĐỐI LẬP CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC, viết không lâu trước đây, chúng tôi đã có dịp đề cập đến định chế đa đảng và thành phần thiểu số đối lập được Hiến Pháp 1949 dành cho " thực quyền kiểm soát, định hướng, cắt tỉa, hảm thắng " những cách hành xử quá lố, vi hiến, phản nhân bản và dân chủ của giới đa số đương quyền trong Quốc Hội, cũng như nơi Chính Quyền.
Đọc thoáng qua Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức ( CHLBD), những người ngoại cuộc như chúng ta khó mà cảm nhận được những điều vừa nói. Nhưng lần mò theo các nguyên tắc của Hiến Pháp, nguyên tắc
- tôn trọng và bảo vệ phẩm giá và các quyền bất khả của con người,
- dân chủ tự do, với quyền bình đẳng,
- quốc gia pháp trị
- và nguyên tắc liên quan đến cơ chế Liên Bang của đất nước,
chúng ta có thể xác định được định chế CHLBD là một định chế Dân Chủ Đa Nguyên và các chính đảng được bao đảm có tiếng nói và thực quyền đối lập, vì lợi ích của Đất Nước, chống lại một cách hữu hiệu mọi cách hành xử sai trái của giới đương quyền, nhứt là hành xử " trung ương tập quyền" và "thiên vị bè phái ".
Những gì vừa kể, chúng tôi đã có dịp đề cập đến trong bài viết được ở trên, cũng như bài QUỐC HỘI LƯỠNG VIỆN CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC: TIẾN TRÌNH LẬP PHÁP, mới đây.
Dân Chủ Đa Nguyên và các Chính Đảng Đối Lập được định chế CHLBD bảo đảm cho tự do thành lập, hiện hữu và có thực quyền hoạt động hiệu năng.
Nhưng " Dân Chủ Đa Nguyên " không phải muốn hiểu là " Dân Chủ " cách nào cũng được, " nguyên nào" cũng được.
" Dân Chủ Đa Nguyên " ai muốn làm gì thì làm và "Chính Đảng Đối Lập", ai muốn chống đối sao thì chống đối cho khoái khẩu, khoái tay!
Đó là những gì chúng tôi muốn tìm hiểu để xác định, ở những dòng dưới đây, với tầm mắt hướng về tương lai Đất Nước, một khi ý thức hệ phi nhân và chế độ độc tài, độc đảng không còn cởi lên đầu lên cổ dân chúng Việt Nam nữa.
A - Dân Chủ Đa Nguyên và Đối Lập Hiến Định.
Như đã nói, đọc Hiến Pháp 1949 CHLBD, chúng ta không hề thấy được Hiến Pháp minh nhiên đề cập đến định chế đa nguyên, đa đảng trong cơ chế Quốc Gia.
Tư tưởng đó được hàm chứa trong nguyên tắc dân chủ tự do và định chế bảo vệ các quyền căn bản của con người, quyền lập hội và gia nhập hội:
- " Mọi người Đức đều có quyền thành lập hội và hiệp hội " ( Điều 9, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Cũng vậy, trong lãnh vực chính trị, Hiến Pháp không những không cấm đoán, mà còn khuyến khích người dân gia nhập chính đảng để cộng tác kiến trúc đường lối chính trị Quốc Gia:
- " Các chính đảng hợp tác tạo ra đường lối chính trị của dân chúng" ( Điều 21, đoạn 1, id.).
" Mọi người Đức đều có quyền thành lập hội..." và " Các chính đảng họp tác tạo ra đường lối chính trị của dân chúng" là những câu nói hàm chứa định chế CHLBD là định chế có nhiều hội, hiệp hội và chính đảng.
Nói cách khác, là định chế Dân Chủ Đa Nguyên, dân chủ được phát xuất từ nhiểu ý kiến, khuynh hướng khác nhau.
Nhưng nói như vậy, định chế dân chủ CHLBD không phải là định chế " dân chủ hổn loạn", ai muốn " dân chủ thế nào thì dân chủ ", ai muốn nghĩ sao, nói sao và làm gì cũng được.
Bởi lẽ đã gọi là " Dân Chủ Đa Nguyên", dân chủ được phát xuất từ nhiều nguồn gốc dân chủ khác nhau, thì điều kiện tiên khởi không thể thiếu " sine qua non " phải là " Dân Chủ " trước đã, trước khi bàn đến Đa Nguyên ( Kaack H, Parteien in der Verfassungswirklichkeit der Bundesrepublik, 2°ed., Bonn, 1964).
Nếu không có đặc tính " Dân Chủ " tiên quyết, " Đa Nguyên " tự nó sẽ là nồi canh thập cẩm, hổn loạn.
Đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc bắt buộc như là điều kiện không thể thiếu:
- " Mọi công dân đều có quyền tham gia vào các chính đảng, để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ xác định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Và Hiến Pháp 1949 CHLBD còn đòi buộc chính xác hơn, không những trong mọi hành động các chính đảng phải " cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ xác định đường lối chính trị Quốc Gia", mà còn ngay trong tổ chức nội bộ của chính đảng, phải được tổ chức theo phương thức dân chủ:
- "... Việc thành lập chính đảng là điều tự do, định thế nội tại của chính đảng phải hợp với các nguyên tắc dân chủ..." ( Điều 21, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Qua những trích dẫn, chúng ta thấy được Dân Chủ Đa Nguyên không phải là nguyên nào cũng được; muốn được chấp nhận và không vi hiến, " nguyên " đó phải có những đặc tính dân chủ.
Nguyên dân chủ đó phải được thể hiện từ trong tổ chức nội tại của chính đảng, từ nội quy ( Điều 21, đoạn 1 HIến Pháp 1949 CHLBD), trước khi thể hiện bằng động tác ra bên ngoài " để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, xác định đường lối chính trị Quốc Gia " ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Và đó là những gì không thể thiếu trong các hoạt động của chính đảng, bị Hiến Pháp 1949 CHLBD khắc khe đòi buộc, nếu không tuân giữ có thể bị khai trừ và đặt ra ngoài vòng pháp luật:
- " Các chính đảng có mục đích hay thái độ hành xử của các thành viên thuộc hệ nhằm phá hủy và loại trừ định chế nền tảng dân chủ và tự do hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến" ( Điều 21, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Cũng vậy ở phần đầu của Hiến Pháp, phần tuyên bố các quyền bất khả xâm phạm của con người ( điều 1- 19), Hiến Pháp không ngần ngại lên án bất cứ ai ( cá nhân hay đoàn thể, dân chúng hay Chính Quyền) có cách hành xử vi phạm các nguyên tắc nhân bản:
- " Ai lạm dụng quyền tự do phổ biến tư tưởng, nhứt là tự do báo chí ( điều 5, đoạn 1), tự do giảng dạy ( điều 5, đoạn 3), tự do hội họp ( điều 8), tự do lập hội và gia nhập hội ( điều 9), tự do thư tín, bưu điện, viễn thông ( điều 10), tự do tư hữu ( điều 14) hay quyền tỵ nạn ( điều 16, đoạn 2), để đả phá định chế nền tảng dân chủ và tự do, sẽ mất đi các quyền căn bản đó. Việc mất mác và trương độ của việc thất mất đó sẽ được Viện Bảo Hiến phán quyết " ( Điều 18, id.).
Như vậy, " Dân Chủ Đa Nguyên", đa đảng, không phải ai muốn làm gì thì làm, ai muốn lạm dụng tự do nào cũng được, biến Quốc Gia dân chủ thành một rừng rú hoang dại, mà là mọi cơ chế quốc gia, cũng như tổ chức chính đảng phải được tổ chức nội bộ và hoạt động hành xử theo phương thức dân chủ hiến định.( Seifert K.H., Die politischen Parteien im Recht der Budesrepublik Deutschland, Koeln-Berlin Bonn-Muenchen 1975).
Bởi đó, ngoài cách tổ chức nội bộ chính đảng phải được tổ chức theo phương thức dân chủ, chúng ta mới đề cập đến ở trên ( Điều 21, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD), Hiến Pháp còn tiền liệu cách hành xử dân chủ của cơ chế Quốc Gia:
- " Mọi quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng. Dân chúng hành xử quyền lực đó qua các cuộc bỏ phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ chế chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Cùng một tư tưởng đó, nhưng để nói lên đặc tính hiến định của các tổ chức và cơ chế Quốc Gia, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc tuyên bố:
- " Quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân. Dân chúng hành xử quyền tối thượng đó trong hình thức và trong giới mức của Hiến Pháp" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Nói tóm lại, dù là " Dân Chủ Đa Nguyên", đa đảng, phát xuất từ nhiều nguồn gốc một cách tự do, các tư tưởng và phương thức thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia khác nhau, nhưng bất cứ từ nguyên nào, từ nguồn gốc nào, cá nhân hay tập thể, kể cả cơ quan công quyền đều phải hành xử theo định chế Nhân Bản và Dân Chủ được Hiến Pháp chỉ định, nếu không muốn bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, là chủ thể phạm pháp, bị pháp luật trừng trị, vì :
- " ...nhằm phá hủy và loại trừ định chế nền tảng dân chủ và tự do hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng bất hợp hiến" ( Điều 21, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Định chế Nhân Bản và Dân Chủ đó, không những không ai được vi phạm, mà cũng không ai có quyền tu chính, cắt xén, sữa đổi, ngay cả với sự đồng thuận của 2/3 Thượng Viện và 2/3 Hạ Viện Liên Bang:
- " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến thể thức liên hệ giữa Liên Bang và các Tiểu Bang, đến việc tham gia của các Tiểu Bang vào tiến trình lập pháp, hoặc đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
( Điều 1, nói lên phẩm giá bất khả xâm phạm của con người; điều 20, định nghĩa thể chế CHLBD là một Quốc Gia Liên Bang, Dân Chủ và Xã Hội).
Bởi vì đó là những giá trị tối thượng, bất di dịch của cuộc sống xã hội con người, thay đổi hay xoá bỏ đi những giá trị đó, không tôn trọng Nhân Bản và Dân Chủ, chúng ta có thể biến đổi cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm con người thành lối sống mọi rợ, hành xử quyền lực tùy hỷ:
- " trấn nước mụ Úa, vì con mẻ cứ lải nhải đòi nhà-đất lại ",
- xử " bịt miệng Cha Lý " vì ổng cứ đòi " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến Xã Hội ".
Định chế Nhân Bản và Dân Chủ là giá trị nền tảng của cuộc sống văn minh con người:
- " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó"
- " Như vậy, dân tộc Đức nhận biết các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, như là nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công chính trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Như vậy, " Dân Chủ Đa Nguyên", " Đa Dạng, Đa Đảng ", là những chính kiến, phương thức tổ chức và hoạt động tự do, nhưng vẫn nằm trong
- " phương thức và giới mức của Hiến Pháp" ( điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
- định chế Nhân Bản và Dân Chủ " không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đồi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến ...các nguyên tắc được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Nói tóm lại, thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Cộng Hoà Liên Bang Đức là thể chế " Dân Chủ Đa Nguyên", đa đảng, đa dạng, nhưng là thể chế được tổ chức trong khuôn khổ Nhân Bản và Dân Chủ hiến định, để bảo vệ và phát hy con người bằng định chế dân chủ, không ai có thể cắt xén, sữa đổi hoặc xoá boả đi, nếu không muốn cho cuộc sống của xã hội mình biến thành cuộc sống mọi rợ, không hơn gì thú vật, " cá lớn nuốt cá bé, người đánh đập người ".
B - Đối lập trong lằn mức và để xây dựng.
Qua những gì vừa nói, chúng ta thấy được phương thức tổ chức Quốc Gia của CHLBD là phương thức " Dân Chủ Đa Nguyên", đa đảng, đa dạng. Trong tổ chức Quốc Gia có nhiều chính đảng khác nhau, tiếng nói của nhiều khuynh hướng và từng lớp dân chúng khác nhau, nói lên lý tưởng và nhu cầu, đường hướng chính trị cần phải có để tổ chức Quốc Gia.
Các chính đảng trong một Quốc Gia, sau mỗi cuộc bầu cử, sẽ được sắp xếp thành hai nhóm, nhóm đa số đương quyền và nhóm thiểu số đối lập.
Nhưng dù là đa số đương quyền trong Hạ Viện Liên Bang ( Bundestag), cũng như đa số đương quyền trong Chính Phủ Liên Bang, thành phần đa số trong Viện Quốc Hội ( Hạ Viện Liên Bang) không thể cùng toa rập, cấu kết với đa số trong Chính Quyền để " lập pháp " và " hành pháp", soạn thảo ra luật, " chuẩn y " luật và áp dụng " thi hành luật " cách nào tùy hỷ.
Bởi lẽ Hiến Pháp 1949 bảo đảm cho thành phần thiểu số đối lập có thực quyền, để " cắt tỉa, sữa đỗi, định hướng, hảm thắng" những gì giới đa số đương quyền trong Viện Quốc Hội và trong Chính Quyền " lập pháp " và " hành pháp " quá lố:
- " Viện Bảo Hiến Liên Bang quyết định, trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến hay nghi vấn về vấn đề thích hợp thuyết lý hay thực hữu của một đạo luật Liên Bang ( Bund) hay một đạo luật của các Tiểu Bang ( Laender) với Hiến Pháp nầy, hay sự thích hợp của một đạo luật của các Tiểu Bang với một đạo luật Liên Bang, theo lời yêu cầu của Chính Quyền Liên Bang, Chính Quyền của một Tiểu Bang hay của 1/3 thành viên Hạ Viện Liên Bang" ( Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Điều kiện vừa kể của Hiến Pháp đưa ra không có gì khó thực hiện, nếu chúng ta lưu ý đến cấu trúc Liên Bang của CHLBD.
Thành phần đa số đương quyền đang là thành phần đa số ở Hạ Viện Liên Bang, ở Chính Quyền Liên Bang trung ương, nhưng không ai có thể tưởng tượng được thành phần đa số đó cũng là đa số chiếm quyền ở tất cả các Tiểu Bang.
Thành phần thiểu số đối lập có thể đang chiếm được và hành quyền ở một vài Tiểu Bang nào đó ( Hereth M., Die parlamentarische Opposition in der Bundesrepublik Deutschland, Muenchen - Wien, 1969, 212).
Bởi đó Hiến Pháp ra điều kiện, "...theo lời yêu cầu ...Chính Quyền của một Tiểu Bang...", là điều kiện không có gì khó thực hiện.
Chỉ cần " theo lời yêu cầu Chính Quyền của một Tiểu Bang ", của 1 trong 16 Tiểu Bang yêu cầu, là đạo luật được Hạ Viện Liên Bang chuẩn y ( có lẽ do chính Chính Quyền Liên Bang đề thảo dự án luật), sẽ được đưa ra trước Viện bảo Hiến " đứng giữa và đứng trên" ( in medio et super partes) phán quyết tính cách hợp hiến hay vi hiến của đạo luật và từ đó có hiệu lực luật định hay không.
Cũng vậy, đa số đương quyền có thể chiếm đa số ở Hạ Viện Liên Bang.
Nhưng không chắc gì số nghị sĩ của khối đa số đạt đến 2/3 tổng số dân biểu trong Hạ Viện. Bởi đó Hiến Pháp xác định " ...theo lời yêu cầu của...1/3 thành viên Hạ Viện Liên Bang " là đạo luật đuợc chuyển đến Viện Bảo Hiến phán quyết là điều kiện rất khả thi ( Hereht M.,id.)
Nói tóm lại, qua hai trường hợp trich dẫn, thành phần đối lập ở điạ phương ( Chính Quyền của một Tiểu Bang) hay ở Liên Bang ( 1/3 thành viên Hạ Viện Liên Bang) đều được Hiến Pháp ủy thác cho thực quyền đối lập, để " cắt tỉa, sữa đổi, định hướng, hảm thắng " mọi cách " làm luật " và " thi hành luật " sai trái, không thích hợp, quá lố của Hạ Viện và Chính Quyền Liên Bang ở trung ương.
Nhưng dành cho thực quyền đối lập đó trong tay, Hiến Pháp không có mục đích dành cho các chính đảng đối lập quyền để họ hành xử cho lợi ích riêng tư, phe nhóm.
Bởi lẽ vị dân biểu ở Hạ Viện Liên Bang cũng như vị thượng nghị sĩ ở Thượng Viện là những người đại diện cho cả Đất Nước, chớ không phải chỉ cho đảng phái, phe nhóm của mình:
- " ...Các dân biểu Hạ Viện là những vị đại diện cho cả dân tộc, họ không bị bó buộc bởi mệnh lệnh hay chỉ thị và chỉ tùy thuộc vào lương tâm của mình" ( Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Các vị dân biểu, thuộc thành phần đa số đương quyền hay thuộc thành phần thiểu số đối lập trong Quốc Hội, họ cũng là đại diện cho cả dân tộc, nên các hoạt động của họ, ủng hộ hay đối lập, đều nhằm đem lại lợi ích cho Đất Nước.
Hành động của họ là hành động nhằm " cộng tác thiết định ý muốn chính trị của dân chúng " ( Điều 21, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD), chớ không phải nhằm đập đổ cho thoả thích cá nhân hay phục vụ bè phái như các thành viên Đức Quốc Xã và Cộng Sản trong thời Hiến Pháp Weimar 1919 ( Mezzetti L., Giustizia costituzionale e opposizione parlamentare. Modelli europei a confronto, Rimini 1992, 312).
Đành rằng với lý tưởng cao cả vừa kể được điều 21 và điều 38, đoạn 1 nêu ra, " ...đại diện cho cả dân chúng..., cộng tác thiết định ý muốn chính trị của dân chúng", nhưng các vị soạn thảo Hiến Pháp 1949 CHLBD cũng chưa ngủ yên, qua kinh nghiệm những hành động chỉ nhằm đạp đổ của Đức Quốc Xã và Cộng Sản.
Bởi đó các vị còn tiền liệu những điều khoản đề bắt buộc hành động đối lập không phải chỉ là đả phá, đập đổ, mà còn phải có ý thức và chừng mực cân nhắc các động tác của mình, để đem lại lợi ích cho Quốc Gia.
a) Chọn Thủ Tướng mới.
Trước hết sau khi cuộc bầu cử kết thúc và có kết quả, Hạ Viện Liên Bang, phe đa số cũng như thành phần thiểu số, phải đàm phán thoả thuận nhau để tuyển chọn một vị Thủ Tướng Liên Bang ( Kanzler) thành lập Chính Phủ:
- " Thủ Tướng Liên Bang được Hạ Viện Liên Bang tuyển chọn, không cần tranh cải, theo lời đề nghị của Tổng Thống Liên Bang" ( Điều 63, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
"Nếu người được đề cử không được chấp nhận, Hạ Viện có thể trong vòng 14 ngày kế tiếp trong một cuộc bỏ phiếu khác, tuyển chọn một Thủ Tướng Liên Bang ( Kanzler) với đa số thành viên của mình".
Nếu trong vòng thời gian vừa kể không có tổ chức một cuộc bỏ phiếu nào, cần phải tổ chức ngay một cuộc bỏ phiếu mới, trong đó sẽ được tuyển chọn ai là người được phiếu nhiều nhứt. Nếu người được tuyển chọn là người thu thập được đa số phiếu cácc thành viên Hạ Viện, Tổng Thống Liên Bang phải bổ nhiệm người đó trong vòng 7 ngày sau cuộc bỏ phiếu. Nếu người được tuyển chọn không hội đủ đa số phiếu, trong vòng 7 ngày, Tổng Thống Liên Bang có thể bổ nhiệm người đó hoặc giải tán Hạ Viện" ( Điều 63, đoạn 1, 3 và 4 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Điều vừa kể cho thấy các dân biểu có quyền đưa ra ý kiến của mình, dân biểu thuộc thành phần đa số hay thuộc thiểu số đối lập cũng vậy. Mọi dân biểu đều có thực quyền nói lên tiếng nói của mình, của chính đảng mình thuộc hệ, của dân chúng thuộc chính đảng mình đã đứng ra bỏ phiếu cho mình trở thành dân biểu Quốc Hội.
Nhưng thực quyền nói lên lập trường, chính kiến không phải là để đả phá, đạp đổ mà là để
- " cùng nhau cộng tác thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( điều 49,Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)
- hay " hợp tác tạo ra đường lối chính trị của dân chúng" ( Điều 21, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Và dù sao đi nữa, lập trường hay chính kiến của các dân biểu không thể đi ra ngoài hay ngược lại định chế Nhân Bản và Dân Chủ được Hiến Pháp xác quyết:
- " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến ...các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Bởi vì đó là
" ...nền tảng của mọi cộng đồng nhân loại, của hoà bình và công lý trên thế giới" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Thái độ cứ cố chấp tranh cải, sau khi được tuyển chọn thành dân biểu Quốc Hội, đến nỗi sau 14 ngày không đồng thuận được để tuyển chọn cho Quốc Gia một Thủ Tướng thành lập Chính Quyền để điều hành Quốc Gia, khiến cho Quốc Gia ở trong tình trạng vô Chính Phủ, đưa đến hổn loạn và thoái bộ.
Đó là thái độ của Quốc Hội vô trách nhiệm, đa số đương quyền cũng như thiểu số đối lập, và vi hiến ( Giuseppe De Vergottini, Diritto Costituzionale Comparato, Cedam, Padova 1990, 669):
- " Các chính đảng có mục đích hay thái độ của các thành viên thuộc hệ nhằm đả phá và loại trừ định chế nền tảng dân chủ tự do hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến" ( Điều 21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Cách hành xử đả phá vô trách nhiệm, không chừng mực, không đếm xỉa gì đến lợi ích Đất Nước đó, Hiến Pháp không có gì ngần ngại đáp ứng bằng cách đuổi tất cả về vườn,
- " ...Tổng Thống Liên Bang có thể bổ nhiệm người đó, hoặc giải tán Hạ Viện " ( Điều 63, đoạn 4, id.).
b) Bất tín nhiệm xây dựng ( konstruktive Misstraensvotum).
Những gì đề cập là trường hợp Hạ Viện Liên Bang vừa được tuyển cử trong cuộc bỏ phiếu vừa qua.
Nhưng trường hợp bất ổn, tranh cải, phân chia và " đối đầu " ( đúng hơn là " đối lập có trách nhiệm" và chừng mực, tôn trọng lợi ích Quốc Gia) cũng được điều 67 Hiến Pháp 1949 tiền liệu có thể xảy ra trong cuộc sống thường nhật của Quốc Gia sau đó.
Đó là trường hợp được người Đức gọi là " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" ( konstrukitve Misstraeunsvotum).
Đã là thể chế Dân Chủ Đại Nghị Chế, không ai cấm cản được mỗi dân biểu hành xử " ...chỉ tùy theo lương tâm của mình" ( Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD), có thể tín nhiệm hay bất tín nhiệm Chính Phủ đương quyền, qua việc tín nhiệm hay bất tín nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ Liên Bang.
Tuy nhiên động tác tin nhiệm hay bất tín nhiệm, không phải là một trò chơi nhẹ dạ, tùy hứng, chơi cho bỏ ghét, thù giặc, tỵ hiềm cá nhân, mà còn phải cân nhắc đến hậu quả cho Đất Nước, qua lá phiếu " chuẩn y hay bác bỏ " ThủTưóng Chính Phủ của mình.
Để tránh cho Đất Nước rơi vào tình trạng " vô Chính Phủ ", với những hậu quả khó lường, Hiến Pháp 1949 CHLBD đặt điều kiện với các dân biểu Hạ Viện:
- " Hạ Viện chỉ có thể tỏ ra bất tín nhiệm đối với Thủ Tướng Liên Bang trong trường hơp Hạ Viện tuyển chọn được người thay thế ông với đa số thành viên của mình và yêu cầu Tổng Thống thu hồi chức vụ Thủ Tướng Liên Bang đương nhiệm. Tổng Thống phải thoả mãn lời yêu cầu của Hạ Viện và bổ nhiệm người được tuyển chọn" ( Điều 67, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
Đó là " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng ". Hạ Viện có thể bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Lang đương nhiệm, và dĩ nhiên là cả Chính Phủ do ông lãnh đạo, nếu được đa số tuyệt đối thành viên cùng đồng thuận tuyển chọn một người khác thay thế ông.
Nếu không, thì đây là hậu quả của những gì sễ xảy đến cho Hạ Viện, thành phần đa số cũng như thiểu số đối lập:
- " Trong trường hợp Thủ Tướng Liên Bang xin đa số thành viên Hạ Viện Liên Bang chấp nhận tín nhiệm cho ông ( về một dự án hay một tình trạng nào đó) không được sự trả lời đồng thuận, Tổng Thống Liên Bang, theo lời yêu cầu của Thủ Tướng Liên Bang ( đương nhiệm), trong vòng 21 ngày, có thể giải tán Hạ Viện. Nhưng quyền giải tán Hạ Viện sẽ không còn có hiệu lực, nếu Hạ Viện với đa số thành viên mình tuyển chọn được một Thủ Tưóng khác" ( Điều 68, đoạn 1, id.).
Cũng như điều 63 đã được đề cập, điều 67 và 68 Hiến Pháp 1949 CHLBD đang bàn về " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" đặt các dân biểu trước trách nhiệm của mình là những người đại biểu của Đất Nước, chăm lo mưu ích cho Đất Nước, đại biểu của thành phần đa số cũng như của thiểu số đối lập.
Viện Quốc Hội không bảo đảm được cho Đất Nước có luật pháp thoả đáng và những ai điều hành Đất Nước là những người đáng tin cậy và có được điều kiện thuận lợi để quản trị Đất Nước, là Viện Quốc Hội không chu toàn nhiệm vụ của mình, không đáng được tồn tại.
- " ...Tổng Thống Liên Bang, theo lời yêu cầu của Thủ Tướng Liên Bang ( đương nhiệm), trong vòng 21 ngày, có thể giải tán Hạ Viện" ( Điều 68,đoạn 1, id.).
( Pier Giorgio Lucifredi, Appunti di diritto costituzionale comparato, Giuffré, Milano 1992, 76-77).
Điều vừa kể cho thấy động tác đối lập, tranh cải, ở Viện Quốc Hội, không phải tranh cải để mà tranh cải, áp đặt ý kiến cá nhân, phe nhóm của mình vô điều kiện, mà còn là thảo luận, với cặp mắt luôn luôn liếc nhìn lợi ích Quốc Gia, đặt lợi ích chung của Đất Nước lên trên lòng kiêu hảnh, tự cao tự đại và lợi lộc cho bè phái, phe nhóm.
Nói cách khác, thành phần đối lập trong được Hiến Pháp 1949 CHLBD dành cho thực quyền đối lập, " chỉ cần Chính Quyền của một Tiểu Bang hay 1/3 thành viên của Hạ Viện Liên Bang yêu cầu " là đạo luật đưa ra cho Viện Bảo Hiến " đứng giữa và đứng trên" xét xử và phán quyết.
Tuy nhiên " đối lập" không phải là cải lộn cho hả dạ, cải làm nư và cải vô điều kiện, cho trời đất nghiêng ngã, mà là thảo luận trong tinh thần xây dựng,
" cộng tác tạo nên ý muốn chính trị của dân chúng" ( Điều 21, đoạn 1, id.), và trong lằn mức tối hậu được Hiến Pháp tiền liệu qua các điều 63, 67 và 68, chúng ta đã đề cập đến.
Như vậy " Dân Chủ Đa Nguyên: Đối Lập Hiến Định, trong lằn mức và Để Xây Dựng" là cuộc sống Dân Chủ của một Quốc Gia văn minh như Cộng Hoà Liên Bang Đức.
Đó cũng là câu trả lời cho lối lý luận không lý chứng của Cộng Sản :
- " Nước Việt Nam chúng ta đã tan nát vì chiến tranh, chúng ta không thể có " đa nguyên đa đảng ", để tranh cải, cấu xé nhau cho tan nát hơn nữa".
Từ đó, người Cộng Sản đưa đến kết luận là cần phải có một đảng duy nhứt, đảng Cộng Sản, để đoàn kết sức mạnh, xây dựng kiến tạo lại đất nước đổ nát.
Đó chỉ là lối lý luận mỵ dân, để Đảng Cộng Sản được độc đảng, độc tôn, tự tung, tự tác, hành xử trên đầu trên cổ dân, không ai được " cắt tỉa, sữa chữa, định hướng, hảm thắng các cách hành xử quá lố của giới đương quyền".
Sau thế chiến II, Cộng Hoà Liên Bang Đức ( hay Tây Đức lúc đó), năm 1945, cũng bị tàn phá không khác gì Việt Nam với chiến tranh Quốc- Cộng kết thúc năm 1975.
Vậy mà với Hiến Pháp 1949 chứa đựng
- " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sữa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến ...các nguyên tắc nền tảng được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạnn 3, id.)
- và " Dân Chủ Đa Nguyên: Đối Lập Hiến Định, Trong Lằn Mức và Xây Dựng ",
CHLBD hiện trở thành một Quốc Gia phú cường và văn minh nhứt Âu Châu.
Trong khi đó thì Đông Đức, chỉ có khả năng chế tạo ra những chiết xe con cóc Brabandt chạy xịt khói mù mịt, so với các chiếc Mercedes và Volkswagen bớng láng và bền bỉ của Tây Đức, mãi đến lúc bị tan nát không còn phương cứu chữa phải sát nhập vào CHLBD để khỏi chết đói và dân chúng đập phá bức tường Bá Linh chạy sang Tây Đức, để được thở không khí Dân Chủ Đa Nguyên tự do và trong lành.
Cho đến lúc đó Đông Đức vẫn luôn luôn bị nằm dước chế độ độc đảng, độc tôn của Đảng Cộng Sản Đông Đức do Honnecker lãnh đạo.
Dân Chủ Đa Nguyên hay độc đảng lãnh đạo có khả năng đem lại tự do, phú cường và văn minh cho Đất Nước?
Cộng Hoà Liên Bang Đức hay Đông Đức, ai tiến bộ hơn ai?
Hỏi để mọi người chúng ta trả lời.
nguồn : e-mail
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét