Thứ Bảy, 3 tháng 3, 2012

2012 : Điện ảnh Pháp bội thu nhưng vẫn khó xuất khẩu

Thứ sáu 02 Tháng Ba 2012

Nhà sản xuất và các diễn viên chính của phim "The Artist", trong đó có cả diễn viên bốn chân là chó Uggie, trong đêm nhận giải Oscar.
Nhà sản xuất và các diễn viên chính của phim "The Artist", trong đó có cả diễn viên bốn chân là chó Uggie, trong đêm nhận giải Oscar.
REUTERS/Mike Blake
Tuấn Thảo
Tại Pháp, ngày 12/07/1998 được xem như là một sự kiện trọng đại đối với những người mê bóng đá, bởi vì đó là thời điểm mà đội Pháp đã giành được World Cup. Một cách tương tự, giới ghiền xinê xem ngày 26/02/2012 là một ngày lịch sử, vì lần đầu tiên một bộ phim Pháp - The Artist - đoạt 5 giải Oscar của Mỹ, trên tổng số 10 đề cử.
Cho dù sự thành công của The Artist có ngoạn mục cách mấy, nhưng chưa gì đã có nhiều tiếng nói trong giới chuyên nghiệp cho rằng đừng nên mừng quá vội. Điện ảnh Pháp đang ở trong giai đoạn thích nghi với công nghệ mới, cơ cấu phát hành, hệ thống phân phối còn đang cần sửa đổi. Liệu sự thành công của The Artist có thể tạo thêm cơ hội xuất khẩu phim Pháp ra nước ngoài ? Đó là điều mà nhiều người làm việc trong ngành đang rất mong đợi.
Nhìn lại sau các buổi lễ trao giải César (Pháp) rồi Oscar (Mỹ) năm 2012, doanh thu của điện ảnh Pháp đã đạt mức kỷ lục. Với tổng cộng là 215,6 triệu vé được bán ra trong năm 2011, các nhà sản xuất phim cho rằng đây là một con số chưa từng thấy kể từ năm 1967. Theo khảo sát của cơ quan Médiamétrie, trong năm qua, cứ trên 10 người Pháp, là có 7 người thường đi xem phim tại các rạp hát (con số chính xác là 67,5%).
Đối với những bộ phim cỡ nhỏ và trung bình, tức là chi phí sản xuất được ước tính từ một triệu đến 5 triệu euro, chỉ cần thu hút từ 500 ngàn cho đến 3 triệu lượt người xem, thì coi như là có lời. Những bộ phim lớn, với kinh phí sản xuất cao hơn, thì phải thu hút từ 4 hay 5 triệu lượt khán giả trở lên, mới mong thu hồi vốn. Về điểm này, bộ phim Les Intouchables đã lập kỷ lục với hơn 19 triệu vé bán ra, phí tổn sản xuất chỉ có 10 triệu euro, mà lại thu về lợi nhuận đến gấp 6 lần. Bộ phim này vẫn còn đang chiếu ở rạp, và sẽ càng có nhiều lời hơn khi được khai thác qua đĩa hình DVD, và xem video theo yêu cầu (VOD - pay per view ) qua dạng đặt mua trực tuyến.
So với toàn bộ các bộ phim được công chiếu ở rạp, điện ảnh Pháp chiếm 41,6% thị phần, tức là không kém gì lượng phim nước ngoài (chủ yếu là các bộ phim blockbuster của Mỹ) được phát hành tại Pháp. Theo Trung tâm Điện ảnh Quốc gia (CNC), sự bội thu này sẽ giúp cho các cơ quan nhà nước có thêm điều kiện để tài trợ các dự án làm phim sắp tới, nhất là các tác phẩm đầu tay, vốn rất khó tìm được nguồn vốn kinh phí, do bị xem là không dễ thu lời và nhiều rủi ro hơn.
Tuy nhiên, một khi đã khui rượu sâm banh, cạn ly chúc mừng thành quả bội thu, một số nhà chuyên nghiệp cho rằng việc phân phối phim ngày càng trở nên phức tạp. Đa số các rạp hát đang hiện đại hóa các thiết bị, chuyển sang khai thác phim ba chiều (3D) và phim làm với công nghệ số. Do vậy các rạp hát có chiều hướng chọn những bộ phim thương mại, dễ xem, dễ thu hút khán giả vào rạp. Các bộ phim ‘‘nghệ thuật’’ vì thế càng khó mà chen chân, không được giữ lâu trên màn ảnh lớn. Nói cách khác, các món ăn trên thực đơn ngày càng nghèo đi. Đối với khán giả, sự chọn lựa phim để xem khó mà còn đa dạng như trước.
Đó là quan điểm của cô Bénédicte Couvreur, nhà sản xuất của bộ phim Tomboy, một trong những bộ phim do Céline Sciamma đạo diễn, có kinh phí rất thấp (1 triệu euro) nhưng lại thu hút đến 2,5 triệu lượt người xem. Theo cô, để bảo tồn tính đa dạng của điện ảnh Pháp, thì bên cạnh các quần thể quy mô "multiplex" chiếu cùng lúc từ 12 cho đến 20 tựa phim khác nhau, thì cũng nên duy trì các rạp hát nhỏ, để tránh tình trạng rút khỏi màn ảnh lớn các bộ phim nghệ thuật, khi phim không thu hút đông đảo khán giả trong tuần lễ công chiếu đầu tiên.
Có khá nhiều bộ phim như Pater, Polisse, l’Apollonide, l’Exercice de l’Etat hay The Artist, tuy không phải là phim thương mại nhưng vẫn tồn tại được lâu trên màn bạc, chủ yếu vì các phim này đã được trình chiếu tại các Liên hoan lớn, hay là đoạt nhiều giải thưởng điện ảnh. Điều đó thu hút sự chú ý của khán giả Pháp, mỗi lần có dịp đi xinê, họ dành ưu tiên cho các tựa phim này.
Đó là trường hợp của L’Apollonide, do đạo diễn Betrand Bonello thực hiện. Sau khi được trình chiếu tại Liên hoan Cannes, rồi nhận được nhiều đề cử César, bộ phim này tuy chỉ tốn khoảng 3 triệu euro, lại được duy trì tại các rạp hát trong vòng nhiều tuần lễ, và nhờ vậy chẳng những thu hồi vốn mà lại có thêm lời nhờ bán được vé. Theo nhà sản xuất Edouard Weil, cũng nhờ vào nỗ lực phân phối mà cuộn phim La guerre est déclarée của đạo diễn Valérie Donzelli trở thành một trong những bộ phim thu lợi nhiều nhất. Phim có kinh phí thấp nhưng nhờ vào sự hưởng ứng của khán giả mà lợi nhuận cao gấp bốn lần số vốn bỏ ra. Nếu phải so sánh số tiền lời, phim La guerre est déclarée đứng hạng nhì, chỉ thua bộ phim Les Intouchables. Ngược lại, bộ phim Un été brûlant của đạo diễn Philippe Garrel với Monica Bellucci trong vai chính, có chi phí sản xuất thuộc cỡ trung bình, nhưng chỉ thu hút khoảng 25 ngàn khán giả, cho dù phim ra mắt người xem tại các rạp hát lớn.
Sự thành công vượt bực của bộ phim Les Intouchables của hai đạo diễn Olivier Nakache và Eric Toledano với hơn 19 triệu lượt khán giả chỉ trong vòng bốn tháng, chứng tỏ là khán giả Pháp thích xem ‘‘phim nội’’ không kém gì phim ngoại. Nhưng thành tích đáng khen ngợi đó cũng không làm cho ta quên đi một thực tế : đó là hàng năm có hơn 200 bộ phim do Pháp sản xuất, trên tổng số 500 phim được cho ra mắt khán giả. Điều đó có nghĩa là dù muốn hay không, chỉ có khoảng một phần năm (20%) phim Pháp sẽ thành đạt về mặt doanh thu. Khán giả không thể nào mà hấp thụ được hết số lượng phim. Không ai có thể nắm chắc bí quyết thành công, nhưng về công thức phân phối, thì để duy trì nét đa dạng, không có cách nào khác là xen kẽ phim thương mại và nghệ thuật, để cho khách hàng tùy ý lựa chọn.
Theo các chuyên gia phê bình, điện ảnh Pháp đi tìm sự sáng tạo chủ yếu theo hai xu hướng gọi là : nguyên mẫu (prototype) và khuôn mẫu (stereotype). Đó là trường hợp tiêu biểu của The Artist Les Intouchables. Tuy thu hút đến hơn 19 triệu lượt khán giả, nhưng Les Intouchables không được làm theo kiểu blockbuster của Mỹ. Ngược lại, đây là một bộ phim hiện thực xã hội, khôi hài và đầy tình cảm. Có vay mượn hay chăng là trong cách tạo dựng hai nhân vật chính : một người bị tàn phế, còn một người là thanh niên da màu. Các màn khôi hài nảy sinh từ những chênh lệch, những tình huống ngược đời của cặp bài trùng ‘‘trắng-đen, giàu-nghèo’’. Mô hình này thường được Hollywood khai thác trong các bộ phim gọi là buddy movies, theo đó hai nhân vật rất khác biệt nhau nhưng rốt cuộc vẫn là bạn. Có thể nói là Les Intouchables được xây dựng trên một khuôn mẫu (stereotype), nhấn mạnh trên những gì có thể hàn gắn hai tâm hồn, thay vì nói đến những gì có thể chia rẽ hai trái tim.
Ngược lại, bộ phim The Artist tuy có thể không thâm thúy về mặt kịch bản nội dung, nhưng lại táo bạo ở ngôn ngữ hình ảnh. Việc quay phim trắng đen, không dùng lời thoại, quay với 22 hình ảnh mỗi giây thay vì 24/giây, tựa như phim câm thời xưa biến The Artist thành một nguyên mẫu (prototype). Kể từ những năm 1970 cho tới giờ, thì không có một bộ phim nào lại chọn cách làm phim như vậy. Tính chất ‘‘nguyên mẫu’’ táo bạo đó phần nào giải thích cho sự thành công của bộ phim tại Liên hoan Cannes, rồi sau đó đến giải Quả cầu vàng, và cuối cùng là César và Oscar 2012.
Sự kiện The Artist đoạt 5 bức tượng vàng, trong đó có 3 giải quan trọng dành cho bộ phim, đạo diễn và diễn viên xuất sắc nhất, lặp lại thành tích một năm trước đó của tác phẩm Bài diễn văn của nhà vua (The King’s Speech - năm 2011). Chỉ có điều là Bài diễn văn của nhà vua là một bộ phim nói tiếng Anh, trong khi The Artist là cuộn phim đầu tiên ngoài khối Anh ngữ thắng đậm tại lễ trao giải Oscar.
Sự thành công của "The Artist" có thể giúp đẩy mạnh việc xuất khẩu phim Pháp sang nước ngoài. Ít ra theo lời đạo diễn Pháp Claude Lelouch, đây là một tin vui đáng mừng cho điện ảnh Pháp, vì theo ông nó mở đường cho nhiều bộ phim Pháp được phân phối thêm tại Hoa Kỳ. Còn theo lời đạo diễn Costa Gavras, bên cạnh ngành kỹ nghệ giải trí Hollywood, Hoa Kỳ cũng có thêm luồng phim ngoài dòng chính, đầy sức sáng tạo nhờ các hãng phim độc lập cũng như nhờ với Liên hoan Sundance. Sự thành công của The Artist sẽ càng thu hút nhiều hơn sự chú ý của các nhà chuyên phân phối phim độc lập trên thị trường Mỹ.
Ngay sau lễ trao giải Oscar, số lượng quốc gia đặt mua phim The Artist đã nhân lên gấp bội, theo ghi nhận của ông Frederick Goldsmith, giám đốc điều hành Hiệp hội các nhà sản xuất phim Pháp (APC). Cũng như Les Intouchables, bộ phim The Artist bán rất chạy cho các nước ngoài châu Âu. Hai bộ phim này tựa như cái đầu tàu, lôi kéo theo nhiều bộ phim khác nằm trong cùng lãnh vực xuất khẩu.
Còn theo lời ông Jean-Paul Salome, chủ tịch Hiệp hội các tác giả, đạo diễn và sản xuất (ARP), trong năm 2011, lượng phim Pháp được bán ra nước ngoài đã tăng thêm 7%, doanh thu nhờ vào việc bán vé cho khán giả ngoại quốc lên tới 420 triệu euros. Tuy nhiên theo ông, The Artist có thể được xem như một trường hợp ngoại lệ, do phim không có lời thoại, dễ hiểu ở khắp nơi, không cần phải có lời dịch, lồng tiếng hay phụ đề, cho nên bộ phim lại càng dễ xuất khẩu hơn nữa.
Ông Antoine de Clermont Tonnerre, giám đốc Unifrance, cơ quan nhà nước chuyên quảng bá phim Pháp ở nước ngoài thì không lạc quan bằng các đồng nghiệp. Theo ông thì trong thời buổi này, phim Pháp càng lúc càng khó xuất khẩu, bởi vì các hệ thống chiếu phim multiplex là một xu hướng chung của toàn cầu. Các nhà phân phối ở nước ngoài thay vì phát hành nhiều sản phẩm, thường tập trung khai thác những bộ phim nào dễ hái ra tiền nhất. Nếu như ở Pháp, vẫn còn có nỗ lực duy trì sự đa dạng của các tác phẩm điện ảnh, thì chưa chắc gì ở các quốc gia khác, tiêu chí đa dạng nghệ thuật được đặt lên trên lợi nhuận kinh tế.
Trước mắt thành công của The Artist sẽ tạo thêm sức hấp dẫn, thu hút thêm các nhà phân phối nước ngoài tìm mua phim Pháp, nhưng về dài hạn, thì điều đó vẫn không giải quyết tất cả những khó khăn liên quan đến vấn đề xuất khẩu phim Pháp. Nếu chỉ nhìn vào trường hợp của The Artist mà vội mừng, thì chẳng khác gì : thấy cây mà chẳng thấy rừng.

Không có nhận xét nào: