Phạm Văn Tuấn
June 25, 20130 Bình Luận

1. Thomas More và cuốn sách “Không Tưởng”
Vào năm 1516, một học giả kiêm văn sĩ, kiêm chính trị gia người Anh là
Sir Thomas More (1478-1535) đã viết ra một tác phẩm rất nổi tiếng, là
cuốn truyện “Không Tưởng” (Utopia), đề cập tới một hòn đảo tại nơi này
một xã hội sinh hoạt theo trí tưởng tượng của tác giả. “Utopia” theo
tiếng Hy Lạp có nghĩa là “không ở nơi nào cả” (nowhere). Theo Sir
Thomas, những người Utopian này ở trong một môi trường sống dư thừa,
không phải lo lắng, không gặp cảnh nghèo khó, không phải bận tâm về cuộc
sống vì đây là một xã hội hạnh phúc. Tất cả người dân được hưởng mọi tự
do, kể cả tự do tư tưởng. Mọi người trong xã hội này đều biết tôn trọng
các quyền lợi của người khác và không bao giờ xâm phạm vào các niềm tin
của người khác. Người dân xứ Utopia này rất yêu chuộng hòa bình, họ chỉ
tham chiến khi cần tự bảo vệ. Như vậy danh từ “Utopia” hay “Utopian”
tượng trưng cho một lý tưởng hay một sự toàn hảo.
Kể từ khi đó, xứ Utopia là một sản phẩm của trí tưởng tượng của Sir
Thomas More và tác giả đã đặt hòn đảo này ở bên ngoài khơi của châu Mỹ,
vì trước đó vài năm, các người châu Âu đã biết được sự hiện hữu của châu
Mỹ sau chuyến viễn du vào năm 1492 của nhà hàng hải Christopher
Columbus.
Châu Mỹ đã được người châu Âu coi là một nơi hoang dã không người lui
tới, một nơi mà nhiều người có thể khởi đầu mọi xây dựng mà không bị ảnh
hưởng bởi các thành kiến của thế giới cũ. Và đối với Sir Thomas More,
châu Mỹ có thể là nơi để lập ra một xã hội toàn hảo.

2. Nhà hàng hải Christopher Columbus
Trong các công cuộc thám hiểm bằng đường biển, chuyến đi quan trọng
nhất và nổi tiếng nhất là của Christopher Columbus, thực hiện vào năm
1492. Quan trọng và nổi tiếng không phải vì sự táo bạo và thời gian vượt
biển lâu dài, mà là vì sự tìm thấy châu Mỹ.
Vào thời văn minh Cổ Hy Lạp, nhà triết học lừng danh là Plato đã đề cập
tới một nền văn minh bị biến mất trên một hòn đảo chìm sâu xuống biển
có tên gọi là Atlantis. Qua thế kỷ thứ 8, các tu sĩ người Ái Nhĩ Lan đã
dùng một loại thuyền có bọc da, tên gọi là “curragh” để tìm ra hải đảo
Iceland rồi tới thế kỷ sau, các người Na Uy đã định cư trên hải đảo này.
Sau năm 980, những người đi biển Na Uy này lại tìm ra đảo Greenland.
Đây là một hòn đảo cung cấp cho các người định cư mới một vùng đất mở
rộng với nhiều loài chim lạ, rồi họ tới các các hải đảo khác như đảo
Baffin vào khoảng năm 1,000 và sau đó, tới miền Newfoundland.
Như vậy tại phần phía bắc của Đại Tây Dương, các người Bắc Âu đã dùng
thuyền, đi khá xa nhưng họ đã không ghi lại các khám phá hàng hải của
họ. Còn tại phần Đại Tây Dương ở phía tây của châu Âu, cho tới thế kỷ 15
chỉ có một ít báo cáo về vài hòn đảo nằm ngoài khơi. Đã có một bản đồ
thời đó vẽ một hòn đảo lớn theo truyền thuyết, tên gọi là “Antilla”, nằm
ở phía tây của xứ Bồ Đào Nha và trên cũng vĩ độ với hải cảng Lisbon.
Người châu Âu thực sự tìm ra hai nhóm đảo Madeiras và Azores vào giữa
thế kỷ 14, còn nhóm đảo Canaries được biết tới vào năm 1402.
Cho tới cuối thế kỷ 15, các học giả về môn địa dư đều cho rằng nếu bằng
một con tầu biển đi về hướng tây, người ta có thể tới được các xứ Trung
Hoa và Nhật Bản. Người thời đó chưa biết rằng sau Đại Tây Dương còn có
lục địa châu Mỹ và một đại dương bao la là Thái Bình Dương.
Sáng sớm ngày 12 tháng 10 năm 1492, nhà hàng hải Christopher Columbus
đã bước lên bờ một hòn đảo thuộc châu Mỹ, một miền đất chưa ai được biết
đến. Đây là một sự kiện lịch sử, đã mở đầu cho việc tìm hiểu Tân Thế
Giới và dẫn tới việc phổ biến nền văn minh tây phương trên lục địa này.
Christopher Columbus đã tới được Tân Thế Giới do sự tình cờ. Chủ đích
của ông là đi tìm một con đường biển để tới châu Á và khi nhìn thấy miền
đất này, ông Columbus đã tin tưởng cho tới ngày qua đời rằng ông đã
đạt được mục tiêu. Dù cho có sự nhần lẫn đó, người đời sau vẫn xếp ông
Columbus là một trong các nhà hàng hải lớn lao nhất.
Cha của Christopher Columbus tên là Domenico Colombo, là một người thợ
dệt len, có cơ sở thương mại tại thành phố cảng Genoa, nước Ý.
Christopher tên thật là Cristoforo, ra đời vào cuối mùa hè hay đầu mùa
thu năm 1451. Lúc thiếu thời, Christopher cùng với em trai tên là
Bartholomew giúp cha trong việc chải len. Khi lớn lên, Christopher là
một chàng thanh niên cao lớn, tóc đỏ, tính tình trầm lặng và rất sùng
đạo. Giống như các thanh niên khác của xứ Genoa, Christopher đã theo các
đoàn tầu thuyền đi đánh cá mòi và có lẽ đi tới tận đảo Corsica.
Christopher cũng có dịp tới các bờ biển Bắc Phi và trong các chuyến hải
hành này, chàng đã học hỏi được kỹ thuật đi biển.
Vào năm 1476, Christopher Columbus đã theo tầu buôn xứ Genoa tới hải
cảng Lisbon thuộc xứ Bồ Đào Nha rồi tới cả nước Anh và miền Flanders.
Vào thời kỳ này, các quốc gia thuộc miền Địa Trung Hải đang gây chiến
với nhau, vì vậy các tầu buôn đều phải có hộ tống. Con tầu chở
Christopher khi tới phần biển phía nam của Bồ Đào Nha thì bị tầu lạ tấn
công và bị chìm. Christopher bơi được vào bờ và tìm đường tới Lisbon.
Vào cuối thế kỷ 15, Bồ Đào Nha là quốc gia đứng đầu về viễn du hàng
hải. Trong một nửa thế kỷ và dưới sự bảo trợ của Hoàng Tử Henry, các
thủy thủ Bồ đã thực hiện được các cuộc hải hành quan trọng tới các miền
bờ biển Bắc Phi và đã mang về nhiều tài sản giá trị. Nhiều thương nhân
gốc Genoa đã làm ăn phát đạt tại Lisbon và vì vậy, Christopher Columbus
đã nhìn thấy cơ hội có thể trở nên một thuyền trưởng của các con tầu
biển Bồ Đào Nha.
Việc đầu tiên Christopher Columbus phải làm là học nói, đọc và viết các
tiếng La Tinh, tiếng Bồ và tiếng Castilian là ngôn ngữ chính của Tây
Ban Nha, để có thể tự mình hiểu rõ các sách nói về địa dư. Christopher
cũng mưu sinh trong một thời gian bằng nghề vẽ bản đồ. Năm 1479,
Christopher kết hôn với cô Dona Felipa Perestrello, có cha là một trong
các thuyền trưởng của Hoàng Tử Henry. Họ đã có một con trai tên là
Diego. Nhờ giai cấp gia đình cao sang của vợ, Christopher có thể giao du
với các nhân vật quan trọng và cũng nhờ vợ, ông đã có được bộ sưu tập
các bản đồ của người cha vợ thuyền trưởng và sau đó, tìm hiểu thêm các
khám phá và kế hoạch của nước Bồ Đào Nha. Vào năm 1481, Christopher
Columbus phục vụ dưới quyền của Vua John II của Bồ Đào Nha và đã đi tới
Elmina, một hải cảng thương mại của nước Bồ trên miền Bờ Biển Vàng (Gold
Coast) của châu Phi.
Christopher Columbus là người tự học, biết nhìn xa trông rộng lại có
nhiều kinh nghiệm hàng hải nhờ các chuyến viễn du. Giống như nhiều nhà
trí thức đương thời, Christopher biết rằng trái đất tròn. Do tin tưởng
rằng bằng đường biển đi về hướng tây, ông có thể tới được châu Á là một
miền đất giàu có. Hơn 200 năm về trước, Marco Polo đã mô tả nước Trung
Hoa khiến cho các người châu Âu rất thèm muốn tới được châu Á. Hàng hóa
của châu Á nếu vận chuyển bằng đường bộ, sẽ gặp nhiều trắc trở và bị hư
hỏng, khiến cho giá thành tăng cao. Như vậy, các con tầu biển có thể
chuyên chở nhiều hàng hóa hơn, sẽ khiến cho giá phẩm vật rẻ hơn. Tới lúc
này, các thủy thủ Bồ Đào Nha đã tìm thấy con đường vòng qua phía nam
của châu Phi để đi tới Ấn Độ. Christopher tin rằng châu Á nằm ở phía tây
của châu Âu nhưng vấn đề đặt ra là khoảng cách giữa hai châu này là bao
nhiêu.
Christopher Columbus đã nghiên cứu các chi tiết về khoảng cách đề cập
trong Thánh Kinh, trong cuốn sách du lịch của Marco Polo và trong cuốn
“Imago Mundi” (Hình ảnh của Thế Giới) của Hồng Y Pierra d’ Ailly xuất
bản vào đầu thế kỷ 15, cũng như căn cứ vào các lập luận của một nhà địa
dư người Ý kiêm bác sĩ, có tên là Paolo Toscanelli, để đi tới phần kết
luận quá lạc quan là nước Trung Hoa chỉ cách châu Âu 3,500 dậm về hướng
tây trong khi khoảng cách thực sự là 11,766 dậm.
Sau nhiều năm nghiên cứu với các dẫn chứng từ các học giả và từ các
người đi biển danh tiếng, Christopher Columbus đã đệ trình kế hoạch thám
hiểm của mình lên Vua John II của nước Bồ Đào Nha vào năm 1484. Một ủy
ban của nhà vua đã cứu xét dự án rồi bác bỏ vì lý do khó tin. Trong khi
đó, người vợ qua đời, Christopher bèn mang con qua nước Tây Ban Nha, tìm
kiếm người tài trợ kế hoạch. Ông gửi con cho các sư huynh tại tu viện
La Rabida.
Tại nước Tây Ban Nha, Christopher Columbus nhờ một số bạn bè có thế lực
đệ trình kế hoạch thám hiểm lên Vua Ferdinand và Nữ Hoàng Isabella. Mặc
dù đang bận tâm về cuộc chiến tranh với người Moors tại Granada, hai vị
vua này cũng giao kế hoạch cho một ủy ban cứu xét và trong khi chờ đợi,
ông Columbus đã cưới bà Beatriz Enriquez de Harana. Họ có một người con
tên là Fernando.
Do cứu xét lại kế hoạch của Columbus, Vua John mời nhà thám hiểm trở
lại Bồ Đào Nha nhưng đúng vào lúc này, Bartholomew Dias đã trở về sau
khi tìm thấy Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope). Như vậy con đường biển đi
tới Ấn Độ đã được mở ra và người Bồ Đào Nha không còn quan tâm tới con
đường hướng về phía tây nữa. Trước tin tức này, Columbus đành ở lại Tây
Ban Nha.
Tháng 1 năm 1492, quân đội Tây Ban Nha đã chiến thắng tại Granada nên
Vua Ferdinand và Nữ Hoàng Isabella đồng ý tài trợ chuyến đi của
Columbus. Yếu tố quan trọng thứ nhất trong quyết định này là do vị quan
Luis de Santagel, người thủ quỹ Cơ Mật Viện của Nữ Hoàng, đã hứa với nhà
vua rằng ông ta sẵn sàng dùng tài sản tư để tài trợ dự án. Yếu tố thứ
hai là vì Tây Ban Nha không được chính thức chấp nhận dùng con đường
biển qua Tây Phi Châu, khi đó đã do nước Bồ Đào Nha kiểm soát. Ngoài sự
đồng ý tài trợ, hai nhà vua Tây Ban Nha này cũng hứa sẽ ban cho
Christopher Columbus tước hiệu Đô Đốc của Đại Dương (Admiral of the
Ocean Sea) và Phó Vương của tất cả các hải đảo và lục địa nếu tìm thấy
được.
Thành phố hải cảng Palos ở phía tây nam của Tây Ban Nha được lệnh cung
cấp hai tầu biển dành cho công cuộc thám hiểm, đó là chiếc Nina và chiếc
Pinta, đều dài khoảng 70 feet (24 mét). Chiếc tầu chỉ huy với tên hiệu
Santa Maria tuy lớn hơn nhưng kém hơn về trang bị buồm, được chính
Christopher Columbus điều khiển. Thuyền trưởng và các thủy thủ của hai
con tầu kia được tuyển mộ tại hải cảng Palos. Công việc chuẩn bị kéo dài
mười tuần lễ.
3. Chuyến đi đầu tiên của Christopher Columbus
Mờ sáng ngày 3 tháng 8 năm 1492, đoàn thủy thủ tham dự buổi lễ cầu
nguyện rồi Columbus bước lên tầu Santa Maria. Cả ba con tầu kéo neo,
dương buồm rời hải cảng Palos trước khi mặt trời mọc. Sau 3 ngày ra đi,
con tầu Pinta bị mất bộ phận lái, còn cánh buồm tam giác của con tầu
Nina cho thấy không thích hợp với công cuộc đi biển. Columbus ra lệnh
cho đoàn tầu dừng lại tại quần đảo Canaries để sửa chữa tầu và lấy lương
thực mới. Ngày 9 tháng 9, ba con tầu lại ra khơi, gặp gió mậu dịch thổi
từ hướng đông bắc rất thuận tiện cho việc đi về hướng tây. Vì thế trong
một ngày, đoàn tầu thám hiểm đã vượt qua được 182 dậm, tốc độ trung
bình là 8 hải lý (knots), một độ nhanh hàng hải rất đáng kể đối với thời
bấy giờ.
Trong khi đoàn tầu tiếp tục di chuyển, Christopher Columbus đã ghi lại
cuộc hành trình bằng hai cuốn sổ ghi, một cuốn dành riêng cho mình còn
cuốn kia cố ý ước lượng khoảng cách ngắn đi để công bố cho các thủy thủ,
vì bằng cách này, Columbus hy vọng sẽ tránh cho các thủy thủ không bị
sợ hãi vì đã đi quá xa. Tuy thế, thời gian ở trên tầu quá lâu đã làm cho
các thủy thủ lo ngại, họ e sợ hướng gió sẽ không đổi chiều để đưa họ
trở về bến cũ, rồi thời tiết tốt đẹp, không mưa cũng khiến cho họ e sợ
rằng sẽ không có nước uống. Tới ngày 10 tháng 10, tinh thần của thủy thủ
bị suy sụp. Sau 30 ngày lênh đênh trên biển cả bao la, các thủy thủ
trên con tầu Maria sắp nổi loạn, đã đòi hỏi Christopher Columbus phải
quay trở về và vì vậy, Columbus đã hứa với họ rằng sẽ làm việc này nếu
trong hai hay ba ngày nữa không nhìn thấy đất liền.
Vào ngày 11 tháng 10, tầu Pinta vớt được một mẩu tre, một cây sào, một
miếng ván và một cây gậy có lẽ được chặt bằng dao sắc. Tới 2 giờ sáng
ngày 12 tháng 10, thủy thủ Rodrigo de Triana trên con tầu Pinta đã la
lên: “Đất liền! Đất liền!”. Columbus bèn ra lệnh cho con tầu Santa Maria
tiến tới gần, xác nhận quả là đất liền và cả đoàn tầu chờ đợi ở ngoài
khơi cho đến sáng. Sau đó, Christopher Columbus và các thủy thủ đã bước
lên bờ và họ là những người châu Âu đầu tiên đặt chân lên quần đảo
Caribbean và hòn đảo này là đảo Walting, thuộc Bahama của San Salvador.
Columbus cùng các thủy thủ đã quỳ xuống đất, cảm tạ Thượng Đế đã giúp đỡ
họ trong chuyến đi an toàn và thành công, rồi nhận miền đất này thuộc
quyền của các Vua Tây Ban Nha. Họ đã gặp thổ dân da đỏ Arawark Taino,
một giống người hiền lành và các thổ dân đã chào hỏi đoàn thám hiểm cũng
như trao đổi quà tặng. Khi nhìn thấy các vòng vàng nhỏ đeo trên mũi của
thổ dân, Christopher Columbus lại càng tin chắc rằng ông đã tới được xứ
Ấn Độ. Columbus đã ghi trong nhật ký như sau: “tôi định đi nữa để coi
xem có thể tìm ra hòn đảo Nhật Bản hay không”.
Christopher Columbus ra lệnh dương buồm ra khơi và đã dừng lại tại các
hòn đảo mà ông đặt tên là Santa Maria de la Conception (bây giờ là đảo
Rum Cay), Fernandina (Long Island), và Isabella (Crooked Island). Vào
ngày 6-12-1492, đoàn tầu dừng lại tại bờ biển phía bắc của đảo
Hispaniola. Tại mọi nơi, Columbus đều hỏi thổ dân xem có thể kiếm ra
vàng tại đâu và các thủy thủ đã không tìm thấy một thành phố hay một lâu
đài hoàng gia nào, họ chỉ gặp các thổ dân hút thuốc xì gà và đây là các
người châu Âu đầu tiên biết tới thuốc lá. Sau khi đo lường kinh độ và
vĩ độ, Columbus chỉ biết kết luận rằng ông đã tới được các hòn đảo nằm
bên ngoài xứ Cathay.
Ba tháng sau ngày nhìn thấy đất liền, Christopher Columbus và đoàn tầu
của ông đã đi vòng vo qua các vùng biển xa lạ và khá nguy hiểm là các
đảo Bahama, Cuba và Hispaniola. Trên đảo Hispaniola, Columbus phấn khởi
khi thấy dân làng đeo nữ trang bằng vàng và cũng đã nhận được một quà
tặng là một mặt nạ vàng. Đoàn tầu biển ba chiếc khi tới Cape Haitien thì
chiếc Santa Maria bị đụng đá ngầm nên đáy tầu bị rách và phải bỏ lại.
Với khối lượng gỗ của con tầu này, Columbus đã xây dựng một pháo đài nhỏ
tại La Navidad. Một số thủy thủ vì bị lôi cuốn bởi các câu chuyện về mỏ
vàng, nên đã tình nguyện ở lại trên đảo. Đây là nhóm dân 39 người định
cư đầu tiên tại Tân Thế Giới.
Vào ngày 16-1-1493, Christopher Columbus quyết định cho đoàn tầu trở
về. Hai con tầu Nina và Pinta chất đầy phẩm vật gồm vàng bạc, các con
vẹt có lông màu sắc sặc sỡ, các loại cây cỏ và sinh vật lạ, một số nữ
trang và quần áo của thổ dân cùng nhiều thổ dân bị bắt cóc. Do tình cờ,
hai con tầu biển này lọt vào vùng biển phía bắc của đảo Bermuda, nơi có
gió thổi rất thuận tiện. Sau một tháng hải hành tốt đẹp, tầu gặp bão khi
đến gần quần đảo Azores nhưng rồi cuối cùng, con tầu Nina do Columbus
chỉ huy cũng tới được hải cảng Lisbon để sửa chữa. Vào ngày 4 tháng 3,
Columbus được Vua John đón tiếp tại Lisbon. Cuối cùng, vào ngày
15-3-1493, cả hai con tầu cùng bỏ neo tại hải cảng Palos.
Vua và Nữ Hoàng Tây Ban Nha đã đón tiếp Christopher Columbus tại triều
đình Barcelona. Columbus đã tặng cho các vua sáu thổ dân, vàng bạc và
một số cây cối cùng các con vật lạ. Christopher Columbus được mời ngồi
bên phải các vị vua và được ban tước hiệu “Don Cristobal Colon”. Đây là
lúc vinh quang nhất của ông.
Christopher Columbus đã báo cáo về các hòn đảo nằm bên ngoài bờ biển
của xứ Cathay, một nơi có nhiều vàng bạc và hương liệu, với thổ dân vừa e
dè, vừa dễ chịu, rất dễ cải theo đạo Thiên Chúa. Columbus cũng mô tả vẻ
đẹp thiên nhiên của núi cao, bãi biển cát trắng, các loại cây gồi đặc
thù của vùng nhiệt đới, nhưng phần báo cáo về quý kim thì đã bị ước
lượng quá đáng. Sở dĩ ông nói quá về số lượng vàng bạc của địa phương để
các nhà vua Tây Ban Nha sẵn lòng tài trợ các chương trình thám hiểm kế
tiếp.
Cùng với vài thổ dân trình ra làm bằng chứng cụ thể, Christopher
Columbus đã mô tả về vài hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi mà ông cho rằng sâu
vào bên trong là nước Trung Hoa, đúng như lời Marco Polo đã nói rằng
những thổ dân tại các hải đảo này còn man rợ và họ sống như các thú vật.
Do vậy, Vua Ferdinand và Nữ Hoàng Isabella đều đồng ý cử Columbus đi
thám hiểm một lần nữa để cố gắng tiếp xúc với triều đình của Đại Hãn.
Từ năm 1455, nước Bồ Đào Nha đã xin được sắc lệnh của Giáo Hoàng cho
độc quyền trên đại dương ở phía đông và phía tây nam. Người Bồ đã dùng
quần đảo Canaries làm chuẩn và cho rằng vùng biển từ quần đảo này trải
dài xuống phía nam Đại Tây Dương là của mình.
Để bảo đảm các quyền lợi tại phía tây, các vua Tây Ban Nha cũng xin
Giáo Hoàng đặc quyền thương mại và chinh phục các xứ sở tại phía tây đại
dương. Giáo Hoàng thời bấy giờ là Alexander VI, cũng là người Tây Ban
Nha và thuộc nhóm Borgia, nên đã lắng nghe các yêu cầu của Vua Ferdinand
và Nữ Hoàng Isabella. Hai nhà vua này đòi đặt một đường ranh dọc 100
hải lý (khoảng 300 dậm) phía tây của quần đào Azores. Phía tây đường
ranh này thuộc Tây Ban Nha còn phía đông thuộc Bồ Đào Nha. Sự phân chia
này là do đề nghị của Christopher Columbus khi nhận xét về nơi thay đổi
hướng gió, thay đổi hướng từ trường của địa bàn và cũng là nơi có khác
lạ về mặt biển. Giáo Hoàng Alexander VI đã chấp thuận đề nghị của Tây
Ban Nha bằng Đạo Luật Inter Caetera. Vua Bồ Đào Nha bèn phản đối sự phân
vùng kể trên, đòi hỏi Tây Ban Nha phải tôn trọng đạo luật Aeterni Regis
năm 1481 của Giáo Hoàng khi trước. Sau khi thương thảo, hai nước Bồ Đào
Nha và Tây Ban Nha đã đi tới Hòa Ước Tordesillas ký vào tháng 6 năm
1494, về sau được duyệt bởi Giáo Hoàng, theo đó đường ranh dọc do Tây
Ban Nha đề nghị được đặt lùi 270 hải lý về phía tây, tức là ở kinh độ 46
độ 37′W, và cũng vì thế mà sau này miền đất Brasil nằm ở phía đông
đường ranh, đã thuộc về Bồ Đào Nha.
Sự phân chia kể trên đã khiến cho 25 năm về sau, khi thám hiểm mỏm cực
nam của Nam Mỹ, Ferdinand Magellan đã bị cảnh cáo không nên vi phạm lằn
ranh và các giới hạn về lãnh thổ của nhà vua Bồ Đào Nha. Nhưng khi xẩy
ra cuộc cạnh tranh về thám hiểm và khám phá các vùng đất mới, không một
thế lực nào khiến cho Hòa Ước Tordesillas hay Đạo Luật Inter Caetera
được các quốc gia khác tôn trọng và Vua Francis của nước Pháp đã nói
rằng muốn được coi “di chúc” của ông Adam chia Tân Thế Giới cho Hoàng Đế
Tây Ban Nha Charles V và Vua Bồ Đào Nha.
Rồi tới giữa thế kỷ 16, ông bộ trưởng William Cecil của Nữ Hoàng Anh
Elizabeth I đã cảnh cáo vị đại sứ Tây Ban Nha rằng “Giáo Hoàng không có
quyền chia thế giới rồi phân phối các vương quốc cho những người được ưa
thích”. Thế nhưng vào năm 1493, các quyền lợi của Tây Ban Nha đã được
coi trọng và việc phân vùng ảnh hưởng đã ổn định. Christopher Columbus
đã ở trên cực điểm của danh vọng. Trong 10 năm, nhà hàng hải này thường
qua lại giữa Tây Ban Nha và vùng đất mới mà ông cho rằng sau đó là nước
Trung Hoa.
Vào tháng 9 năm 1493, Christopher Columbus ra đi lần thứ hai và sau 21
ngày thuận gió, nhà hàng hải tới được phía bắc của quần đảo Windward mà
ông đặt tên là Dominica, theo tiếng Ý là ngày Chủ Nhật, ngày nhìn thấy
đảo. Sau đó Columbus đi theo đường vòng cung của các đảo Leeward tới tận
Puerto Rico và đặt tên cho các đảo lần lượt là Santa Maria de
Guadalupe, Santa Maria de Monserrate (Montserrat), Santa Cruz (nay là
đảo St. Croix). Khi đến đảo Hispaniola để thăm lại khu định cư Navidad
gần Cape Haitien, Columbus thấy rằng nơi này đã bị đốt trụi, 39 thủ thủ
khi xưa đã bị giết chết. Columbus liền lập ra một nơi định cư thứ hai
trên đảo Hispaniola. Chính trên các hải đảo miền Trung Mỹ này, các thủy
thủ Tây Ban Nha đã được ăn khoai lang (yam), gặp loại cây bông gòn, các
thứ cây trái mới lạ… Christopher Columbus cũng khám phá ra đảo Jamaica.
Vào mùa xuân năm 1496, đoàn tầu biển của Christopher Columbus trở về Tây
Ban Nha và nhà hàng hải vẫn thuyết phục Vua Tây Ban Nha rằng xứ Trung
Hoa sắp ở trong tầm tay thám hiểm.
Tới tháng 5 năm 1498, Christopher Columbus lại rời Tây Ban Nha, ra đi
lần thứ ba, lần này hướng về phía nam nhiều hơn. Trong kỳ thám hiểm này,
nhà hàng hải đã tới đảo Trinidad và đây là một khám phá địa dư mới. Vài
ngày sau, đoàn thám hiểm đặt chân lên đồng bằng Orinoco rồi Columbus
khảo sát Vịnh Paria và nhận ra rằng đây phải là một lục địa rất lớn:
Christopher Columbus đã tới vùng bờ biển phía bắc của Nam Mỹ.
Trong chuyến đi lần thứ tư vào mùa hè năm 1502, Christopher Columbus đã
tới Honduras mà ông tưởng lầm là bán đảo Mã Lai. Để tranh đua với Vasco
da Gama của Bồ Đào Nha khi đó đã tìm thấy Ấn Độ, nhà hàng hải Columbus
cho tầu đi về phía nam, tới Nicaragua và Costa Rica. Trong cuộc thám
hiểm lần thứ tư này, Columbus đã gặp thất bại trong việc tìm đường qua
châu Á, trong các công cuộc định cư trên đảo Hispaniola và tại các nơi
khác.
Christopher Columbus đã chết vào ngày 20 tháng 5 năm 1506, vào tuổi 55,
tại Valladolid, trong cảnh nghèo khó. Di hài của nhà hàng hải lừng danh
này được chuyển tới an táng tại phần đất của một tu viện ở Seville vào
năm 1513, nơi đã chôn cất người con Diego của ông.
Christopher Columbus là nhà hàng hải đã băng qua đại dương, tới các
vùng biển hoàn toàn xa lạ và nhờ bản năng tài giỏi, ông đã điều khiển
đoàn tầu vượt qua được những miền nước sâu, nước cạn, cũng như các vùng
đá ngầm và các đảo san hô để tới mục tiêu đúng lúc. Vì vậy người đời sau
vẫn coi ông Columbus là một trong các nhà hàng hải tài ba nhất của thời
đại đó. Ý tưởng táo bạo đi về hướng tây để tới châu Á cũng khiến cho
Christopher Columbus được coi là một con người cương quyết theo đuổi lý
thuyết do mình đặt ra.
Việc khám phá ra Tân Thế Giới của Christopher Columbus đã khiến cho ông
được xếp hạng với các nhân vật gây ảnh hưởng lớn lao nhất trong lịch sử
của Nhân Loại, chỉ sau các vị sáng lập ra các tôn giáo của Thế Giới.
Phạm Văn Tuấn
www.vietthuc.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét