Bằng Phong Đặng Văn Âu (Danlambao) - Sau
khi đọc vài ba cuốn sách mới nhìn thấy cái tệ hại của cộng sản đối với
đồng bào và đất nước. Là luật gia, là nhà hoạt động chính trị, ông Đằng
nói đến thành lập đảng đối lập với chính quyền cộng sản có vẻ rất tài
tử, khơi khơi. Ít nhất ông phải phác họa vắn tắt về cái chủ trương,
đường lối như thế nào để người đọc biết ý ông ra sao. Tôi tự hỏi: Hoặc
tại vì bản chất con người ông dễ dãi như khi ông tuyên thệ vào đảng cộng
sản, chẳng cần nghiên cứu điều lệ đảng, cứ việc đưa tay tuyên thệ
trong “một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả”; hoặc ông
bỗng nhiên được chỉ thị cấp trên gấp gáp quá nên cứ thế phóng ra bài
viết mà chưa kịp sửa soạn!?...
*
Một nhà hàng hải Phương Tây (lâu ngày tôi quên mất tên) nhận xét: “Phải
đến tận Nhật Bản mới thấy có một dân tộc thông minh như dân tộc Việt
Nam”. Chắc chắn câu nói đó không cường điệu, bởi vì trong một trăm giống
Việt sống dọc hai bên bờ sông Dương tử mà chỉ còn lại duy nhất dòng Lạc
Việt không bị đồng hóa thì phải được kể là thông minh rồi. Tổ tiên ta
đã làm nên những chiến công hiển hách là ba lần đánh bại đoàn quân Mông
Cổ bách chiến bách thắng từng làm khiếp vía các quốc gia từ Âu sang Á
thì đâu phải là một dân tộc tầm thường? Một người anh hùng áo vải đất
Tây Sơn đánh tan 20 vạn quân Thanh trong vòng một tuần lễ thì mưu lược
đâu kém gì nhà quân sự đại tài Napoléon ở Âu Châu?
Câu hỏi đặt ra: “Tại sao một dân tộc thông minh, kiên cường như thế mà
địa vị ngày nay trên trường quốc tế lại bị xếp hạng gần cuối bảng? Phải
chăng đến một thời điểm nào đó trong lịch sử thì nguyên khí, trí tuệ
giống nòi Lạc Việt tự nhiên biến mất?”
Ông Nguyễn Trường Tộ sau khi du học nước người trở về, đã viết một bản
điều trần dâng lên vua để đề nghị canh tân xứ sở thì bị các quần thần
phê đó là những lời yêu ngôn, hoặc chúng, không đáng tin cậy. Tại sao
vua không cử sứ giả đến các nước văn minh kia để xem hư thực như thế nào
mà lại nghe lời xàm tấu của quan lại thủ cựu sợ làm cuộc cách mạng? Giá
như vua Tự Đức đừng miệt mài trong thơ phú, sáng suốt một chút thì nước
Việt Nam mình đâu đến nỗi tồi tệ như ngày nay? Tôi trộm nghĩ: Sở dĩ
nước ta không ngóc đầu lên được là bởi vì hàng ngũ trí thức lãnh đạo xứ
sở ta bị rơi vào chứng bệnh khủng hoảng trí tuệ quá lâu.
Khi tôi gọi điện thoại về Việt Nam cho bác sĩ Nguyễn Khắc Viện để hỏi
tại sao một người thông minh lỗi lạc như anh mà đi theo Đảng cộng sản,
một đảng đã đấu tố thân phụ anh cho đến chết, ông đáp: “Vì mình chống bọn Thực dân, vì mình quá khao khát độc lập tự do nên mình ngây thơ”.
Qua câu trả lời ấy, tôi nhận thấy rằng đa số trí thức Việt Nam lúc bấy
giờ đều ngây thơ chết người (!) như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nghĩa là
giống như kỹ sư Hồ Đắc Liên đã nhìn thấy cái ác, cái bất lương, cái gian
dối của cộng sản trong kháng chiến, nhưng đặt mục tiêu đánh đuổi Thực
dân Pháp cao hơn hết, thành thử vấn đề thanh toán cộng sản sẽ tính sau.
Ngờ đâu khi sa vào cái bẫy cộng sản, chẳng những không thể thanh toán
chúng được, mà lại còn bị chúng giẫm đạp, tàn hại suốt cả một đời!
Năm 1959, đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng
văn Chí, tôi quá đỗi xót xa thương cảm những nhà trí thức yêu nước ở
Miền Bắc vì mê cái khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” mà bị đày đọa,
bị sỉ nhục. Đồng thời, tôi lại tự hỏi: “Tại sao những nhà trí thức thông
thái lỗi lạc như quý vị giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Tạ
Quang Bửu không chịu đọc những tác phẩm “Trại Súc Vật” (Animal Farm) của
George Orwell hoặc “Le Retour d’ URSS” (Trở về từ Liên Bang Xô Viết)
của André Gide do nhà xuất bản Gallimard phát hành từ tháng 11 năm 1936
để biết cộng sản là như thế nào, mà lại nhắm mắt đi với cộng sản chỉ vì
câu khẩu hiệu đểu giả “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” của Hồ Chí Minh? Sự
sai lầm (hay ngây thơ, nông cạn) của các bậc đại trí thức thời ấy rất
tai hại vì nó khiến cho lớp học trò của thế hệ đàn em cứ thế nhắm mắt đi
theo đàn anh.
Tôi biết ghê tởm sự tàn ác bất nhân của cộng sản rất sớm nhờ tận mắt
chứng kiến mấy thằng du kích cộng sản chém bay đầu ông phu xe kéo và đập
vỡ sọ một thiếu niên bị nghi ngờ làm mật thám cho Tây. Sau khi đọc cuốn
“Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng Văn Chí vào năm 1959 thì sự
quyết tâm chống Cộng của tôi càng kiên định hơn. Tôi bí mật gia nhập
đảng Đại Việt là thể hiện sự quyết tâm của mình. Vì bị ảnh hưởng bởi
đảng chống Tổng thống Ngô Đình Diệm, do đó tôi có tư tưởng chống ông
Diệm. Nhưng sau cuộc đảo chánh năm 1963, các cuộc đảo chánh giữa các
tướng lãnh liên tục xảy ra, hệ phái của các đảng chống Cộng không đoàn
kết với nhau thì tôi nghiệm rằng mình có tư tưởng chống ông Diệm là sai
lầm. Rất nhiều đêm tôi thầm khấn nguyện vong linh Tổng thống Diệm tha
thứ cho tôi.
Do tinh thần ái quốc, những nhà trí thức ở thời điểm gọi là “Cách Mạng
Mùa Thu” đã đặt trái tim trên bộ não (tình cảm trên lý trí), nên bị sa
chân vào cái bẫy cộng sản, rồi rút chân ra không được. Tôi hoàn toàn
chia sẻ, cảm thông và xót xa nỗi bất hạnh của các nhà trí thức đó. Nhưng
sau Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước với gần một triệu đồng
bào Miền Bắc phải rời bỏ mồ mả tổ tiên, nhà cửa ruộng vườn đi tìm tự do
và sau khi cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng Văn Chí
ra đời mà những người trí thức (!) còn chạy theo cộng sản thì tôi hết
sức khinh miệt trí tuệ của những con người đó. Những trí thức theo Cộng
ấy chống chế rằng họ đấu tranh vì chống ngoại xâm và vì lý tưởng công
bằng xã hội. Có lẽ họ nghĩ rằng nhân dân Miền Nam đều ngu cả nên tin vào
cái lập luận ấu trĩ của họ dễ dàng. Tôi có thể khẳng định rằng Miền Nam
rơi vào sự thống trị của cộng sản Miền Bắc là do bọn mang danh trí thức
nhưng ngu xuẩn làm mất chính nghĩa bảo vệ nền tự do của Miền Nam và bọn
nằm vùng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” làm tay sai đắc lực cho bọn
xâm lược.
Hoa Kỳ đến giúp Miền Nam không phải là quân xâm lược. Bằng cớ là họ đã
giải thoát Âu châu khỏi sự thống trị của Đức quốc xã và Phát xít Ý,
nhưng họ không chiếm nước nào làm thuộc địa; lại còn có kế hoạch
Marshall giúp nền kinh tế Âu châu phục hồi. Họ đánh bại quân phiệt Nhật,
nhưng giúp Nhật trở thành quốc gia hùng cường vào hàng thứ hai về kinh
tế. Nhờ Mỹ mới có phương tiện đưa gần một triệu người Miền Bắc đi tìm tự
do. Tố cáo Mỹ xâm lược là luận điệu tuyên truyền xảo trá của cộng sản
và được bọn trí thức ngu xuẩn ở Miền Nam cất giọng phụ họa.
Có hai nhân vật từ Miền Bắc vào Nam sau 1975 mà tôi trọng vọng và kính
nể là nhà văn Dương Thu Hương và nhà lý luận Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ.
Một người sinh ra và lớn lên ở đất Bắc, bị nền giáo dục chuyên chính
nhồi sọ, trở thành đảng viên cộng sản, lòng phơi phới mừng rỡ trước sự
thống nhất xứ sở “từ nay sạch bóng quân thù” (chữ của cộng sản), nhưng
bà Dương Thu Hương chỉ sau một buổi vào nhà sách ở Miền Nam thấy bày bán
đủ loại tác phẩm văn chương, chính trị, nghệ thuật là nhận ra ngay rằng
Miền Nam có tự do. Bà đã ngồi xuống vệ đường và khóc cho một nền văn
minh bị bọn man rợ xâm chiếm. Tôi dám nghĩ rằng nếu nhà văn Dương Thu
Hương là vị Tổng Tư lệnh đoàn quân “giải phóng” thì chắc chắn bà sẽ
thống lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Nhân Dân quay ngược ra
Miền Bắc giải phóng đồng bào. Một người khác là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ,
ngành Sinh học, bút hiệu Hà Sĩ Phu, cũng lớn lên ở Miền Bắc nhưng không
gia nhập đảng cộng sản để tiến thân. Sau khi Tổng Bí thư Nguyễn văn
Linh đề ra chủ trương “đổi mới hay là chết”, cởi trói văn nghệ sĩ vào
năm 1986, ông Hà Sĩ Phu đã viết những bài tham luận chính trị để chỉ ra
con đường “xã hội chủ nghĩa” là sai lầm bằng những lập luận hết sức ôn
hòa, vừa có lý vừa có tình. Nhưng không ai thấy có “sĩ phu Bắc Hà” nào
dám công khai lên tiếng phụ họa. Tội nghiệp cho triết gia Trần Đức Thảo
bị đảng yêu cầu viết bài phản bác lập luận của ông Hà Sĩ Phu, nhưng vì
quá sợ đảng nên triết gia không dám trích dẫn những gì ông Hà Sĩ Phu đã
viết. Ai làm cho trí thức sợ hãi đến độ đánh mất tính chất kẻ sĩ, nếu
không phải là Hồ Chí Minh và tập đoàn chuyên chính? Vậy thì tại sao tới
giờ này mà vẫn còn có hạng người như ông Nguyễn Trọng Vĩnh tâng bốc,
sùng bái “Bác Hồ”? Có phải đúng là do căn bệnh “khủng hoảng trí tuệ”
không?
Một số người đi theo cộng sản từ 1945 như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ,
Nguyễn Văn Trấn... và những trí thức (!) ở Miền Nam sau này như bác sĩ
Dương Quỳnh Hoa, điệp viên Phạm Xuân Ẩn. luật sư Ngô Bá Thành (tên thật
là Phạm Thị Thanh Vân, con gái ông Phạm Văn Huyến)... dần dần mở mắt.
Nhưng tiếc thay con số “trí thức mở mắt” quá ít ỏi, nên bọn cầm quyền cứ
nhất định xông lên cái đích Xã Hội Chủ Nghĩa” mà chẳng có lực nào cản
nổi! Năm ngoái, giáo sư Trần Phương, nguyên phó Thủ tướng, triệu tập một
cuộc hội thảo trước Ngày Đại hội Đảng gồm những nhân vật từng là tai to
mặt lớn trong đảng, gay gắt đặt câu hỏi: “Trong các anh, ai có thể giải thích cho tôi nghe chủ nghĩa xã hội là gì nào?”.
Tuyệt nhiên không nghe một ai có thể giải thích được! Thế mà các vị ấy
cứ ở trong cái đảng cương quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vậy
có tội nghiệp cho dân Việt Nam không? Đó không phải là cuộc khủng hoảng
trí tuệ, thì là gì?
Mới đây, đọc bài “Suy nghĩ trong lúc nằm bệnh viện” của ông Lê Hiếu Đằng
làm tôi nhớ một truyện ngắn đăng trong “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”
có tựa đề “Bức thư gửi người bạn cũ” của nhà văn Trần Lê Văn,
cháu nhà thơ trào phúng Trần Kế Xương, tức Tú Xương. Tên người bạn lúc
mới đẻ ra được ông bố đặt cho là Nguyễn Vinh Hoa nhằm nói lên sự phú quý
con nhà tiểu tư sản, nhưng sau “Cách Mạng” thì Vinh Hoa tự ý đổi sang
Nguyễn Hùng Tiến, có nghĩa là anh hùng và tiến bộ để hợp với thời thế.
Nhờ giỏi đóng kịch thành con người hoàn toàn dấn thân cho “cách mạng”,
Nguyễn Vinh Hoa dễ dàng bước lên địa vị lãnh đạo cơ sở, mặt mũi lúc nào
cũng khó đăm đăm, luôn luôn khắc nghiệt “giáo dục” cấp dưới về quan điểm
lập trường. Một hôm bị ốm, được người bạn Trần Lê Văn săn sóc, hắn thổ
lộ con người thật của hắn: cũng biết nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ rất là...
tiểu tư sản. Tác giả kết luận bài viết của mình bằng một câu rất hóm
hỉnh, “Tôi có ý nghĩ hơi tệ: giá anh ốm mãi lại hóa hay”. Sau khi đọc
xong bài viết của ông Đằng đòi “thanh toán”, “tính sổ” với Đảng cộng
sản, tôi cũng có ý nghĩ như ông Trần Lê Văn: “Giá như ông Lê Hiếu Đằng bị nằm bệnh viện sớm sủa hơn thì ông ta đã tỉnh ngộ từ khuya rồi!”.
Nhờ cơn thập tử nhất sinh, ông Lê Hiếu Đằng mới chịu đọc sách (!) của
các tác giả Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần rồi ông thổ
lộ: “Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con
người trong cái gọi là CNXH ở Miền Bắc, một xã hội không có bóng người.” Nữ
ca sĩ Hoa Kỳ, Joan Baez chống chiến tranh Việt Nam, ủng hộ Miền Bắc vì
không hiểu dã tâm cộng sản; nhưng sau khi chứng kiến hàng triệu người
vượt biên, vượt biển tử nạn trên đường đi tìm tự do thì cô ta lập tức
tỉnh ngộ và kêu gọi những trí thức phản chiến danh tiếng trên thế giới
như Jean Paul Sartre, Bertrand Russell công bố một bản cáo trạng lên án
bọn cầm quyền Việt Nam man rợ; còn ông Lê Hiếu Đằng phải đợi cho đến hơn
38 năm sau, nhờ ốm liệt giường liệt chiếu thì mới biết đường... tính
sổ! Cái gì đã khiến cho ông Đằng chậm tiêu, tối dạ, mãi đến bây giờ mới
nhìn ra cái ác, cái lưu manh của cộng sản, nếu không phải là do “khủng
hoảng trí tuệ” mà người Mỹ gọi là căn bệnh “down syndrome symtoms”?
Tôi nói không sai: Sau năm 1954, gần một triệu người Miền Bắc bỏ lại tất
cả để vào Nam tìm tự do; phim “Chúng tôi muốn sống” trình bày cho nhân
dân Miền Nam thấy một phần nào sự tàn ác cộng sản trong cải cách ruộng
đất; sách của cụ Hoàng Văn Chí tố cáo cái chế độ ở Miền Bắc đối xử với
con người giống như con vật cũng không mở mắt được bọn mang danh trí
thức mắc chứng “khủng hoảng trí tuệ” chạy theo cộng sản. Rõ ràng một bọn
ngu, nhưng không chịu nhìn nhận là ngu, cứ dẻo mồm khoe mình chạy theo
cộng sản vì yêu lý tưởng công bằng xã hội!
Là con người, ai ai cũng bị phạm lỗi lầm trong đời. Cái lỗi lầm chạy
theo cộng sản là ghê gớm nhất, vì nó đã khiến cho đồng bào mình điêu
đứng, đất nước mình tan hoang. Sau khi thức tỉnh, nhận ra lỗi lầm mà
không dám công khai nói một lời ân hận để chuộc lỗi là hèn, là bất xứng
để mang cái nhãn hiệu trí thức. Ông Đằng kể chuyện bị tù trong lao Thừa
Phủ, Huế, nhưng đến ngày thi mẹ ông hú họa làm đơn xin cho con ra thi,
thì được chính quyền chấp thuận, rồi tự hỏi: “Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”.
Tội nghiệp cho ông Đằng, hơn 38 năm sau ông mới thấy sự nhân đạo của
chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cái chế độ mà ông đã thẳng tay giật sập. Thế
mà ông Đằng vẫn xem chế độ nhân đạo ấy là “địch” vì bắt bỏ tù anh cộng
sản nằm vùng Nguyễn Ngọc Phương. Nhờ bố ông gửi cho mấy cuốn sách của
các giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng Tạo,
Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô
Hoàng Yên (có phải ông định viết Tô Thùy Yên?) để đọc mà ông Đằng thi đỗ
bằng Tú tài hạng thứ. Giá như bố ông gửi thêm cho cuốn “Trăm hoa....”
của cụ Hoàng Văn Chí để ông đọc những bài viết của cụ Phan Khôi (nhà
cách mạng đồng hương Quảng Nam với ông) và những bài do bọn trí thức bồi
bút của chế độ cộng sản chửi cụ Phan Khôi thậm tệ thì có lẽ ông Đằng sẽ
không chạy theo cộng sản? Nên nhớ từ hồi bấy giờ, cụ Phan Khôi đã cảnh
báo nước nhà sẽ bị nô lệ Tàu một lần nữa; chứ không đợi cho tới bây giờ
ông cựu Đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh – tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – la hoảng
về hiểm họa Hán hóa! Nghĩa là cụ Phan Khôi đã biết chắc chắn rằng Hồ Chí
Minh là kẻ bán nước.
Trước đây ông Đằng khoe ông từng bị Tòa án Mặt trận Vùng III Chiến thuật
kết án tử hình khiếm diện, nhưng ông vẫn không sợ, vẫn can đảm hoạt
động nội thành. Nhưng nay sống trong cái chế độ cộng sản của ông thì ông
sợ, chưa bao giờ dám hé môi lên án sự bất nhân, bất nghĩa, bất lương
của chế độ. Đợi cho đến khi nữ nghệ sĩ Kim Chi tuyên bố không thèm nhận
tấm bằng ban khen của một anh Thủ tướng tham nhũng, ăn cắp tài sản nhân
dân thì ông mới lợi dụng cơ hội viết bài khen sự dũng cảm của bà Kim Chi
đăng trên trang mạng Bauxitevn.
Trong bài viết khi nằm bệnh viện của ông Đằng, tôi thấy có rất nhiều
điểm mâu thuẫn nhưng tôi chưa cần nêu lên bây giờ vì ngại bài viết đã
khá dài. Tuy nhiên, có một điểm đáng khen ông Đằng tiến bộ hơn ông Tướng
Nguyễn Trọng Vĩnh một chút. Đó là ông Đằng không còn mang Hồ Chí Minh
ra vái lạy như trong cái thư ông viết cho bà Kim Chi. Còn ông Tướng Vĩnh
thì hết thuốc chữa! Tôi đã viết cho ông Vĩnh một bức thư nêu rõ cái ác,
cái gian trá, phản phúc bán nước của Hồ chí Minh qua những bằng chứng
lịch sử, ông Vĩnh càng ca ngợi Hồ Chí Minh mạnh mẽ hơn, có lẽ vì ông
Vĩnh vẫn tự cho rằng mình đi làm cách mạng; chứ không hề nghĩ rằng mình
là thủ phạm đã nằm trong một Đảng Cướp!
Ông Đằng viết: “Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được”.
E rằng ông Đằng chủ quan quá chăng? Nếu có cuộc bầu cử minh bạch dưới
sự kiểm soát quốc tế đàng hoàng, tôi tin chắc rằng các đoàn thể tôn
giáo, những nhà tranh đấu cho dân chủ nhân quyền được tự do phơi bày tội
ác của cộng sản hơn 70 năm qua thì sẽ họ thu được phiếu của dân oan
hoặc phiếu của người dân không phải đảng viên để loại bỏ chế độ cộng sản
độc tài toàn trị hiện nay ngay. Chính vì sợ mất vị thế thống trị nên
bọn cầm quyền cương quyết thẳng tay đàn áp ngay cả người biểu tình yêu
nước. Làm đầu nậu cộng sản sướng lắm! Tha hồ ăn cướp, ăn cắp. Ai phản
đối thì cứ việc sai côn đồ, du đãng đánh đập, “Côn An” bỏ tù. Dại gì
những ông cộng sản đầu nậu rời bỏ chiếc ghế thơm phức? Chỉ khi nào mất
chức mất quyền, mấy ông cộng sản đầu nậu mới nói đôi câu nghe lọt lỗ tai
như ông Võ văn Kiệt, Nguyễn văn An, Nguyễn Khoa Điềm...
Ông Đằng viết: “Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia.”
Tôi nghĩ chẳng ai thèm ngồi tranh luận về sự đúng sự sai đối với những
người chạy theo cộng sản. Người ta nói về sự sai trái, độc ác của cộng
sản là để mở mắt những kẻ còn u tối, mê muội còn tiếp tục đi theo con
đường tà. Đối với kẻ có một chút lương tri thì chỉ nhìn vào thực trạng
đất nước hôm nay, người dân điêu đứng ra sao, bọn cầm quyền nhu nhược ra
sao thì đủ thấy cộng sản là sai bét bè be rồi! Cái loại đần độn, ngu si
như Nguyễn Phú Trọng và bè đảng còn bám vào cái gọi là “chủ nghĩa xã
hội” là vì cố bám vào chiếc ghế để dễ bề ăn cắp; chứ chẳng phải vì lý
tưởng cái quái gì cả đâu. Ai nấy đều thừa biết điều đó.
Tôi không phải là hạng người chống Cộng cực đoan. Tôi rất ý thức về sự
hòa hợp hòa giải dân tộc, sự đoàn kết để có sức mạnh chống ngoại xâm.
Nhưng tôi không thể đứng chung hàng ngũ với hạng người chẳng nhìn nhận
mình đi theo cộng sản là sai, là làm khổ dân tộc, là làm mất nước và cứ
xưng tụng, vái lạy Hồ Chí Minh, một kẻ tiêu diệt trí thức (nguyên khí
quốc gia), bán nước cầu vinh. Tôi muốn thấy sự ngay thẳng, phân minh,
dứt khoát.
Tôi cũng không phải là người theo chủ nghĩa hoài nghi, ngờ vực bất cứ
điều gì, nhưng là người có kinh nghiệm cộng sản. Cho nên khi đọc bài
viết của ông Đằng kêu gọi đảng viên bỏ đảng tập thể, khen Việt Nam Cộng
Hòa nhân đạo mà sau đó ông vẫn bình an viết tiếp và tiếng nói của ông
vẫn oang oang trên đài phát thanh quốc tế thì tất nhiên tôi tự hỏi phải
chăng Đảng cho phép ông Đằng viết và nói? Bởi vì chỉ cần trương lên tấm
bảng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” như cựu chiến binh
Điếu Cày Nguyễn văn Hải là đủ lãnh 16 năm tù vì tội... trốn thuế hoặc
nhạc sĩ Việt Khang chỉ làm vài bài nhạc tỏ lòng yêu nước là đi tù. Tôi
cứ phân vân tự hỏi rằng những lời tâm huyết của ông Đằng là thực hay
giả, giống như khi xưa Đảng bày ra chủ trương “trăm hoa đua nở” là nhằm
quăng ra một mẻ lưới để biết ai trung thành với đảng, ai chống đảng để
bỏ tù.
Tôi hoan nghênh, cổ vũ những cựu đảng viên hay cảm tình viên cộng sản
phản tỉnh, quay về với dân tộc. Đồng thời, tôi cũng phải thận trọng để
khỏi bị mắc lừa, rồi hối hận không kịp.
Nhận định sau cùng của tôi về bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu
Đằng là sau khi đọc vài ba cuốn sách mới nhìn thấy cái tệ hại của cộng
sản đối với đồng bào và đất nước. Là luật gia, là nhà hoạt động chính
trị, ông Đằng nói đến thành lập đảng đối lập với chính quyền cộng sản có
vẻ rất tài tử, khơi khơi. Ít nhất ông phải phác họa vắn tắt về cái chủ
trương, đường lối như thế nào để người đọc biết ý ông ra sao. Tôi tự
hỏi: Hoặc tại vì bản chất con người ông dễ dãi như khi ông tuyên thệ vào
đảng cộng sản, chẳng cần nghiên cứu điều lệ đảng, cứ việc đưa tay tuyên
thệ trong “một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả”; hoặc ông bỗng nhiên được chỉ thị cấp trên gấp gáp quá nên cứ thế phóng ra bài viết mà chưa kịp sửa soạn!?
Hiện nay các phe cánh trong đảng đang đấu đá lẫn nhau túi bụi. Tôi không
chắc ông Lê Hiếu Đằng đứng về phe nào. Dường ông Đằng đứng vào phe ông
Nguyễn Tấn Dũng qua đoạn văn ông viết như sau: “Tôi rất mừng nghe Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền
chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt
Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo
nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng
bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui
hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách
nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ chính trị
cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến 5 lần.”
Khi mới lên nhậm chức Thủ tướng, ông Dũng tuyên bố một câu làm cho mọi người “hồ hởi” (chữ của cộng sản): “Trong đời, tôi thích nhất là sự chân thật và ghét nhất là sự dối trá”.
Cách đây không lâu, ông Dũng phê phán người xử lý vụ Đoàn văn Vươn là
sai pháp luật, nhưng tiếp theo đó ông Dũng lại thăng chức Tướng cho cái
anh Đại tá Công An sai phạm và ra lệnh cho tòa án vẫn bỏ tù Đoàn văn
Vươn sau khi chống án. Vậy lời nói của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đâu có
giá trị khả tín gì ở cái hội nghị Shangri-La mà ông Đằng hoan nghênh
nhặng xị lên thế kia? Đó là thêm một sự kiện nữa khiến cho tôi không mấy
tin tưởng vào thiện chí dân chủ hóa nền cai trị độc tài, độc đảng hiện
nay.
Ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi đảng viên cộng sản từ bỏ đảng. Chẳng hay bản
thân ông Đằng đã bỏ đảng chưa hay vẫn còn là người cộng sản. Nếu ông
Đằng vẫn còn là người cộng sản thì tôi phải nhớ lời dặn của cố Tổng
thống Nguyễn văn Thiệu: “Đừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”.
Tôi chờ đợi những hành động cụ thể kế tiếp của ông Đằng và cầu mong lời
kêu gọi các đồng chí bỏ đảng ngày càng đông. Nhất là những đồng chí
Công An sống chết với đảng qua câu khẩu hiệu: “Còn đảng còn mình”.
Chúc ông Lê Hiếu Đằng sớm hồi phục sức khỏe để có thể đóng góp một điều
gì tốt lành cho nhân dân cơ cực dưới chế độ cộng sản bất nhân, bất nghĩa
hiện nay.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét