Bác bỏ tin người lao động đi Đài Loan làm việc phải trả cái
giá tới 7-8 ngàn USD/người cho thủ tục và hồ sơ, trả lời phỏng vấn của
báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần hôm 14/07, Thứ trưởng Bộ Lao động và Thương binh
Xã hội (LĐTB & XH) Nguyễn Thanh Hòa nói “việc thu lệ phí quá cao ở
thị trường Đài Loan và các nước khác là có nhưng không đến mức cao như
vậy, chỉ có thể là 6. 000 USD trở xuống”.
Ông Thứ trưởng biết rõ một sự thật hoàn toàn khác, nhưng đã phải dối
trá, cho dù 6 ngàn USD đối với người nghèo đã là món tiền quá lớn.
Là người đã từng dịch thuật hồ sơ cho công nhân lao động tìm kiếm
việc làm tại thị trường Đông Âu, tôi nắm khá chi tiết về vấn đề này.
Một công ty, bất luận nhà nước hay tư nhân, để có giấy phép làm dịch
vụ xuất khẩu lao động kỳ hạn một năm do Bộ LĐTB & XH cấp, phải trả
một số tiền là 200 ngàn USD. Bao nhiêu nộp ngân sách, bao nhiêu “bôi
trơn” thì chỉ có trời hoặc Bộ trưởng biết. Tại sao thời hạn một năm? Một
năm là kiếm khá rồi, nếu muốn tiếp tục thì phải nộp tiếp. Nộp bao nhiêu
phụ thuộc vào thu nhập. Bởi vì danh sách từng đợt xuất cảnh của công
nhân đều phải qua Bộ duyệt nên không thể giấu giếm được. Cho nên, trước
hết các công ty môi giới dịch vụ phải lo tìm cách thu hồi vốn.
Với mức lương lao động phổ thông, ước tính khoảng dưới một ngàn USD,
ví dụ tạm lấy mức 800 USD/tháng cho một công nhân, thì theo hợp đồng
chính thức, mỗi công ty môi giới từ hai phía, Việt Nam và nước ngoài,
được hưởng chính thưc một tháng lương, gọi là “phí dịch vụ khai thác lao
động nước ngoài”.
Thông thường, hợp đồng ký với người lao động có thời hiệu một năm và
có thể gia hạn tới ba năm! Như vậy, để được đi, mỗi công nhân phải chấp
nhận nộp trước “phí dịch vụ khai thác lao động nước ngoài” cho 3 năm,
tức là 800 USD x 3 năm x 2 môi giới = 4.800 USD.
Khoản thứ nhì là “chi phí ngoài”, tức tiền làm thủ tục bảo hiểm, khám
sức khoẻ và chiếu khán nhập cảnh. Chi phí visa này biến hoá khôn lường.
Công ty môi giới có thể giữ nguyên mức chi phí thực hoặc cũng có thể
nói khống lên, nhưng thường khoảng từ vài trăm tới cả ngàn đô, tuỳ theo
từng quốc gia.
Công nhân buộc phải thế chấp với mục đích ngăn chặn bỏ việc làm, phá
vỡ hợp đồng. Hầu hết công nhân là những người nghèo, nên họ thường phải
cầm cố đất, nhà ở, hoặc tiền vay ngân hàng với lãi suất cao (tiền thế
chấp từ vài ngàn USD, tới 10 ngàn hoặc hơn, cũng tuỳ theo từng nước). Số
tài sản thế chấp này sẽ bị mất nếu phá vỡ hợp đồng, các công ty môi
giới và ông chủ ngoại quốc được quyền ăn chia “tiền bồi thường thiệt
hại”!
Như vậy, chưa biết tương lai ra sao, trước khi lên đường, mỗi công
nhân phải chịu tất cả các chi phí và tiền thế chấp, nhiều hơn nhiều số 6
ngàn USD mà ông Thứ trưởng nói.
Những người nghèo đi nước ngoài lao động như bị vứt vào canh bạc và
mong chờ vào sự may mắn. Nước sở tại nào có môi trường xã hội văn minh,
bảo vệ quyền lợi người lao động, thì tuy vất vả nhưng còn thực hiện được
một phần mơ ước. Gặp ông chủ bất nhân, chính quyền sở tại làm ngơ, coi
như mất trắng và đôi khi thân tàn ma dại. Nếu chịu đựng không nổi, phải
phá vỡ hợp đồng ra ngoài kiếm sống, thì người bị mất chính là họ, bởi vì
ông chủ và các công ty môi giới được hưởng lợi hợp pháp số tài sản thế
chấp.
Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước, hiện có khoảng 500
ngàn lao động Việt Nam làm việc ở 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với hơn
30 nhóm ngành, nghề khác nhau. Trong đó, người lao động tại Đài Loan
đứng đầu, với hơn 8 vạn người, tiếp đến là Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản,
Macau, Ả rập Xê út, Cộng hòa Síp… Đáng chú ý, trong số 500 ngàn lao
động có tới 215 ngàn là lao động nữ, chiếm 50,2%, chủ yếu làm việc trong
ngành phục vụ cá nhân và xã hội chiếm 52,9%, công nghiệp 42,2%, nông
nghiệp 1,10%, thủy sản 0,13%, còn lại là các ngành nghề khác. Đây cũng
là đối tượng bị ngược đãi, xúc phạm nhân phẩm, bóc lột sức lao động
nhiều hơn so với nam” (Dân Trí 22/11/2011).
Tờ điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định rằng “trong bối cảnh cạnh
tranh gay gắt về lao động, nhưng Việt Nam vẫn xây dựng được thị trường
lao động đa dạng phong phú, hàng năm đưa được số lao động ra nước ngoài
ngày càng nhiều. Chỉ tính trong 3 năm (2006 – 2008) trung bình mỗi năm
đưa được hơn 83.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài…”.
Với số lượng trên, khoản tiền do công nhân đóng trước khi đi, ví dụ
lương bình quân 8 ngàn USD, các công ty môi giới sẽ có trong tay mỗi năm
664 triệu USD. Một mối lợi khổng lồ, không mất vốn, hơn cả buôn ma tuý
vì hợp pháp. Cho nên, các công ty công và tư cạnh tranh dữ dội trong
việc chạy giấp phép dịch vụ xuất khẩu lao động.
Ngày 29/11/2006 Quốc hội VN đã thông qua “Luật Người lao động VN đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Điều 5 của luật này xác định “tạo
điều kiện thuận lợi để công dân VN có đủ điều kiện đi làm việc ở nước
ngoài” và “bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động…”.
Thế nhưng, rất nhiều nguời bị ngược đãi trên đất lạ hoặc bị các công
ty mối giới lao động lừa gạt. Hoàn cảnh bức bí đã khiến nhiều công nhân ở
Malaysia chạy trốn ra ngoài làm điếm, bổ sung cho con số 3.456 người
trong tổng số 12.434 phụ nữ nước ngoài hành nghề mại dâm bị bắt giữ
ở Malaysia, theo bản tin của BBC 18/07, trở thành nhóm phụ nữ nước
ngoài đứng đầu hành nghề này ở Malaysia.
Cách đây không lâu, tờ Việt Báo có bài “30 công nhân tại Malaysia kêu
cứu vì bị ngược đãi” cho biết hàng chục hộ dân ở Trà Vinh đã kéo đến
công ty môi giới, Công ty Xuất nhập khẩu và Lương thực Trà Vinh, khóc
lóc, van xin công ty giúp đỡ người thân của họ được trở về nước, để
thoát khỏi cảnh bị đánh đập, bỏ đói tại Malaysia.
Bài báo cũng cho biết 30 công nhân trên đã từng “hớn hở đăng ký đi
sang xứ người”, vì “được sự động viên của chính quyền xã”. Sau khi được
đưa lên thị xã Trà Vinh học 4 tháng ngoại ngữ và luật Malaysia, họ lên
Sài Gòn khám sức khỏe và tất cả đều “trúng tuyển”. Trở về nhà, họ vay
tiền ngân hàng và vay “nóng” bên ngoài để có đủ số tiền trang trải các
chi phí dịch vụ và vé máy bay. Chia tay người thân vào ngày 28/11/2004,
họ hân hoan với hy vọng sẽ có “đô” gửi về giúp gia đình. “Nào ngờ, ngày
đầu tiên đặt chân đến Malaysia thì họ mới vỡ lẽ là mình đã bị lừa”, bài
báo viết.
Tờ “The Star” của Malaysia ngày 17/3/2012 đưa tin về 42 người phụ nữ
Việt Nam sống tại thành phố George Town, bán đảo Penang, Malaysia, trong
một căn nhà 4 phòng, mỗi phòng chỉ đủ chỗ ngủ cho năm người, và tất cả
chỉ có một chỗ đi vệ sinh duy nhất. Họ từ Việt Nam sang Malaysia lao
động nhưng không có việc làm, không có tiền gửi về giúp gia đình, một
số đã ở Malaysia một năm rưỡi trong khi hộ chiếu đã hết hạn.
Vào chiều ngày 11/9, từ tầng hai của xưởng may gồm ba tầng ở thị trấn
Yegoryevsk, cách thủ đô Moscow khoảng 100km về phía Đông Nam nước Nga,
nổ ra vụ cháy. Thời điểm xảy ra đám cháy có hơn 50 công nhân Việt Nam
đang làm việc trong xưởng. Trong số nạn nhân thương vong, có 8 nữ, 6
nam. Họ làm việc trong căn phòng nhỏ chỉ rộng khoảng 20 m2, bị ông chủ
khóa cửa ngoài. Trong ngày 23/09/2012, chuyến bay VN194 của Vietnam
Airline đưa hài cốt của 14 nạn nhân về tới sân bay Nội Bài, nhưng không
hề thấy sự có mặt của một vị đại diện nào từ phía nhà cầm quyền, ít nhất
là của Bộ LĐTB & XH.
Mới đây, 20 lao động khác bị ngược đãi ở Nga, sau hơn 4 tháng sống
khổ cực nơi xứ người và gần 1 tháng chờ đợi “giải cứu”, các lao động này
đã về nước an toàn.
Anh Trần Văn Giang (quê Tiên Lữ, Hưng Yên) chưa hết hoàn hồn: “Bốn
tháng ở Nga với tôi là ký ức kinh hoàng. Làm việc quần quật từ ngày này
sang ngày khác mà không có ngày nghỉ, dù là ốm đau. Ăn uống kham khổ,
bẩn thỉu, cộng với sự đối xử bất công của người chủ Trung Quốc khiến anh
em không thể tiếp tục nhịn nhục được nữa”.
Còn anh Lê Trung Kiên (quê Duy Tiên, Hà Nam) cho hay: “Trước khi sang
Nga, tôi ký hợp đồng và đặt cọc 20 triệu đồng, đến nay chưa được trả
đồng nào. Hợp đồng ghi ngày làm 8 tiếng/ngày, nhưng thực tế làm việc 12
tiếng/ngày, thậm chí có ngày làm tới 14 tiếng mà không có ngày nghỉ”
(Thanh Niên 17/5/2012).
Vào cuối tháng 7/2013 cảnh sát nga đã bố ráp và bắt giữ 1.200 công
nhân Việt của nhà máy Vinastar cư trú và làm việc bất hợp pháp. Những
người công nhân đã tố cáo nhà máy giữ công nhân như “nô lệ” ở ngoại ô
Moscow.
Ở Đài Loan, gánh nặng tài chính buộc những người lao động này phải
làm việc cật lực và bằng mọi giá để trả nợ nần. Họ nhanh chóng trở
thành những đối tượng dễ dàng bị các ông chủ người Đài Loan lạm dụng,
bóc lột. Tiền đi vay để chi cho môi giới quá lớn đã đẩy họ vào thảm
cảnh của nô lệ thời hiện đại. Đã không ít lao động bị chủ đánh đập,
ngược đãi, cưỡng bức, tờ Saigontin.com viết.
Miếng ăn xứ người quả thật nhọc nhằn và chứa đầy rủi ro, tuy nhiên
hàng trăm ngàn người lao động vẫn ngây thơ ôm ấp giấc mơ đổi đời, vượt
qua nghèo khó. Tiền vào tay những kẻ bất nhân thật khó đòi lại, trong
khi tình trạng mang con bỏ chợ là hiện tượng phổ cập.
Xuất khẩu lao động đã trở thành quốc sách, vừa có tiền khủng bỏ túi
riêng vừa mang lại nguồn kiều hối lớn cho nhà nước. Và mặc dù các bi
kịch ở xứ người vẫn thường xuyên xảy ra, nhưng “sống chết mặc bay, tiền
thầy bỏ túi”.
Nguồn: © Nhật báo Người Việt

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét