Tháng Năm 2, 2012
Mấy
năm trước tôi có dịp trò chuyện với một anh công an trẻ về “kinh tế tri
thức.” Tôi cố giải thích với anh rằng không có dân chủ tự do thì kinh
tế tri thức không phát triển được.
Tôi ước ao anh bạn này, và các bạn sinh viên
ở Việt Nam hãy đọc bài báo trên tờ Economist trong tuần vừa qua, về
“Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba.” (The third industrial revolution.)
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất bắt
đầu ở thế kỷ 18, khi các xưởng dệt ở Anh quốc dùng máy làm việc thay sức
người. Ðầu thế kỷ thứ 20, công ty Ford làm cách mạng lần thứ nhì, chế
tạo xe bằng phương pháp dây chuyền. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ ba
đang diễn ra, do ảnh hưởng hỗ tương của nhiều hiện tượng: Tạo ra những
vật liệu mới, phương pháp sản xuất mới, tổ chức việc sản xuất và phân
phối theo lối mới.
Nghiên cứu, đầu máy của kinh tế tri thức,
càng quan trọng hơn trong việc chế hóa. Ở Mỹ hiện nay kỹ nghệ chế hóa
(manufacturing) chỉ đóng góp 11% trong tổng sản lượng nội địa; nhưng
trong số tiền tiêu để nghiên cứu, phát minh, canh tân, thì 68% được dùng
cho công nghiệp chế hóa. Người ta đầu tư vào trí não. Hiện nay số sản
xuất hàng chế hóa của Mỹ và Trung Quốc trị giá ngang ngửa nhau; nhưng
bên Mỹ người ta chỉ dùng đến một số nhân công nhỏ bằng 10% số công nhân
bên Tàu; nghĩa là mười người Tàu làm ra bằng một người Mỹ. Trong tương
lai, việc sản xuất hàng loạt sẽ lỗi thời, thay thế bằng phương pháp sản
xuất theo nhu cầu, sở thích từng khách hàng. Chi phí vật liệu sẽ giảm
bớt vì các vật liệu mới ra đời vừa rẻ, vừa nhẹ, vừa bền cứng hơn. Sản
xuất một món hàng ở Mỹ hay ở Trung Quốc cũng không quan trọng nữa vì tỷ
lệ chi phí về nhân công không đáng kể (hiện nay trong giá một cái iPad
500 đô la chỉ có 33 đô la trả cho công nhân khắp thế giới, mà trong đó
lại chỉ có 8 đô la cho người Trung Quốc làm những việc dễ nhất). Tất cả
các sáng kiến mới này không phải do một nhóm người nào nghĩ ra. Ðó là do
đóng góp của rất nhiều người qua mạng Internet, chia sẻ ý kiến và phát
minh trong một hệ thống mở, giống như Facebook vậy.
Một thí dụ, là công ty Quirky ở thành phố
New York. Công việc của nó là biến sáng kiến của người khác thành sản
phẩm bán được. Một học sinh trung học ở Milwaukee đưa sáng kiến đầu tiên
lên mạng Quirky, về một con chấu cắm điện, có thể dùng ở Mỹ, Âu Châu, Á
Châu, Úc, vân vân, vì lỗ để cắm điện mỗi nơi khác nhau. Cậu học sinh
tên là Jake Zien đã vẽ kiểu một con chấu có thể dùng ở bất cứ nơi nào
trên thế giới, tiện hơn những cái đang bán trên thị trường. Quirky đem
chế thử rồi đưa lên mạng lưới của họ; có 709 người góp thêm ý kiến về vẽ
kiểu, vật liệu, nghiên cứu thị trường, ước định giá cả, hệ thống phát
hành, vân vân. Sau cùng, cái đầu cắm được đưa cho nhà máy sản xuất, với
giá dưới 30 đô la Mỹ. Tới Tháng Tư năm 2012, đã hơn 200,000 người mua.
Những người góp ý kiến được chia 30% số tiền công ty Quirky thua về,
riêng cậu Jake Zien đã được trả 124,000 đô la, và còn sẽ được trả thêm.
Ðiều đặc biệt trong câu chuyện trên là
một “hệ thống mở” để mọi người có thể cộng tác, chia sẻ sáng kiến, chia
sẻ công trình và thành quả. Việc sản xuất trong nền kinh tế tương lai sẽ
diễn ra mô thức đó. Một thí dụ khác: Công ty Shapeways ở Hòa Lan,
chuyên sản xuất bằng “máy in 3 chiều” (3D-printing). Nếu chưa biết
3D-printer là cái gì thì các bạn là những độc giả hơi “chậm tiến” hơn
người ta mất mấy năm rồi. Nó giống như cái máy in laser đi kèm các máy
vi tính vậy. Máy in chỉ “đặt” mực lên trên tờ giấy, theo lệnh của một
chương trình điện toán, tạo thành chữ, thành hình hai chiều. Máy 3-D đặt
nhiều lớp chồng lên nhau, không dùng mực in mà dùng các vật liệu khác,
như plastic, kim loại, bất cứ hợp chất nào có thể làm cho hơi “lỏng
lỏng.” Cứ như vậy nó sẽ “in ra” bất cứ cái gì, như một hàm răng giả, một
bộ phận tinh vi trong máy bay hoặc vệ tinh nhân tạo, một đôi giầy hay
một cây vĩ cầm; miễn là cái họa đồ đã được mã hóa theo kỹ thuật số. Một
bệnh nhân ở giữa rừng Phi Châu cần một bộ phận tinh vi chữa bệnh tim có
thể được “in” ra ngay tại chỗ, thay vì chờ một công ty ở Ðức chế tạo,
đóng gói, gửi máy bay chở qua. Công ty Shapeways ở Hòa Lan năm ngoái bán
ra khắp thế giới 750,000 sản phẩm chế theo phương pháp 3-D, và số
thương vụ còn gia tăng. Phương pháp “in 3-D” đã được phát bằng sáng chế
từ năm 1986, đến nay ngoài những máy dùng trong kỹ nghệ giá hàng triệu
đã có loại máy 3-D cá nhân bán với giá mấy ngàn. Năm 2010 mới có gần 6
ngàn người mua, năm sau số tiêu thụ đã lên gần 24 ngàn máy 3-D cá nhân.
Shapeways được gọi là một “cộng đồng chế tạo trên mạng” (online
manufacturing community) bởi vì người ta có thể upload (gửi) họa kiểu
(design) món hàng mình cần tới, được cho biết ngay giá cả, tùy theo muốn
làm bằng vật liệu nào. Người “mua” có thể rao bán món hàng đó trên cùng
mạng lưới, món hàng có thể được thay đổi tùy theo ý kiến của khách hàng
mới, vân vân.
Hai câu chuyện trên đây cho thấy việc sản
xuất và tiêu thụ đang thay đổi. Mọi người cộng tác với nhau, trên những
mạng mở cho công chúng. Xin kể một thí dụ thứ ba, về việc phát minh
những vật liệu mới.
Một nhóm nhà nghiên cứu tại Ðại Học MIT
đang tìm cách dùng vi khuẩn chế ra những vật liệu mới, sau khi quan sát
những vỏ sò. Giáo Sư Angela Belcher thấy chính các vi khuẩn đã dùng các
chất dưới đáy biển mà biến chúng thành những hợp chất rất cứng, như vỏ
con bào ngư. Diễn trình này xẩy ra 500 triệu năm trước đây. Nhóm nghiên
cứu của bà đã cố dùng những vi khuẩn vô hại này tạo ra những chất liệu
mới dùng trong kỹ nghệ. Hiện họ đã thành công và áp dụng vào nhiều ngành
công nghiệp, thí dụ, làm pin (battery). Từ các phát kiến đó bà Belcher
đã lập ra hai công ty để dùng vi khuẩn trong việc chế ra những vật liệu.
Trong nhóm này, ông Gerbrand Ceder đã dựng ra một tổ chức cung cấp tin
tức về đặc tính của các vật liệu trên mạng, với mục đích trao đổi hoàn
toàn miễn phí. Bao nhiêu người hăng hái tham dự trong vòng ba bốn tháng
mạng này đã đăng tải các tính chất của 20,000 chất khác nhau. Thay vì
phải đi tìm nhau, các nhà nghiên cứu có thể lên mạng và tìm thấy những
chất gì mình cần, nếu hợp với chất khác thì kết quả ra sao.
Cộng tác qua Internet không phải chỉ ích
lợi trong kinh tế, mà còn mang lại những kết quả lớn không ngờ trong cả
công tác từ thiện nữa.
Hiện nay các tổ chức cứu trợ quốc tế đang
sử dụng một mạng tên là Ushahidi, để thu thập, phổ biến và cập nhật các
tin tức cần thiết khi muốn đối phó với các thiên tai. Ushahidi do bà
Ory Okolloh, người Keynia lập ra năm 2008, sau những cuộc bạo loạn xẩy
ra và nhiều phụ nữ bị cưỡng hiếp. Biết rằng các con số trên báo chí
không đầy đủ, bà dùng blog của mình kêu gọi mọi người dân Kenya cho thêm
các tin tức mới. Số thông tin tràn ngập, bà Okolloh phải mở ra một diễn
đàn mạng (platform), và chỉ trong một ngày mạng Ushahidi đã nhận được
đủ các thông tin liên can đến các nạn nhân của cuộc bạo loạn. Nhiều
người tham dự vào mạng, gửi tin đến bằng điện thoại di động, cuối cùng
mạng Ushahidi có những tin cập nhật hơn tất cả các cơ quan truyền thông
và chính quyền. Năm 2010, khi cuộc động đất ở Haiti xẩy ra, anh Patrick
Meier ở Mỹ đã dùng mạng Ushahidi để thiết lập một trung tâm thông tin
mới, Ushahidi-Haiti, chỉ trong vòng mấy giờ là được người Haiti gửi cho
bao nhiêu tin tức, hàng trăm người giúp việc thông dịch và kiểm tra các
thông tin, nhờ thế các cơ quan cứu trợ quốc tế có thể điều hợp việc cứu
trợ dễ dàng hơn – mặc dù anh Meier ở cách xẩy ra nơi động đất 2,500 cây
số.
Qua các thí dụ trên, người ta thấy một
hiện tượng chung: Người tiêu thụ tham dự việc sản xuất và phân phối;
chính các nạn nhân tham dự vào việc cung cấp dịch vụ cứu trợ. Internet
đang thay đổi thế giới; cả nền kinh tế lẫn việc quản lý công tác xã hội,
mà yếu tố quan trọng nhất là sự tham dự của đông đảo mọi người. Ðiều
kiện thiết yếu là người ta được sống trong những không gian mở rộng,
được tự do tham dự và trao đổi thông tin.
Ðó là đời sống bình thường của loài
người, trong tương lai. Nhờ sống trong những hệ thống mở, kinh tế sẽ
tiến bộ nhanh, vì bao nhiêu bộ óc sáng tạo được quy tụ, phối hợp trên
các mạng, việc kinh doanh sẽ dễ dàng hơn vì người tiêu thụ cũng tham gia
trong việc sản xuất. Các tổ chức xã hội, các cơ quan chính quyền sẽ đáp
ứng nhu cầu của “người tiêu thụ” một cách nhanh chóng và thích nghi
hơn.
Ðiều kiện quan trọng nhất là mọi người
được kính trọng, được cho phép tham dự vô điều kiện. Ðó là căn bản của
các chế độ tự do dân chủ.
Trong khi cả thế giới đang tiến tới ào
ào, nhờ các mạng lưới mở cho mọi người tham dự và cộng tác với nhau, thì
ở một số nước chậm tiến người ta vẫn còn kiểm duyệt và cấm đoán những
phương tiện truyền thông xã hội, như Facebook, Twitter, vân vân. Ðọc bản
tin về cuộc đấu trí giữa giới trẻ ở Trung Quốc với nhà cầm quyền, khi
họ tìm cách ngăn chặn các thông tin về Luật sư mù Trần Quang Thành,
chúng ta không chỉ thấy buồn cười mà còn lo cho tương lai nước Trung
Hoa. Cứ lo cấm đoán, ngăn chặn các mạng lưới trao đổi thông tin như vậy
thì bao giờ người ta mới tiến được?
Dân chủ là điều kiện thiết yếu để phát
triển, cả về kinh tế lẫn xã hội. Các chế độ độc tài thường nại cớ rằng
dân chúng còn chưa đủ trình độ để bắt đầu dân chủ hóa. Nhưng nhìn sang
một nước như Keynia, trình độ dân của họ có khá gì hơn dân Việt Nam hay
Trung Quốc hay không? Tại sao người ta để cho dân được sống tự do hơn?
Nếu không bắt đầu dân chủ hóa, thì đến bao giờ dân một nước mới đủ trình
độ để sống tự do dân chủ?
Giống như một cô gái than, “Bố mẹ cháu cứ
hỏi bao giờ cháu mới chịu lấy chồng. Nhưng hôn nhân là một quyết định
phải tính toán cẩn thận. Cháu nghĩ nếu mình không biết cho rõ thì thà
rằng đừng quyết định vội vàng.” Tôi hỏi: “Cháu có biết bơi không?” “Cháu
đã tập bơi trước khi vượt biên.” “Thế thì chuyện lấy chồng cũng giống
như tập bơi vậy. Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi
cả.”
Dân chủ hóa cũng giống như tập bơi lội.
Nếu không nhảy xuống nước thì không bao giờ biết bơi. Dân chủ hóa cũng
giống như lập gia đình, cứ chờ mãi thì sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái!
Nhưng có một điều khác biệt, là nhiều
người có thể quyết định không lập gia đình, sống độc thân suốt đời vì lý
tưởng tôn giáo chẳng hạn, mà vẫn sống hạnh phúc. Nhưng một quốc gia thì
không thể nào không bước qua tiến trình dân chủ hóa. Vì nếu người dân
không được tự do thì kinh tế không thể phát triển được. Kinh tế thế giới
đang thay đổi lớn, trong vòng một thế hệ nữa cuộc cách mạng công nghiệp
thứ ba sẽ khiến các mô thức kinh doanh hiện nay trở thành lỗi thời hết.
Các nước chậm chân trên đường dân chủ hóa sẽ chịu cảnh lạc hậu mãi mãi.
Ðại Học Kỹ Thuật Vaal ở Nam Phi đã mở một khoa cho các sinh viên dùng
máy in 3-D học nghề họa kiểu và sản xuất; họ đang mở thêm một chi nhánh
tại miền quê. Không biết bao giờ các sinh viên Việt Nam mới được dùng
các máy đó trong phòng thí nghiệm?
This entry was posted in Ngô Nhân Dụng. Bookmark the permalink.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét