Van Nguyen Duong
April 13, 20130 Bình Luận

Trước năm 1975, ở miền Nam, ông Phạm Văn Sơn là một trong rất ít những vị viết sử. Bộ sử được nhiều người biết đến nhất của ông là bộ Việt Sử Tân Biên.
Tôi hân hạnh được làm việc dưới quyền chỉ huy của ông từ năm 1958 đến
1960. Thời gian này ông mang cấp bậc Thiếu tá, giữ chức vụ Chỉ huy
trưởng Trường Quân Báo & Chiến Tranh Tâm Lý Cây Mai; tôi mang cấp
bực Trung úy, là huấn luyện viên và sĩ quan an ninh của Trường. Chính
trong thời gian này, ông đã tu chỉnh bộ sử nói trên và cho tái bản.
Những
thì giờ nhàn rỗi, tôi đã tình nguyện giúp ông. Tôi được ông giới thiệu
đến gặp ông Lê Ngọc Trụ, công chức làm việc ở Thư Viện Quốc Gia –lúc đó
còn nằm trên đường Gia Long– để nhờ hướng dẫn sưu tầm tài liệu. Ông Lê
Ngọc Trụ còn là một học giả, giảng sư Ngữ học của Đại học Văn khoa
Saigon, đã chỉ dẫn cho tôi tìm được khá nhiều tài liệu và sách viết bằng
tiếng Pháp về thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Các tài liệu này cũng như
những tài liệu quí giá khác, giúp cho ông Phạm Văn Sơn tu chỉnh Việt Sử Tân Biên. Thời gian làm việc với ông, tôi đã học được ở ông nhiều điều về viết lách.
Năm 1961, trường Cây Mai đổi tên, chỉ còn là trường Quân Báo. Ngành
Chiến Tranh Tâm Lý tách ra riêng, đuợc dạy riêng ở một trường của ngành
này, mới thành lập, ở một địa điểm khác; do đó, Thiếu tá Phạm Văn Sơn
cũng được thuyên chuyển về ngành Chiến Tranh Chính Tri… Sau đó không
lâu, ông được bổ nhậm vào chức vụ Trưởng Ban Quân Sử của Quân Lực VNCH,
thuộc Bộ Tổng Tham Mưu. Ông lần lượt được thăng đến cấp Đại tá và giữ
nhiệm vụ này cho đến trước ngày miền Nam sụp đổ.
Tôi nghĩ rằng, với khả năng của ông và và dưới sự chỉ đạo của người
viết sử sở trường và kinh nghiệm như ông, hẳn là Ban Quân Sử Quân Lực
VNCH đã viết được những bộ sử chiến tranh VN cận đại quí giá, nhất là
binh sử thời kỳ sau năm 1954 trở đi. Tôi nghĩ như vậy vì tôi biết ông
Phạm văn Sơn rất thận trọng, không thể khinh xuất trong nhiệm vụ của
mình và càng không thể để cho thuộc cấp khinh xuất. Ngày trước ông
thường bảo tôi: “Phải cố gắng làm sao cho mức độ trung thực và chính xác
cao chừng nào tốt chừng đó, như vậy những điều mình viết về sử mới mong
có thêm một chút giá trị. Việc sưu tập những sự kiện, chứng tích, tài
liệu có độ xác tín cao nhiều chừng nào thì việc so sánh, nghiên cứu,
lượng giá, đối chiếu…dễ chừng nấy”. Đó là lề lối làm việc nghiêm cẩn,
thận trọng của ông. Vì vậy sau này, năm 1972, tôi đã không ngạc nhiên
khi chiến trường An Lộc còn đang sôi động với những trận đánh đối tuyến
chỉ cách nhau có một con đường, giành nhau từng góc phố –giữa các đơn vị
VNCH và quân CS Bắc Việt– khi những cơn pháo kích dữ dội của địch quân
chưa giảm, khi không một chiếc trực thăng nào đáp xuống An Lộc mà không
sợ tan xác, tôi đã thấy ông hiện diện ở chiến trường này để tìm hiểu sự
thật viết về trận chiến khốc liệt đó.
Lúc bấy giờ, tôi là Trưởng Phòng 2, Bộ Tư Lệnh SĐ5BB –cũng là Bộ Tư
lệnh Hành Quân Chiến Trường An Lộc– của tướng Lê Văn Hưng, đã cung cấp
cho Đại tá Phạm văn Sơn những tài liệu, sự kiện “sống” nóng bỏng, chính
xác và đầy đủ. Tuy nhiên, muốn viết cho trung thực hơn, ông đã ở lại
trong hầm chống pháo với tôi một đêm thức trắng để nghe tiếng đạn pháo
của địch quân rơi trên đầu mình và xung quanh đâu đó, vừa hỏi tôi thật
chi tiết về những sự kiện ghi trong nhật ký hành quân (mỗi phòng của Bộ
Tư Lệnh Hành Quân đều có) kể cả tài liệu, cung từ tù binh của địch bắt
được trong các trận đánh trước ở đó.
Sau
khi ông rời An Lộc, không bao lâu mặt trận được giải tỏa, tôi đến Bộ
Tổng Tham Mưu để gặp ông thì được biết ông đã ra Quảng Trị làm nhiệm vụ
như đã làm ở An Lộc. Như vậy ông và những sĩ quan thuộc cấp trong Ban
Quân Sử đã hiện diện ở khắp chiến trường lớn để tìm sự thật viết binh
sử… Tôi nêu lên những chi tiết trên đây mong các bạn hình dung được tư
cách khả trọng của một người viết sử chân chính, ông Phạm văn Sơn, một
người đã thành danh trong giới trí thức VN, để rồi tôi xin kể lại những
ngày cuối cùng bi đát trước cái chết thảm thương của ông trong lao tù,
dưới chế độ bất nhân, tàn độc của CSVN.
Ngày
30/4/75, như mọi người đều biết, Dương Văn Minh, một tổng thống phi
hiến, tuyên bố đầu hàng CS Bắc Việt vô điều kiện, Quân Lực VNCH bị bức
tử, buông súng, tan rã. Một số tướng lãnh, sĩ quan cấp tá, cấp úy tuẫn
tiết. Tất cả những sĩ quan còn lại ở miền Nam vào lúc đó, bị dồn vào các
trại tập trung tạm trong lãnh thổ miền Nam, cùng với các cấp chỉ huy
cảnh sát, công chức cao cấp, các nhà hoạt động chánh trị trong các đảng
phái miền Nam và các vị tuyên uý Công giáo, Tin Lành và Phật giáo trong
QLVNCH. Một năm sau, CSBV đưa tất cả những người mà họ gọi là có “nợ máu
nhiều nhất với nhân dân” ra miền Bắc, giam giữ và bắt lao động khổ sai ở
những trại giam trong rừng sâu nước độc Thượng du và Trung du Việt Bắc.
Một số sĩ quan và công chức khác còn bị giam giữ ở các trại cải tạo
miền Nam.
Tháng 6, năm 1976, đợt tù nhân đầu tiên bị đưa ra Bắc, trong đó có tôi,
bị dồn cứng dưới khoang của những chiếc tàu thủy cận duyên cỡ nhỏ, loại
chuyên chở của quân đội CSBV. Sau 4 ngày 4 đêm, tàu cập ở Bến Thủy
thuộc Vinh. Từ đó vào nửa khuya, chúng tôi bị chuyển vào bờ, lần này thì
bị dồn vào các toa tàu hỏa dùng để chở súc vật, lên phía Bắc. Ngày
15/6/76 –ngày duy nhất mà tôi nhớ suốt 13 năm tù– đúng một năm sau ngày
tôi đưa đầu vào cùm ở trường Don Bosco ở Gò Vấp, trên chuyến tàu hỏa nói
trên, qua một kẽ hở thật nhỏ của toa tàu, tôi đã nhìn thấy nhà thương
Bạch Mai và ga Hàng Cỏ, những địa danh của Hà Nội mà tôi đã được đọc qua
trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn thuở tuổi học trò. Hai sĩ quan
tù nhân cấp Tá đã ngộp thở chết trong toa chở súc vật, quãng giữa đường
Việt Trì – Yên Bái. Kể từ đó, có thêm hàng trăm tù nhân đi trên những
chuyến tàu định mệnh này đã ngã xuống ở các trại tù miền Bắc, vĩnh viễn
không còn thấy được những chuyến tàu xuôi Nam…Trong số những người này
có Sử gia Đại Tá Phạm Văn Sơn.
Một
số tù nhân trên dưới một ngàn người trên các toa tàu này được đổ xuống
ga Yên Bái; tôi cũng nằm trong số “tù” này. Từ ga Yên Bái, bộ đội CS
dùng xe quân sự Molotova chuyển chúng tôi theo đường bộ lên Sơn La giam
giữ ở các trại giam “quân quản” dành cho các sĩ quan miền Nam. Tôi ở đó
được một năm rồi bị chuyển sang trại giam công an, cũng ở Sơn La, trong 2
năm nữa.
Năm 1979, trước cuộc chiến ngắn ngủi giữa Trung Cộng và CSVN không bao
lâu, tất cả chúng tôi — những tù nhân chính trị — ở những trại giam trên
các tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Bắc được chuyển về các trại giam
vùng Trung Du và các tỉnh phía nam, tây nam Hà Nội, như các trại giam
Tân Lập (Vĩnh Phú), Nam Hà (Nam Định), Thanh Phong (Thanh Hóa, Nghệ
Tĩnh)… Sự chuyển dồn trại như vậy làm cho đời sống lao tù chúng tôi đã
cơ cực càng cơ cực hơn, ăn đã đói càng đói hơn, mỗi người không có được
đến 4 tấc chiều ngang để có thể nằm ngửa, phải nằm nghiêng chen chúc lẫn
nhau mà ngủ sau mỗi ngày lao động nặng nhọc, nên phòng giam nào cũng
hôi hám, thiếu ánh sáng, thiếu không khí đến ngộp thở. Bao nhiêu chứng
bệnh ngặt nghèo nguy hiểm đã bộc phát trong anh em chúng tôi, thuốc men
không có để trị bệnh. Mạng sống của mọi người bị Tử Thần rình rập từng
ngày, từng đêm.
Đa
số anh em chúng tôi được đưa về trại giam Tân Lập do công an quản chế,
bây giờ đặt dưới sự chỉ huy của Trung Tá Công an Nguyễn Thùy. Tân Lập là
một hệ thống trại gồm một trại chính và nhiều phân trại thường được gọi
là K, đánh số từ K1 đến K7, nằm rải rác hai bên bờ một nhánh sông bắt
nguồn từ sông Lô, chảy qua xã Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Tôi đến Tân Lập
ngày nào năm đó, đã không còn nhớ nữa, chỉ nhớ là lúc đó trời đã bắt đầu
trở lạnh… Dù vậy, sau mỗi buổi lao động vẫn phải theo mọi người ra
những bãi vắng trên sông này để tắm trước khi về trại. Chính ở các bãi
tắm này chúng tôi mới thấy hình hài khốn khổ của nhau, vì mọi người đều
trần truồng. Trong khi số tù nhân từ Sơn La mới chuyển về, người ngợm
còn chút thịt da, thì, những anh em tù đã ở trại giam K2/Tân Lập từ mấy
năm trước thân thể chỉ còn da bọc xương… Đến hai bên mông là nơi lý ra
phải còn có chút thịt, cũng chỉ thấy có xương xẩu nhô hẳn lên, trông
thật thảm não. Khi tắm ai cũng rét run, vì cái lạnh của trời và nước làm
cho mọi người thấu buốt ruột gan…bởi trong người không còn năng lượng
đề kháng nào nữa.
Tôi
nói lên những điều này để chỉ rõ chế độ quản chế, đối xử với tù nhân
chính trị của trại giam Tân Lập cay nghiệt hơn bất cứ trại giam nào mà
chúng tôi đã trải qua trước đó, mặc dù chúng tôi biết rằng với chế độ
tập trung cải tạo, trại giam là nơi CSVN giết người kín đáo nhất, ít đổ
máu nhất, bằng áp đặt khổ sai vắt sức, bằng bỏ đói trường kỳ… khiến cho
tù nhân chết mỏi mòn vì kiệt sức, vì bệnh hoạn hay vì những lý do mờ ám
khác nữa. Không một ai trong chúng tôi, lúc đó, thoát khỏi sự thách đố
của định mệnh, của cái chết đến bằng nhiều cách ở bất cứ lúc nào. Ở Tân
Lập, Trung tá Nguyễn Thùy và cán bộ Công an trại giam đã làm hơn những
điều chúng tôi đã nghĩ, đã biết. Vì thế các tù nhân chính trị chết trong
các phân trại Tân Lập nhiều hơn bất cứ nơi nào khác. Riêng ở phân trại
K2, mấy tháng mùa đông cuối năm 1979, đầu năm 1980, mỗi ngày ít nhất
cũng có 1 đến 2 tù nhân chết; con số tù nhân đến bệnh xá (không có một
thứ thuốc men nào để trị bệnh), hằng ngày hơn 200 người, mục đích không
phải là để xin trị bệnh, nhưng để được khám, chứng nhận là là “có
bệnh”–khỏi đi lao động– được ngày nào đỡ ngày đó, mặc dầu họ là những
người bệnh thực sự cần phải được điều trị và miễn làm việc… chớ đừng nói
là lao động nặng.
Tại K2/Tân Lập, trong hoàn cảnh chung như vậy, tôi đã gặp lại Đại tá Sử
gia Phạm Văn Sơn. Tôi đã nhìn thấy tận mắt những ngày sống bi đát cuối
cùng của đời ông.
Chừng một tháng sau khi đến K2, một buổi trưa, tôi và một người bạn tù
khác cùng đợi đến phiên phải lên phạn xá gánh cơm về cho anh em trong
đội ăn sau buổi lao động; trong khi chờ đến lượt mình nhận cơm, tôi đã
vơ vẩn đến bên ngoài hành lang của một căn phòng nhỏ cạnh phạn xá. Tôi
thấy một người, nhận ra ông, mà cứ ngỡ là đôi mắt mình đã nhìn lầm. Ông
chính là Đại tá Phạm Văn Sơn, vị chỉ huy trưởng ngày xưa của tôi. Ông
chỉ còn là cái bóng âm thầm, một cái xác sắp mục nát, bất động, câm nín
sau chấn song sắt, bên trong cửa sổ của căn phòng “cách ly”. Duy đôi mắt
hiền hòa thì vẫn tinh anh như thuở nào. Rõ ràng ông đang hiện hữu như
một tĩnh vật có linh hồn sáng suốt, đang nhìn ngắm mọi sự vật đổi thay,
quay cuồng điên đảo với những nhận định xuyên suốt, những ý nghĩ sâu
sắc, cao xa nào đó một cách hữu thức… Vì chính đôi mắt nhìn lắng sâu và
sáng kia là “cửa sổ linh hồn”, cho tôi biết điều đó về ông.
Tôi nhìn ông và ông nhìn tôi.
Trong một thoáng, quá khứ như chổi dậy; không biết vì mừng rỡ hay vì ngỡ ngàng xúc động, tôi chợt buộc miệng gọi lên:
– “Thầy”!
Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà… ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi người. Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôi. Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cười. Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nào.
– “Thầy”!
Chỉ một tiếng rồi lặng thinh. Tôi còn biết nói gì hay làm gì hơn khi mà… ai cũng biết rằng mình bất lực trước hoàn cảnh bất hạnh nào riêng của mỗi người. Mắt ông hình như sáng hơn, ông đã nhận ra tôi. Trong gương mặt đã biến dạng, sần sùi của ông, với đôi môi khẽ chớp động, tôi đã nhìn thấy một nụ cười. Ông đã hiểu rõ tâm trạng của tôi, tuy ông lặng lẽ không nói một lời nào.
Không một dấu hiệu, ông rời song cửa sổ. Chỉ chưa đầy một phút sau,
cánh cửa ra vào của căn phòng nhỏ –đang khép hờ– mở rộng ra. Ông đứng ở
ngưỡng cửa, thẳng thớm như đứng giữa giang san của mình, một giang san
thu hẹp đến thật nhỏ nhoi, lạnh lẽo, cô đơn… Với thế đứng vững vàng như
vậy, ông đã cho tôi ý nghĩ là, chính nơi này, nơi thật nhỏ nhoi này, là
nơi ông đã tìm ra nguyên ủy, phương trình giải quyết và kết luận cho một
nan đề khó giải quyết nhất, hay ông đang ấp ủ một điều gì thật to tát
trong tư tưởng của ông. Nhận xét của tôi không thể nhầm lẫn vì ngày xưa
nhiều lần tôi đã nhìn vào mắt và tư thế của ông mà đoán đúng những gì
ông định ra lệnh cho tôi hay muốn nói cùng tôi. Ở lần gặp lại này, tôi
cũng cảm nhận được ý nghĩ của ông như thuở đó.
Tôi định bước vào hành lang, tiến đến gần ông nhưng kịp thấy ông nhìn
tôi khẽ lắc đầu. Tôi dừng lại và ghi nhận đầy đủ hơn tín hiệu của căn
bệnh ghê gớm đã và đang tàn phá cơ thể của ông. Ông đứng thẳng, hai tay
chập lại để trước người. Những ngón tay đan chéo vào nhau. Chỉ nhìn tôi
không nói một lời nào. Ngày đó, trời vẫn lạnh căm. Tuy nhiên, tôi nghĩ
không phải vì trời lạnh mà ông trùm kín đầu bằng một chiếc khăn lông
trắng đã trở màu vàng, bẩn và lấm tấm những vệt máu, mủ. Vòng khăn quấn
kín cổ chỉ chừa có đôi mắt, mũi, miệng và một phần rất nhỏ ở hai bên má.
Ông trùm kín mặt như vậy có lẽ để che bớt đi những vết lở lói trên mặt
mình, bởi chứng bệnh nan y của ông.Thân thể gầy gò nhưng cộm lên vì mặc
nhiều lớp áo quần bên trong. Bên ngoài, ông mặc một chiếc áo mưa màu nhà
binh đã thật cũ, sờn rách một đôi nơi. Chân được bó lại bằng những mảnh
vải quần áo cũ xé ra, dính đầy bụi đất và những vết máu, vết mủ. Chỉ có
một phần mặt mũi và hai tay của ông lộ ra, các phần thân thể khác không
thấy được. Và chỉ có vậy thôi, tôi cũng nhận ra rằng không phải ông
mang chứng lở lói bình thường mà tôi đã từng thấy, từng biết. Mũi ông đỏ
ửng, bóng; hai má cũng vậy, cộng thêm một số vết lở lói; lông mi ở mắt
đã rụng. Hai bàn tay cũng có những vết lở tấy, nhưng các ngón tay đã co
lại, móng tay nhiều ngón đã bị khuyết lại hay mất hết: Ông bị chứng
phong hủi (leprosy) ở thời kỳ trầm trọng. Vì không có thuốc điều trị và
vì điều kiện vệ sinh không thể có được trong tù nên bệnh phát triển rất
nhanh. Đó là lý do tại sao chỉ mới đi tù trong vòng bốn, năm năm ông đã
trở thành người tàn phế, bị cách ly riêng biệt. Có lẽ người ta gán cho
ông chứng bệnh lở lói là để tránh sự loan truyền căn bệnh cùi trong trại
giam. Vả lại ông bị “cách ly”, chỉ được ra ngoài vào những giờ mọi
người đã đi lao động, không còn ai trong trại, nên ít ai biết rõ. Nhưng
chính ông, ông biết rõ bệnh trạng của ông. Tôi nhìn ông thật lâu, trong
lòng xót xa, không biết phải nói gì, làm gì. Vị sĩ quan cao cấp chững
mực với quân phục chỉnh tề trang nghiêm ngày xưa nay đã mang hình hài
của một người tàn phế mà ai cũng có thể gặp ở đâu đó. Đôi mắt tôi nói rõ
sự thương cảm của tôi đối với ông. Và một lần nữa ông cười, nụ cười
nhăn nhún với một chiếc răng khểnh trong môi, như ông muốn nói với tôi
rằng: -”Tôi chấp nhận định mệnh của tôi, nhưng tư tưởng của tôi đã vượt
khỏi thân xác nhỏ nhoi tàn phế của tôi rồi. Anh đừng thương hại cho
tôi.”
Sau
nụ cười là ánh mắt nhìn tôi sâu hơn. Trong ánh mắt đó, tôi đã ghi nhận
được sự thương xót của ông đối với tôi. Hình như ông đã nhìn thấy lại
người sĩ quan thuộc cấp trẻ tuổi của ông ở những ngày xưa, còn độc thân,
mặt còn non sữa, nhưng sáng sủa và nhanh nhẹn, đã từng lúc làm ông hài
lòng, cùng từng khi khiến ông phải chỉ bảo…Ngày nay, hắn ta đã trở thành
một người cằn cỗi, gầy ốm, lam lũ với áo quần chùm đụp rách rưới, má
hóp, mắt thâm vì những ngày thiếu ăn, những đêm thiếu ngủ. Hơn thế nữa,
hắn ta còn chưa biết phải làm gì trong cảnh tù đày và trong tương lai.
Tôi chưa biết nói gì thêm, làm gì thêm, ở buổi gặp lại ông trong hoàn
cảnh khốn khổ đó, thì anh bạn cùng tôi đi lãnh cơm, tìm được tôi, thấy
tôi đang đứng “nói chuyện” với Đại tá Sơn. Anh đến gọi tôi vì cơm anh đã
lãnh xong để ngoài sân phạn xá. Tôi tần ngần một phút nhưng rồi cũng
phải theo anh trở lại phạn xá gánh cơm về cho anh em ăn. Chúng tôi chào
từ giã ông, không thấy ông trả lời. Tôi quay đi, mang theo nỗi buồn thật
lớn. Anh bạn nói với tôi:
– “Đại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyễn, bệnh tim và lao phổi. Ông không hề nói chuyện với ai.”
Tôi trả lời ngắn: -”Ông là boss cũ của tôi.”
– “Đại tá Sơn đó, ông ta bị chứng bệnh nan y, vừa bị suyễn, bệnh tim và lao phổi. Ông không hề nói chuyện với ai.”
Tôi trả lời ngắn: -”Ông là boss cũ của tôi.”
Suốt
ngày hôm đó tôi thẫn thờ vì những ý nghĩ miên man trong đầu óc tôi. Đêm
đó cũng không thể ngủ được. Tôi suy nghĩ về ông và những ngày tù đày
của chính bản thân tôi. Quả thật, trong lần đối thoại bằng mắt ở buổi
gặp lại lạ lùng này, ông đã nói với tôi thật nhiều về thân phận của ông
và của tôi. Tôi biết rõ ông đã vượt khỏi cái thân xác bệnh hoạn yếu đuối
nhỏ nhoi của con người, dẫn phần tâm linh của ông đến một cõi an bình
nào đó, như một tín đồ công giáo tin tưởng sự an bài của Đấng Tạo Hóa về
định mệnh của mình. Hơn thế nữa, trong tư tưởng, ông không chỉ còn là
một người viết sử bình thường, một sĩ quan bình thường, mà đã trở thành
một triết gia lớn biết cả cội nguồn của dân tộc và tổ quốc. Tâm trí ông
đã đi ra ngoài thân thể ông để đến một khung trời bao la nào đó, cao
rộng, hay ít nhất cũng phủ trùm trên bờ cõi VN. Rõ ràng ông đã tìm được
cho ông một lối thoát, sau khi đã trải qua đau khổ đến tột độ: thể xác
nứt nẻ, nhức nhối vì bị gặm nhấm, rút tỉa bởi con máu độc hại của chứng
bệnh nan y; bị bỏ đói khát lạnh lẽo, cô độc trong một nơi cách biệt đến
trở thành câm nín. Bao nhiêu tháng ngày đau đớn oằn oại mà ông phải chịu
đựng từng phút từng giây đó không đủ để ông trở thành một triết nhân
hay sao, vả lại ông là một người thâm trầm, hiểu sâu học rộng…Dù sao thì
ông cũng đã vượt thoát được đau khổ và tìm ra cho mình một con đường.
Một ngày nào thoát khỏi gông cùm CS, nếu tấm thân tàn phế của ông còn
hơi thở, thì biết đâu khối óc phong phú và tĩnh đạt của ông sẽ không
giúp ông trở nên bất tử trong lòng mọi người, vì những điều chứa đựng
trong đó sẽ có thể cho chúng ta những hiểu biết về lịch sử Việt Nam —
trong thế hệ chúng ta — một cách xác đáng nhất, tường tận nhất, đáng suy
gẫm nhất vì sao chúng ta đã đau khổ triền miên trong cuộc chiến tranh
tàn khốc dai dẳng vừa qua. Hay xa hơn nữa, biết đâu ông cũng có thể cho
chúng ta một triết lý nhân sinh rút tỉa từ kinh nghiệm bản thân ông, khả
dĩ giúp được nhiều người tìm ra sự an bình trong tâm hồn ở cuộc sống
nhiều đau thương này.
Tôi
yên tâm phần nào về ông, vì tôi biết, dù ông là kẻ chiến bại trong cuộc
sống, nhưng lại là người chiến thắng chính bản thân mình. Còn tôi, ông
đã nói cho tôi biết bằng ánh mắt, là ông thương cảm cho tôi, vì hình như
ông biết rõ tôi đã và đang còn mù mờ, quờ quạng trong đáy ngục, trong
lưu đày. Tôi chưa nghĩ gì cho hôm nay và cho ngày mai hơn là phải sợ
lao động nặng nhọc sáng nay hay sợ bị đói lạnh chiều nàỵ Tâm trí, tư duy
của tôi là một thứ bòng bong.
Tôi
phải gặp lại ông, tôi phải học tấm gương của ông, phải biết nhận chịu
cái đau buốt tận xương tủy, để nghiền ngẫm về lẽ sống và tìm cho mình
một con đường thích hợp nhất mà bước đi. Từ ngày đó tôi định bụng hôm
nào thuận tiện tôi sẽ đi tìm ông, vì ông ở phòng “cách ly” không phải
lúc nào cũng tự tiện mà đến được. Cán bộ Công an trại giam cấm ngặt mọi
tù nhân đến đó. Trong mấy ngày liền, sau các buổi lao động xong về trại,
tôi đi theo các bạn lãnh cơm lên phạn xá, lảng vảng đến gần căn phòng
cách ly mong nhìn thấy ông để đến gặp, nhưng lần nào cũng trở về không.
Rồi một buổi chiều tôi trở lại đó, từ xa tôi đã thấy ông sau song cửa
sổ, mắt đang nhìn ra xa xôi… cao hơn bờ tường rào của trại trước mặt
ông.
Tôi
muốn nhìn ông cho rõ hơn nên bước thêm mấy bước nữa rồi dừng lại. Một
chập rất lâu, ánh mắt ông vẫn thế, không thay đổi hướng. Ở hướng đó, mặt
trời chiều đã xuống thấp, nắng đã nhạt, mấy áng mây thật mỏng, ráng
hồng, còn vơ vẩn, rồi bỗng như bị gió giật xé, tan ra. Tôi chợt thấy ông
rùng mình. Tôi tự nghĩ: “Chẳng lẽ mình nhầm hay sao khi nhận xét về ông
ở buổi đầu tiên?” Không do dự nữa, tôi bước đến gần, đứng ngoài sân,
trước hành lang, chào ông và khẽ hỏi:
-“Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không?”
Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lời. Đôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôi.Thầy.Thầy ơi! Tôi đã hiểu rồi. Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôi. Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không? Thôi thì tôi cứ nói.
-“Chào Thầy, hôm nay Thầy có khoẻ hơn không?”
Ông quay lại nhìn tôi, nhẹ gật đầu nhưng không trả lời. Đôi mắt ông lại hướng về góc trời có một bóng mây vừa tan, một thoáng như mờ đi, như nghĩ ngợi, rồi chợt sáng hẳn ra nhìn thẳng hơn vào mắt tôi.Thầy.Thầy ơi! Tôi đã hiểu rồi. Tôi đã hiểu trong lòng Thầy nghĩ gì và Thầy muốn gì ở tôi. Lòng tôi trong một phút cảm thấy đau điếng.Tôi có nên nói đến những điều này cho các bạn nghe hay không? Liệu các bạn có tin rằng tôi nói bằng sự thật, bằng tấm lòng của tôi hay không? Thôi thì tôi cứ nói.
Ông đã cảm nhận được định mệnh của ông rồi. Hơn ai hết, ông hiểu rõ
tình trạng sức khoẻ của ông. Ông chỉ sợ mình như ráng mây mong manh kia,
sẽ phải tan rã mất đi vội vàng. Thời gian quí báu không còn nữa đối với
ông, ngọn đèn hắt hiu trong tim ông sắp tắt, nhưng ngọn lửa lớn trong
óc ông, đang rực sáng, không có chỗ thoát ra. Bốn bức tường của nhà giam
này thật cay nghiệt; cái hoài bão của ông, niềm ấp ủ đã hình thành
trong tâm não ông cũng sẽ tan biến mà thôi. Ông không sợ bản thân ông bị
tiêu hủy, ông chỉ sợ những điều đó bị tiêu diệt, tôi nghĩ như vậy. Với
ánh mắt nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi nhận ra hình như ông muốn ủy thác
cho tôi một việc gì đó sau này –khi tôi ra khỏi bốn bức tường của trại
giam– chẳng hạn như sẽ thay ông viết lên những gì mà ông muốn để lại cho
những thế hệ tương lai. Nếu quả thật điều này tôi đoán đúng, tôi cam
đành chịu sự thất lễ đối với ông. Dù tôi hiểu ông, nhưng làm sao tôi có
thể hiểu tường tận những gì tách bạch định hình trong tư tưởng của ông.
Ông đã nghĩ gì, ông đã biết những gì –hẳn nhiên là phải rộng lớn và khúc
chiết– ông muốn viết những gì, làm cách nào tôi có thể biết được. Vả
lại, những thứ ấy là những điều mà ông phải phấn đấu thật cam go với
bệnh tật, với chính mình bao nhiêu năm trời, chịu đựng vô vàn đau đớn
tủi nhục từ thể xác đến tâm não mới có được. Nó là của riêng ông. Làm
sao tôi có thể cảm nhận được hết, khi mức độ thương đau của tôi có hạn;
làm sao tôi có thể viết những điều ấy thành lời.
Sở năng của ông là viết sử. Ngay ở công việc này, nếu tôi có hiểu biết
một đôi điều, thì với khả năng của tôi, tôi cũng không thể thay ông mà
viết nổi hết cái cao xa rộng lớn của ông, cái sâu sắc phong phú của ông,
cái chiết trung tinh túy của ông, cái kinh nghiệm dồi dào của ông về
những gì phức tạp nhất, nhiêu khê nhất, khuất lấp nhất của lịch sử ở
thời đại nhiễu nhương này. Nếu tôi cần thời gian để có được những ưu
điểm trên đây như ông, thì sẽ bao lâu. Có lẽ suốt đời đến khi nhắm mắt,
tôi cũng không có được. Hôm trước tôi gọi ông bằng “Thầy” để tránh tiếng
gọi cấp bậc đã trở thành “không thích hợp” nữa. Hôm nay, tôi cũng gọi
ông bằng chữ đó, cùng nghĩa. Xét cho cùng, tôi chưa đáng là học trò của
ông trên nhiều phương diện. Tôi đành cam chịu sự bất lực rồi. Cái hy
vọng giữ được cuộc sống của ông thật mong manh, cái hy vọng giữ sự hiểu
biết trong trí não ông cũng không thể có… Rồi cát bụi sẽ trở về với cát
bụi mà thôi…Bỗng nhiên tôi nghe mấy giọt nước mắt lăn trên má tôi.
Ông nhìn tôi lặng lẽ thở dài rồi quay đi…
Tôi
trở về phòng giam của mình với tâm trạng buồn bã, mệt mỏi. Tôi muốn làm
vui lòng cố nhân, muốn làm tròn bổn phận với một cấp chỉ huy tôi quí
trọng, nhất là khi ông đang ở trong hoàn cảnh khốn cùng, nhưng tôi biết
tôi kém tài, thiếu khả năng để khả dĩ hoàn thành sự ký ủy của ông.
Sau buổi chiều đó, lại một đêm và nhiều đêm khác nữa tôi mất ngủ. Dù
ông muốn hay không, tôi cũng thương cảm cho ông, xót xa cho ông. Niềm
trắc ẩn của tôi không ngoài việc tôi biết ông cảm thấy sức khoẻ của ông
đã cạn, ông biết ông sẽ không thể — bằng cách nào đó, phổ cập được những
gì đó thật hữu ích đã kết tinh trong não tủy của ông qua những tháng
ngày đau khổ. Niềm hy vọng cuối cùng là ký thác những điều đó cho một ai
đó có khả năng, cũng đã bị giập tắt. Sự cô đơn của ông bây giờ đã hoàn
toàn. Tất cả đã quay lưng lại với ông. Bên ông có lẽ chỉ còn Thượng Đế
là vị an ủi, là vị cứu tinh cuối cùng mà thôi. Con người đã không còn
trong tầm mắt và niềm hy vọng của ông nữa, mãi mãi…
Sau
đó không lâu, một buổi tối, bọn cán bộ trại tổ chức buổi chiếu bóng
ngoài trời cho tất cả tù nhân xem ở cái sân rộng lớn giữa trại. Đêm ấy,
trời đầy trăng sáng trong sương đêm loang loáng của mùa Đông. Hơn một
nghìn tù nhân được xếp hàng ngồi theo đội của mình trong sân. Tuy nhiên,
mọi người khi cần thiết cũng có thể tách ra đứng lên đi tiểu ở một vài
nơi mà cán bộ trại giam CS đã chỉ định trước. Một nơi như vậy nằm bên
trong bờ tường của phạn xá. Đây là cơ hội may mắn cho tôi. Khi phim
chiếu được chừng một giờ –phim gì đó, tôi không còn nhớ– tôi đứng lên đi
về phía ở bờ tường vào phạn xá, đến chỗ đi tiểu. Nhìn không có ai, tôi
bước thêm mấy bước nữa, dừng lại. Chỗ tôi đứng chỉ còn cách căn phòng
nơi ông ở không đầy mươi bước. Tôi không có ý định gặp ông, chỉ muốn
nhìn thấy ông mà thôi, và tôi đã nhìn thấy. Ông đứng bên trong cửa sổ, ở
đó có ánh đèn le lói hắt ra, đang nhìn lên khung trời đầy ánh trăng
bàng bạc trong sương. Giờ đó cũng gần khuya, ông vẫn thức, đứng nhìn
trăng, nhìn trời. Tôi đã hiểu rõ hơn tâm sự của ông. Tôi đứng nhìn ông
một lúc khá lâu, rồi sợ bị bọn cán bộ bắt gặp, tôi quay trở ra về chỗ
ngồi của các bạn cùng đội và không xem gì được nữa ở những thước phim
tuyên truyền còn lại. Tôi lơ đãng ngắm nhìn những vì sao xa xa, ngắm vần
trăng nhàn nhạt trên nền trời nhiều sương lành lạnh, diệu vợi, buồn man
man.
Đêm
trăng là khung trời của Hàn Mặc Tử, vầng trăng và ánh trăng là thơ của
Hàn Mặc Tử, không phải của ông. Ông không là một thi nhân, ông là một
nhà viết sử. Trăng đã thức trong máu để Hàn Mặc Tử làm thơ và ngâm thơ.
Trăng đã thức trong máu của ông, chỉ để ông thấy nỗi cô đơn của ông thấm
đậm hơn mà thôi. Hàn Mặc Tử, ở những ngày cuối cùng của cuộc đời, còn
nói lên được, còn viết lên được những điều muốn nói, những điều muốn
viết, trong sự yêu chìu an ủi của một người đẹp yêu ông. Ông ta thật có
diễm phúc so với nhà viết sử Phạm Văn Sơn. Vị sử gia của tôi trong những
giờ phút cuối cùng này còn có ai đâu. Ông bị cách ly thân thể, bị chối
bỏ tình cảm, tuyệt nguồn tâm sự đến trơ trọi cả linh hồn. Ngày xưa, vua
Hezekiah của Do Thái –trong Thánh Kinh– hơn mười mấy năm bị phong hủi
cũng không cô đơn bằng ông, vì ông vua này vẫn sống trong hoàng cung
lộng lẫy với hằng trăm cung tần mỹ nữ hầu hạ. Có lẽ chỉ một người chịu
sự cô đơn như ông là một vị bác sĩ nào đó –một nhân vật có thật — trong
tác phẩm “Kẻ Độc Hành” (Man Who Walks Alone) của một nhà văn
Mỹ, tôi đã quên tên, đã hy sinh suốt quãng đời đẹp đẽ nhất của mình,
tình nguyện đến một phương trời xa, phục vụ một trại hủi để chữa trị
bệnh nhân bằng sự hiểu biết và lòng tận tâm của mình, cho đến một ngày
chính ông ta bị truyền nhiễm chứng bệnh nan y này. Khi trở lại quê
hương, ông lại bị hất hủi, bị bỏ quên, cô đơn như một kẻ độc hành trong
cõi đời tưởng chừng như hoang vắng. Dù sao vị bác sĩ đó cũng đã làm tròn
thiên chức của mình, đã hưởng được sự tự do để suy gẫm về cái triết lý
của cuộc sống và đã không uổng công viết lại được hồi ký về cuộc đời
nghiệt ngã của mình. Còn ông, nhà viết sử của chúng ta, ông đã cô đơn
bốn bề ở kiếp con người. Loài người dưới đất quên lửng ông, trăng sao
trên trời xa lạ với ông.
Ông là kẻ cô đơn nhất trong loài người…ở những giờ phút sau cùng của đời người.
Đêm trăng này hay bao nhiêu đêm trăng nữa sẽ cho ông nhìn thấy gì, hay
ông chỉ nhìn thấy sự hoang mạc đến tận cùng của cuộc đời ông trong những
ngày còn lại. Hay hơn thế nữa, ông sẽ nhìn thấy nỗi tuyệt vọng vừa nhen
nhúm trong tâm sự ông, về sự không thể làm tròn thiên chức của mình, sẽ
lớn dần lên, sẽ còn đày đọa ông không biết bao lâu nữa. Đêm không ngủ
dưới trăng kia có ích lợi gì cho ông không?!.
Thì ra tâm sự con người thật phức tạp trước những sự kiện tưởng chừng
như vô tình nhất, giản dị nhất. Lần đầu tiên sau khi gặp lại ông, tôi
tưởng ông đã yên tâm vì đã tìm cho mình được một con đường, một chân lý,
đến độ khi nhìn ông tôi cũng cảm thấy yên tâm. Hôm nay, bởi những sự
kiện mới mẻ tưởng như vô tình, tôi mới biết ông vẫn còn ưu tư khoắc
khoải, nên lòng dạ tôi xốn xang vô cùng. Tôi đã ngu muội và thật thà ở
buổi chiều hôm trước, vì vô ý thức, tôi đã đẩy tình trạng cô đơn của ông
đến cao độ nhất, bởi sự phản ứng tự nhiên, chân tình bằng mấy giọt nước
mắt dại khờ, non nớt, rơi không đúng chỗ, đúng
lúc… Một giọt nước đã làm tràn miệng bát.
Đáng
lẽ tôi phải tế nhị giữ nó lại, tìm cách an ủi ông. Biết đâu niềm hy
vọng vẫn còn là ngọn lửa, tuy nhỏ nhoi, cũng sưởi ấm lòng ông để ông cảm
thấy mình vẫn còn người tri kỷ, không cô đơn, còn có ý nghĩa với mọi
người. Biết đâu như vậy sẽ làm cho ông yên tâm hơn. Dù cái chết có đến
với ông, bằng cách nào đi nữa, ông cũng cảm thấy ấm cúng trong tâm hồn.
Niềm trắc ẩn xốn xang này đã trở thành sự hối hận triền miên trong tôi
suốt nhiều năm qua, chưa có dịp bộc lộ cùng ai. Tôi thật khổ tâm.
Lúc đó, tôi thầm cầu nguyện Thượng Đế xui khiến cho những người CSVN
thấy rõ chứng bệnh vô cùng hiểm nghèo, nguy ngập của ông mà tha cho ông
ra, cho ông được trở về với gia đình. Đó là con đường duy nhất cứu được
ông, cứu được cái hoài bão mà ông từng ôm ấp bao nhiêu năm qua. Tôi đã
thất vọng, ý trời không phải là ý người. CSVN chỉ hủy diệt những nhân
tài đối lập, không bao giờ nhẹ tay với một ai…
Rồi việc gì phải đến, đã đến.
Một ngày, chưa hết mùa đông, đầu năm 1980 (tôi không nhớ chính xác ngày
tháng), buổi sáng sớm lất phất một cơn mưa phùn nhỏ, trời lạnh và đục,
người ta đã đánh kẻng tập hợp tù nhân các đội ra ngoài sân để tuần tự
cho xuất trại đi lao động như thường lệ. Bấy giờ tôi ở trong đội cưa xẻ
gỗ súc của Trại K2/Tân Lập. Đội chúng tôi ra hiện trường làm việc –là
hai dãy nhà lợp tranh, chỉ cách cổng trại vài mươi bước– trong vòng mấy
phút. Mỗi cặp cưa gồm 2 người, tự động vào giàn cưa của mình và xẻ những
thân gỗ lớn thành những tấm ván dày hoặc mỏng dùng để đóng bàn ghế,
vách nhà, sàn nằm trong trại, hay đóng hòm chôn tù nhân, chết bởi nhiều
cách, đa số là chết vì bệnh và kiệt sức. Chừng chín giờ rưỡi hay mười
giờ hôm đó, tôi đến nhận phần sắn phụ trội (đội cưa xẻ thuộc loại lao
động nặng, có thêm một phần ăn phụ trội ở giờ giải lao, nhưng bất
thường) vừa định quay về giàn cưa mình thì anh bạn hôm trước đi lãnh cơm
với tôi, hôm nay vừa đi lãnh sắn ở nhà bếp, nói nhỏ vào tai tôi:
– “Tin buồn!”
Tin buồn
có nghĩa là trong anh em của chúng tôi có thêm một người vĩnh viễn nằm
xuống, cũng có nghĩa là đội của chúng tôi phải xẻ thêm những tấm ván để
đóng chiếc hòm tạm bợ bọc xác bạn bè, một điều không ai muốn, nhưng ai
cũng tình nguyện làm để biểu lộ lòng thương xót với người đã ra đi. Biết
đâu rồi ngày nào cũng đến lượt mình. Tâm lý trái ngược đa đoan là thế
đó.
Tôi nghe anh nói xong, định hỏi xem là ai, nhưng anh đã bảo tôi:
– “Đi đi..!”
Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đã thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe:
– “Đại tá Sơn, “boss” cũ của anh, chết rồi!”
Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh: – “Anh nói… ai chết rồi, tại sao, hồi nào?” Anh buồn bã thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp: -“Sáng nay, sau khi các đội đã xuất trại hết, ‘tụi nó’ ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than đá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy thì kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá thì chỉ mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, hình như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết… “
– “Đi đi..!”
Trở về chỗ, vừa ngồi xuống đã thấy anh theo đến, ngồi sát bên, nói vừa đủ cho tôi nghe:
– “Đại tá Sơn, “boss” cũ của anh, chết rồi!”
Tôi sững sờ, tưởng chừng như ai tạt một gáo nước lạnh vào mặt, hỏi lại anh: – “Anh nói… ai chết rồi, tại sao, hồi nào?” Anh buồn bã thuật lại câu chuyện anh vừa nghe ở nhà bếp: -“Sáng nay, sau khi các đội đã xuất trại hết, ‘tụi nó’ ra lệnh cho ông đem giỏ ra sân mang than đá vào bếp trại như những ngày trước. Không biết ông bưng vác đến giỏ thứ mấy thì kiệt sức, hộc máu tươi, ngất xỉu bất tỉnh. Khi chúng hay được cho mang ông lên bệnh xá thì chỉ mấy phút sau ông mất; cả người nhầy nhụa máu me, hình như bao nhiêu máu mủ trong các phần thân thể lở lói tuôn tràn ra hết… “
Anh nói tiếp:
-“Giờ này có lẽ họ đã đem ông xuống nhà xác rồi!” Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm gì nữa. Tôi như một kẻ mất hồn.
-“Giờ này có lẽ họ đã đem ông xuống nhà xác rồi!” Anh lặng lẽ bỏ đi, không nói thêm gì nữa. Tôi như một kẻ mất hồn.
Tôi đã hiểu…
Từ
lâu nay, thỉnh thoảng chúng tôi thấy một chiếc xe tải chở vào trại loại
than đá vụn vo thành viên tròn to như những trái “poids” lớn, dùng làm
chất đốt ở bếp. Mỗi lần như vậy, họ đổ than đá ở phần sân ngoài bức
tường, trước cửa vào nhà bếp. Bọn cán bộ ra lệnh cho ông hằng ngày dần
dà chuyển hết những đống than đá đó vào bếp, trừ trường hợp trời mưa,
phải chuyển gấp, chúng cho người phụ. Như vậy, một người bệnh trầm kha
như ông vẫn bị chúng vắt sức lao động đến giọt máu cuối cùng. Hôm nay
ông đã ngã xuống như trăm ngàn nạn nhân khác dưới chủ trương giết người
siêu dã man này trong các trại giam CSVN.
Sau buổi giải lao, tất cả anh em trong đội cưa xẻ đều biết về cái chết
thảm thương của ông. Ông đã mất rồi, đã về cõi thiên đường, đã mang theo
sự chịu đựng và sự hiểu biết của ông vốn dĩ không hề tưởng là đã có
trong con người mang nhục thể. Cái gì của Thượng Đế trả về cho Thượng
Đế.
Người
ta ra lệnh xẻ gỗ đóng quan tài cho ông. Tôi nhận việc ấy với những giọt
nước mắt chảy dài trên má. Chỉ còn một chút đáp đền này thôi, cố nhân
ơi…
Văn Nguyên Dưỡng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét