Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

NỖI ĐAU CHUNG - Vĩnh Nhất Tâm

NỖI ĐAU CHUNG
Nỗi đau dân tộc luôn dai dẵng,
Từ thuở tranh nhau giữ lấy ngôi.
Thế đứng nước Nam chưa nắm vững.
Sang Tàu (*) cầu cứu nhục thì thôi.

Sử thần ghi lại: Mang ra viết...
Chẳng luận thế nào phải trái chăng?
Chữ tốt văn hay đều lợi, hại!
Xét cho cùng tận ở tài năng?

Trạng-sư Giáp Hải lừng danh tiếng!
Tướng giặc nhà Minh: Mao Bá Ôn.
Cao ngạo xem thường chưa đọ sức!
Xướng thơ, nghe Họa mới kinh hồn.

Bên kia bờ ải Nam Quan ấy!
Thơ Họa, Trạng-sư của nước Nam.
Nhận thức rằng mình chưa biết hết!
''Núi cao hơn núi...'' mới hoang mang:
@
".......................................................
Nào biết nơi tan duy biết tụ
Chỉ hay khi nổi nọ hay chìm
Giữa thời giống tố thình lình nổi,
Quét bạt ra khơi hết kế tìm! (*)''
.......................................................
''Sóng dồn ngàn lớp không xô vỡ
Sóng dập muôn cơn khó đánh chìm
Rồng cá ít nhiều nương dưới đó
Cần câu Lã Vọng hết mong tìm! (*)
@
Sao trời cả vạn làm sao đếm
Tơ tưởng vu vơ chuyện nước nhà?
Không nắm vững vàng khi luận sử.
Mới ra nông nổi bán giang hà!

Rước Mao, thỉnh Marx làm tối tớ,
Bán đứng Hoàng Trường; chia Bắc Nam.
Bán đợ Tây Nguyên cho giắc Hán,
Ngoảnh về đất nước, nước tan hoang!

Dòng thơ chia sẻ chung thân phận,
Tất cả đồng tâm chẳng luận bàn...
Lên án Việt gian phường bán nước
Mong ngày giải phóng cứu giang san.

Vĩnh Nhất Tâm

(*) ''...Vua sai Trịnh Duy Liệu sang nhà Minh tâu rằng vì Mạc Đăng Dung tiếm loạn, chiếm giữ kinh thành, ngăn trở đường đi nên bỏ lâu việc tiến cống (Minh sử Q. 321, và Cương mục đều chép, việc bọn Trịnh Duy Liệu sang nhà Minh vào năm Gia Tịnh thứ 16 tức năm Nguyên Hòa 5 (1537). Đoàn này đi thuyền buôn từ Chiêm Thành, vượt biển , sau hai năm mới đến Yến Kinh)'' (Trích từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
(*) Thơ Xướng của Mao Báo Ôn danh thần nhà Minh.
Ắ* Thơ Họa của Trạng-sư Giáp Hải nước Nam.

Phần dưới Nhất Tâm chỉ trích dẫn từ Việt Sử Tân Biên của Sử-gia Phạm Văn Sơn. Một nhà viết sử mà Bắc-phủ biệt giam vào tù ''cải tạo'' sau những năm kiệt sức và tạ thế vào sau Quốc Nạn 30.04.1975. Nhưng những pho sử của Ông vẫn còn cho chúng tìm tòi học hỏi thêm về Sư-nhà:

'''''...Theo Việt Nam Sử Lược(trang 273); ''Đến tháng 11năm Canh Tị (1940), Mạc Đăng Dung thấy quân Minh sử soạn sang đánh, sợ hải quá chừng, bèn dể Mạc Phúc Hải, ở lại giữ nước, rồi cùng bọn Vũ Như Quế cả thaảy hơn 10 người tự trói mình ra đầu hàng, sang chịu tội ở cửa Nam Quan, lạy phục xuống đất dể nọp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dân năm động: ..., lại đem vàng bạc dành riêng cho nhà Minh.
''Quan nhà Minh ty làm bộ hống hách nói đem binh sang đánh nhưngcũng sọ phải cái vạ như mấy năm bình định ngày trước, vả lại được tiền bạc của Mạc Đăng Dung rồi, cái lòng vị quốc cũng nguội đi cho nên mới tâu với vua Minh xin cho Minh làm chức Đô-thống-sứ hàm quan nhị phẩmnhà Minh...."
Một sự kiện cần được chú ý để hiểu rõ thái độ của triều Mạc khi nhà Minh sai Cừu Loan và Mao Bá Ôn đem quân sang Việt Nam vào năm Đinh Dậu, tức là năm 1537 (ba năm trước khi Mạc Đăng Dung thân đại diện gặp các đại diện Minh triều), lúc nghe tin Minh dấy quân, triều Mạc chỉ cử một phái đoàn ngoại giao doNguyễn Văn Thái cầm đầu. Sử không chép phái đàon này đã thu xếp cách nào mà việc binh giữa Tàu và ta lại êm hẳn được 3 năm rồi mới tới Canh Tí (1540) lại thấy Minh đem quân sang ta"".

Nhất Tâm không dám tranh luận đến sử không khéo khi chình mình lại chưa nắm vững lại bị lún sâu vào thành ngữ: ''múa rìu qua mắt thợ''. Nhất Tâm chỉ mạo muội chia sẻ với các bạn trẻ, và cũng thiết nghĩ rằng viết gì liên quan đến sử nên thận trọng để lớp trẻ không nhầm lẫn giữa phải trái của nội tại vấn đề mà thôi. Vì trong giai đoạn này điều tiên quyết, chúng ta hãy lên án tội phản quốc và rước thù truyền kiếp, mà giao sông núi cho Tàu cộng hay gọi một cách khác là cho Đại Hán để phản Đại Việt, như HCM và đảng Việt gian, là nhiệm chung của dân tộc Việt, bởi vì: NƯỚC MẤT LÀ NHÀ MẤT.

Trân trọng,

Nhất Tâm 12.04.2013

Không có nhận xét nào: