Ngày 24/11/2010, Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC) được Quốc hội
thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/7/2011. Luật này thay thế Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án hành chính (Pháp lệnh TTGQCVAHC) ban hành năm
1996 được sửa đổi bổ sung trong các năm 1998, 2006.
Thời hạn khởi kiện theo Luật TTHC nói chung là 1 năm tính từ ngày
nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi hành chính, trong khi Pháp
lệnh TTGQCVAHC quy định thời hiệu khởi kiện là 30 hoặc 45 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại.
Liên quan đến những hành vi hành chính, quyết định hành chính về quản
lý đất đai bị khiếu nại trước ngày Luật TTHC có hiệu lực, Nghị quyết số
56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội được ban hành để thi hành
Luật TTHC đã quy định cụ thể tại Điều 3 như sau:
“Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu
lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính,
hành vi hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến
ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã
được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định
của Luật tố tụng hành chính.”
Trước đây, Pháp lệnh TTGQCVAHC liệt kê tại Điều 11- khoản 17 những
khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, nhưng đã liệt kê không đầy đủ.
Ví dụ: Khiếu kiện các quyết định, hành vi hành chính cưỡng chế thu hồi
đất đã không được coi thuộc thẩm quyền của tòa án hành chính. Khi các cơ
quan hành chính giải quyết hoặc thậm chí không giải quyết các khiếu nại
của người dân, doanh nghiệp liên quan đến cưỡng chế thu hồi đất, người
dân dù không đồng ý cũng không được khởi kiện tại tòa án. Số lượng khiếu
nại về cưỡng chế thu hồi đất đã gia tăng trong thời gian qua, và việc
giải quyết những khiếu nại này đã bế tắc cho đến khi Luật TTHC có hiệu
lực, gây bức xúc trong nhân dân, và gây ảnh hưởng xấu trong xã hội. Luật
TTHC đã khắc phục tình trạng trên, quy định hầu hết khiếu kiện quyết
định hành chính, hành vi hành chính (trong đó cả trong lĩnh vực quản lý
đất đai) thuộc thẩm quyền của tòa án (trừ một số trường hợp thuộc phạm
vi bí mật Nhà nước). Đồng thời với Điều 3 của Nghị quyết số 56/2010/QH12
nêu trên đã tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đã khiếu nại
những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong thời gian từ ngày
1/6/2006 – 30/6/2011.
Đáng tiếc, một quy định rất quan trọng như trên đã không được phổ
biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thậm chí nhiều
chuyên gia pháp lý, kể cả luật sư, cán bộ cơ quan nhà nước có thẩm quyền
(bộ phận tiếp dân và thanh tra chính quyền các cấp, các cơ quan Tài
nguyên và Môi trường, Tòa án các cấp), các phóng viên về mảng nội chính,
các báo Pháp luật cũng chưa nắm rõ quy định này. Chỉ còn hơn 2 tháng
nữa là hết thời hạn khởi kiện đối với những quyết định hành chính, hành
vi hành chính bị khiếu nại trước ngày 1/7/2011. Sau ngày 30/6/2012,
những người dân và doanh nghiệp liên quan nếu không thực hiện quyền khởi
kiện trước hạn trên họ sẽ bị mất quyền và lợi ích hợp pháp trong những
vụ việc liên quan, vì nhiều cơ quan có thẩm quyền và tòa án sẽ dựa vào
quy định trên để từ chối giải quyết các đơn khiếu nại và khởi kiện của
họ.
Về việc khởi kiện đối với những hành vi hành chính, quyết định hành
chính loại này, ngày 29/07/2011, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối
cao ban hành Nghị quyết số 01/2011/NQ-HĐTP “Hướng dẫn thi hành một
số quy định của Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội
về việc thi hành Luật tố tụng hành chính”, có quy định tại Điều 4:
“Điều kiện thụ lý khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
về quản lý đất đai quy định tại Điều 3 NQ số 56”
1 – Toà án chỉ thụ lý giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính về quản lý đất đai (nội dung quản lý nhà nước về đất
đai được quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật đất đai năm 2003) quy định
tại Điều 3 NQ số 56 khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Việc khởi kiện được thực hiện trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (ngày 01-7-2011);
b) Người khởi kiện đã thực hiện việc khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01-6-2006 đến ngày
Luật tố tụng hành chính có hiệu lực (ngày 01-7-2011) mà khiếu nại không
được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng họ không đồng ý với việc
giải quyết khiếu nại và họ chưa khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án
nhân dân hoặc đã khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nhân dân, nhưng
Toà án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án hành
chính theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án hành chính.
2- Đối với trường hợp Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải
quyết vụ án nêu tại điểm b khoản 1 Điều này và đương sự có đơn khởi kiện
thì Tòa án căn cứ vào Điều 3 NQ số 56 để thụ lý giải quyết.
3- Khi thụ lý giải quyết các khiếu kiện quy định tại Điều 3 NQ số 56
và được hướng dẫn tại khoản 1 Điều này, ngoài việc yêu cầu đương sự cung
cấp chứng cứ theo quy định tại Điều 72 của Luật tố tụng hành chính thì
phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh
cho việc họ đã thực hiện việc khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương từ ngày 01-6-2006 đến ngày Luật tố
tụng hành chính có hiệu lực. Trường hợp người khởi kiện không thể cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc họ đã thực hiện việc
khiếu nại thì Toà án yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ về việc người khởi kiện đã thực
hiện việc khiếu nại và hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có). Trường hợp
cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thông báo là người khởi kiện
chưa thực hiện việc khiếu nại thì Toà án không thụ lý giải quyết.
Như vậy, người dân và doanh nghiệp cần lưu ý đến thời hạn 30/6/2012,
nếu họ không đồng ý với những quyết định hành chính, hành vi hành chính
trong lĩnh vực đất đai được ban hành trước ngày 1/7/2011. Họ cần chú ý,
họ phải có bằng chứng đã khiếu nại những quyết định hành chính, hành vi
hành chính này trong thời gian từ ngày 1/6/2006-1/7/2011. Bằng chứng
được thể hiện như giấy báo phát của bưu điện, giấy biên nhận của cơ quan
bị kiện, cơ quan tiếp dân hoặc thông báo của những cơ quan này về việc
đã nhận khiếu nại, quyết định giải quyết khiếu nại…Trong trường hợp họ
không lưu được những giấy tờ biên nhận này, sẽ khó khăn cho họ trong
việc khởi kiện.
Chúng tôi đề nghị các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, giới luật sư, luật gia cần nhanh chóng phổ biến
những nội dung Nghị quyết đã nêu trên của Quốc hội và Tòa án nhân dân
tối cao, để người dân và doanh nghiệp biết được quyền khởi kiện của mình
và không vì sự thiếu hiểu biết mất đi quyền khởi kiện để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
Mặt khác, chúng tôi kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét đề
nghị Quốc hội gia hạn thời hạn trên thêm 6 tháng, vì các cơ quan chức
năng đã có thiếu sót không phổ biến rộng rãi quy định quan trọng này cho
nhân dân. Nếu chỉ vì thiếu sót từ các cơ quan nhà nước, người dân và
doanh nghiệp không biết quyền của mình, bị mất quyền khởi kiện, mất cơ
hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, rõ ràng trách nhiệm thuộc về Nhà
nước.
Luật sư Trần Vũ Hải
Nguồn: Anhbasam
THEO DÒNG SỰ KIỆN:
- Nhìn lại vụ Tiên Lãng 2012 tiếc cho sự kiện Thái Bình 1997
- Cô gái “bí mật” trong phòng LS Hà Vũ khởi kiện
- LS Hà Vũ khởi kiện thủ tướng
- Thầy Đỗ Việt Khoa khởi kiện báo ANTG và trung tướng C.A Hữu Ước
- Linh mục Lý khởi kiện nhà nước VN ra Tòa án Nhân quyền Quốc tế.
- Những bí mật của hoa khôi Học viện Cảnh sát

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét